Phát triển nguồn nhân lực khoa học xã hội và nhân văn chất lượng cao theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đặt phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia vào vị trí “đột phá quan trọng hàng đầu”. Trong tiến trình đó, nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là một điều kiện bảo đảm mà là chủ thể tạo ra tri thức, chuyển hóa tri thức thành năng lực phát triển và giúp xã hội thích ứng với những biến đổi nhanh của kỷ nguyên số. Đối với khoa học xã hội và nhân văn, yêu cầu này đặt ra một câu hỏi rộng hơn việc gia tăng số lượng người có học vị cao: cần hình thành đội ngũ nhà khoa học có chuyên môn sâu, năng lực số và dữ liệu, tư duy liên ngành, khả năng hội nhập quốc tế, năng lực tư vấn chính sách và chuẩn mực liêm chính khoa học.
1. Nghị quyết 57-NQ/TW và yêu cầu về phát triển nhân lực khoa học xã hội và nhân văn
Trong tiến trình phát triển đất nước, khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) có vị trí đặc biệt trong việc nhận diện quy luật vận động của xã hội, lý giải các biến đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa và con người, cung cấp luận cứ khoa học cho hoạch định chính sách, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử, văn hóa, bản sắc dân tộc. Nếu khoa học tự nhiên và công nghệ tạo ra nhiều công cụ, sản phẩm và năng lực vật chất mới, thì KHXH&NV góp phần quyết định việc con người và xã hội sử dụng những thành tựu đó như thế nào, theo những mục tiêu và giá trị nào.
Ý nghĩa này càng trở nên rõ nét trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, khi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu của mô hình tăng trưởng. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trình độ cao và có cơ chế, chính sách đặc biệt về nhân tài. Đáng chú ý, Nghị quyết dành riêng một nhóm nhiệm vụ cho “phát triển, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài”, gắn đào tạo với thu hút, sử dụng và tạo môi trường phát triển cho đội ngũ khoa học.
Một trong những điểm có ý nghĩa của Nghị quyết 57-NQ/TW là xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một cuộc cách mạng có tính toàn diện, không giới hạn trong các lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ. Nghị quyết xác định nhà khoa học là nhân tố then chốt, đồng thời yêu cầu Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để phát triển khoa học, công nghệ và nhân lực trình độ cao. Mục tiêu đến năm 2030, nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt 12 người/10.000 dân; số công bố khoa học quốc tế tăng bình quân 10%/năm; hệ thống tổ chức khoa học, công nghệ được sắp xếp theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo[1].
Đối với KHXH&NV, cần hiểu những mục tiêu trên theo một cách rộng hơn. Giá trị của nghiên cứu xã hội và nhân văn không phải lúc nào cũng biểu hiện trực tiếp dưới dạng bằng sáng chế hay sản phẩm công nghệ. Một nghiên cứu lịch sử có thể tạo ra cơ sở dữ liệu di sản; một nghiên cứu xã hội học có thể cung cấp bằng chứng cho chính sách an sinh; một nghiên cứu kinh tế có thể góp phần thiết kế thể chế; nghiên cứu quan hệ quốc tế có thể cung cấp luận cứ cho chính sách đối ngoại; nghiên cứu văn hóa có thể trở thành nền tảng cho phát triển công nghiệp văn hóa và du lịch. Vì vậy, nếu chỉ sử dụng những thước đo của khoa học kỹ thuật để đánh giá KHXH&NV, sẽ không phản ánh đầy đủ giá trị và tác động của lĩnh vực này.
Nói cách khác, tinh thần của Nghị quyết 57 đặt ra yêu cầu không phải “công nghệ hóa” KHXH&NV theo nghĩa biến mọi nghiên cứu xã hội thành nghiên cứu công nghệ, mà là hiện đại hóa phương thức nghiên cứu KHXH&NV bằng công nghệ, dữ liệu và phương pháp mới, đồng thời nâng cao khả năng chuyển hóa tri thức thành giá trị xã hội.
Một bước tiến quan trọng trong quá trình thể chế hóa Nghị quyết 57 là Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/10/2025. Luật tạo nền tảng pháp lý mới cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó nhấn mạnh các cơ chế bảo đảm phát triển nguồn lực và thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.
Trên nền tảng đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 263/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, nhân lực, nhân tài và giải thưởng trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây là văn bản có ý nghĩa trực tiếp đối với các viện nghiên cứu công lập, bởi nó mở rộng không gian tự chủ về tổ chức, nhân sự, tài chính và hợp tác quốc tế. Nghị định cho phép tổ chức khoa học và công nghệ công lập sử dụng kinh phí sự nghiệp khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để ký hợp đồng lao động làm công việc chuyên môn trong thời hạn tối đa 36 tháng; đồng thời cho phép thuê chuyên gia, nhà khoa học trong nước và nước ngoài tham gia hoạt động chuyên môn.
Đặc biệt, Nghị định 263/2025/NĐ-CP đã tạo một điểm rất đáng chú ý đối với KHXH&NV khi quy định tiêu chí riêng đối với nhà khoa học trẻ tài năng hoạt động trong lĩnh vực KHXH&NV. Theo đó, người dưới 35 tuổi, có trình độ tiến sĩ và đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định, trong trường hợp hoạt động trong KHXH&NV phải có tối thiểu 5 bài báo trên các tạp chí có ISSN thuộc danh mục tính điểm của Hội đồng Giáo sư ngành, liên ngành, trong đó có ít nhất 3 bài trên tạp chí quốc tế có uy tín. Nhà khoa học trẻ tài năng được ưu tiên tuyển dụng, hỗ trợ hình thành nhóm nghiên cứu mạnh, bố trí kinh phí thực hiện ý tưởng nghiên cứu, ưu tiên thực tập và làm việc ngắn hạn ở nước ngoài, cũng như có thể được xem xét giao chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo[2]. Điểm mới này có ý nghĩa vượt ra ngoài một chính sách ưu đãi cụ thể. Điều này cho thấy KHXH&NV đã được nhận diện trong thiết kế chính sách nhân tài, thay vì chỉ được xem xét theo các tiêu chí vốn thiên về khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ.
Năm 2026, Chính phủ ban hành Quyết định số 604/QĐ-TTg ngày 02/04/2026 đã điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, tiếp tục đặt trọng tâm vào phát triển nhân lực nghiên cứu, nâng cao chất lượng tổ chức khoa học và gắn nghiên cứu với các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội[3]. Đây là một thay đổi rất quan trọng đối với KHXH&NV. Thay vì đặt câu hỏi đơn thuần “có bao nhiêu đề tài?”, cần chuyển sang những câu hỏi: nghiên cứu đã giải quyết vấn đề gì của đất nước? tạo ra cơ sở dữ liệu nào? cung cấp luận cứ gì cho chính sách? đóng góp như thế nào cho giáo dục, văn hóa, quản trị, ngoại giao, phát triển địa phương và đời sống xã hội?
2. Thực trạng nguồn nhân lực KHXH&NV hiện nay
Những số liệu thống kê gần đây cho thấy khoa học xã hội và nhân văn có quy mô nhân lực tương đối lớn trong hệ thống nghiên cứu quốc gia. Theo kết quả điều tra nghiên cứu và phát triển năm 2023, Việt Nam có 173.041 cán bộ nghiên cứu, trong đó 45.382 người thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và 8.810 người thuộc lĩnh vực khoa học nhân văn, tổng cộng 54.192 người, tương đương khoảng 31,3% tổng số cán bộ nghiên cứu của cả nước. Riêng khoa học xã hội chiếm 26,23%, đứng thứ hai trong sáu nhóm lĩnh vực khoa học, chỉ sau khoa học kỹ thuật và công nghệ với 59.982 cán bộ nghiên cứ[4].
Cơ cấu này cho thấy KHXH&NV đang sở hữu một lực lượng nghiên cứu tương đối lớn và có vị trí đáng kể trong hệ thống khoa học quốc gia. Đây là một tiền đề quan trọng, bởi phát triển nguồn nhân lực KHXH&NV chất lượng cao cần có một lực lượng nền tảng, đội ngũ có năng lực nghiên cứu, sáng tạo và tạo tác động cao hơn. Vì vậy, trọng tâm của chính sách nhân lực trong giai đoạn mới không chỉ là tiếp tục gia tăng số lượng nhà nghiên cứu, mà ngày càng phải chuyển sang vấn đề chất lượng, cơ cấu và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực.
Kinh phí đầu tư cho khoa học trong những năm gần đây cũng được chú trọng hơn. Năm 2025, Việt Nam chi 42.784 tỷ đồng cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trong đó nguồn kinh phí xã hội chiếm 67,22%; cùng năm, Việt Nam có 22.316 bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí khoa học và công nghệ quốc tế, đưa mức công bố quốc tế trong 6 tháng đầu năm 2025 tăng gần 9%[5]. Những con số này cho thấy vấn đề phát triển nhân lực KHXH&NV hiện nay không còn chỉ là mở rộng quy mô đội ngũ, mà ngày càng chuyển sang yêu cầu nâng cao chất lượng, năng lực nghiên cứu liên ngành, hội nhập quốc tế và khả năng tạo ra tác động đối với hoạch định chính sách.
Đối với KHXH&NV, một thách thức nổi bật là sự phân hóa giữa một bộ phận nhỏ các nhà nghiên cứu có khả năng tham gia mạng lưới học thuật quốc tế với đông đảo cán bộ còn hoạt động chủ yếu trong phạm vi trong nước. Một số lĩnh vực có lực lượng nghiên cứu lâu năm nhưng gặp vấn đề về kế cận; ngược lại, một số ngành mới cần nhân lực có khả năng kết hợp kiến thức chuyên ngành với dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, phương pháp định lượng, ngoại ngữ và kỹ năng nghiên cứu quốc tế lại chưa hình thành được đội ngũ đủ mạnh. Do đó, phát triển nhân lực KHXH&NV chất lượng cao phải đồng thời giải quyết bài toán kế cận, bài toán chất lượng, và bài toán năng lực mới.
Đặt trong tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, có thể thấy phát triển nguồn nhân lực KHXH&NV chất lượng cao trong giai đoạn mới không thể chỉ hiểu là đào tạo thêm tiến sĩ hay tăng số lượng cán bộ nghiên cứu, mà phải là quá trình tái cấu trúc năng lực của đội ngũ hiện có. Đội ngũ đó cần đồng thời có chuyên môn sâu, năng lực số và dữ liệu, tư duy liên ngành, khả năng hội nhập quốc tế, năng lực tư vấn chính sách và chuẩn mực liêm chính khoa học. Đây mới là sự chuyển đổi về chất phù hợp với yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mà Nghị quyết 57 đặt ra.
3. Từ “nhân lực KHXH&NV” đến “nhân lực KHXH&NV chất lượng cao”
Khái niệm nhân lực chất lượng cao trong KHXH&NV không nên đồng nhất với việc có học vị cao hay số lượng công bố lớn. Một nhà nghiên cứu chất lượng cao trước hết phải có năng lực phát hiện và giải quyết những vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn; làm chủ phương pháp; có khả năng sử dụng dữ liệu và công nghệ; có năng lực công bố và trao đổi học thuật quốc tế; có đạo đức và liêm chính khoa học; đồng thời có khả năng tham gia tư vấn chính sách và chuyển giao tri thức cho xã hội. Có thể nhận diện các nhóm năng lực của nguồn nhân lực KHXH&NV chất lượng cao:

Thứ nhất, năng lực chuyên môn sâu và phương pháp nghiên cứu là nền tảng
Công nghệ không thay thế yêu cầu về nền tảng học thuật. Nhà sử học phải biết phê phán sử liệu; nhà xã hội học phải làm chủ thiết kế nghiên cứu; nhà kinh tế phải hiểu phương pháp định lượng; nhà luật học, triết học, văn hóa học hay ngôn ngữ học đều cần năng lực lý luận và phương pháp của ngành. Vì vậy chất lượng nguồn nhân lực không chỉ ở sức khỏe hay trình độ kỹ thuật mà còn ở khả năng thích ứng nhanh, làm chủ công nghệ, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và sức khỏe tốt. Đối với nhà khoa học, có thể diễn giải thành năng lực chuyên môn đi cùng khả năng thích ứng và trách nhiệm học thuật.
Thứ hai, năng lực nghiên cứu liên ngành
Phát triển nguồn nhân lực với nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ; tăng cường liên kết giữa đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Đây chính là cơ sở để KHXH&NV chuyển mạnh từ mô hình nghiên cứu cá nhân khép kín sang các nhóm liên ngành. Những vấn đề lớn của Việt Nam hiện nay - già hóa dân số, biến đổi khí hậu, đô thị hóa, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển kinh tế số, công nghiệp văn hóa, biến đổi xã hội, an ninh phi truyền thống - đều không thể giải quyết bằng một ngành đơn lẻ. Nhà nghiên cứu KHXH&NV tương lai phải có khả năng làm việc với kinh tế học, luật học, khoa học dữ liệu, môi trường, y tế, công nghệ và quản trị.
Thứ ba, năng lực số và dữ liệu
Cách mạng công nghiệp 4.0 đòi hỏi nhà nghiên cứu chuyển từ kỹ năng truyền thống sang các kỹ năng thúc đẩy quá trình số hóa, tự động hóa. Đây cũng là yêu cầu mới nổi bật từ tinh thần Nghị quyết 57. Nhà nghiên cứu lịch sử cần biết khai thác cơ sở dữ liệu số, số hóa tư liệu và sử dụng công cụ phân tích dữ liệu; nhà xã hội học cần có khả năng xử lý dữ liệu lớn; nhà nghiên cứu văn hóa cần tiếp cận không gian số; nhà nghiên cứu chính sách cần biết khai thác dữ liệu phục vụ đánh giá tác động. Công nghệ vì thế không thay thế năng lực KHXH&NV mà trở thành hạ tầng phương pháp mới của KHXH&NV.
Thứ tư, năng lực hội nhập quốc tế
Ngoại ngữ, công bố quốc tế, tham gia mạng lưới nghiên cứu, hợp tác với các trường đại học và viện nghiên cứu nước ngoài phải trở thành năng lực phổ biến hơn, thay vì chỉ tập trung ở một nhóm nhỏ. Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ là xu thế khách quan; đề xuất tăng trao đổi nhân lực R&D, đào tạo ở nước ngoài, giao lưu quốc tế cho cán bộ nghiên cứu trẻ và thu hút cán bộ nghiên cứu nước ngoài vào Việt Nam. Đối với KHXH&NV, hội nhập không nên được hiểu chỉ là tăng số bài báo quốc tế, mà phải giúp nâng phương pháp, tiếp cận nguồn dữ liệu, tham gia mạng lưới học thuật và nâng khả năng chủ trì các nghiên cứu về Việt Nam trong đối thoại quốc tế. Kết luận sơ kết Nghị quyết 57 năm 2026 nhấn mạnh hợp tác quốc tế phải chuyển từ trọng tâm thu hút vốn sang thu hút tri thức, công nghệ và chuyên gia, gắn với nâng cao năng lực nghiên cứu và làm chủ trong nước[6].
Thứ năm, năng lực chuyển hóa tri thức thành giá trị xã hội
Đối với KHXH&NV cần hướng nhiều hơn tới việc cung cấp bằng chứng cho chính sách, phục vụ phát triển văn hóa, giáo dục, ngoại giao, quản trị quốc gia, phát triển địa phương và xây dựng con người. Nguồn nhân lực KHXH&NV chất lượng cao phải có khả năng đưa kết quả nghiên cứu ra ngoài phạm vi bài báo. Sản phẩm có thể là báo cáo tư vấn chính sách, cơ sở dữ liệu, bộ tiêu chí, bản đồ, từ điển, kho tư liệu số, sản phẩm giáo dục và truyền thông khoa học. Tinh thần này phù hợp với đề xuất trong chuyên đề về việc gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn, tăng kết nối giữa nhà trường - viện nghiên cứu - doanh nghiệp và lấy hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực làm thước đo.
Thứ sáu, liêm chính và trách nhiệm khoa học trong môi trường AI
Trong bối cảnh AI được phổ biến rộng rãi, năng lực tạo văn bản không còn đồng nghĩa với năng lực nghiên cứu, chất lượng khoa học lúc này càng gắn với trách nhiệm học thuật. Nhà khoa học phải có năng lực kiểm chứng, quản trị dữ liệu nghiên cứu, trích dẫn minh bạch, tôn trọng bản quyền và giải trình việc sử dụng AI. Khung pháp lý mới về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng đã đưa liêm chính khoa học, đạo đức nghề nghiệp và chuyển đổi số vào nhóm nội dung cần được quản trị trong hoạt động khoa học[7].
4. Một số định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực KHXH&NV chất lượng cao
4.1. Định hướng chung
Xây dựng hạ tầng dữ liệu và “hạ tầng tri thức” cho KHXH&NV
Nếu Nghị quyết 57 coi dữ liệu là một tư liệu sản xuất quan trọng của nền kinh tế số, thì đối với KHXH&NV, dữ liệu cũng phải trở thành hạ tầng cơ bản của nghiên cứu. Đây là lĩnh vực còn nhiều dư địa để tạo đột phá. Việt Nam có khối lượng rất lớn tư liệu lưu trữ, thư tịch, báo chí, văn bản hành chính, di sản, dữ liệu dân cư, dữ liệu kinh tế - xã hội và các bộ sưu tập hiện vật. Tuy nhiên, dữ liệu nghiên cứu KHXH&NV còn phân tán ở nhiều cơ quan, thiếu chuẩn thống nhất và chưa được liên thông ở mức cần thiết.
Do đó, cần hình thành các nền tảng dữ liệu chuyên ngành quốc gia, trong đó có: cơ sở dữ liệu lịch sử và tư liệu quốc gia; cơ sở dữ liệu dân cư - xã hội phục vụ nghiên cứu; cơ sở dữ liệu văn hóa và di sản; cơ sở dữ liệu về các công trình nghiên cứu KHXH&NV; thư viện số liên thông giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và cơ quan lưu trữ; kho dữ liệu mở phục vụ nghiên cứu sau khi đã xử lý các yêu cầu về bảo mật và quyền riêng tư. Khi đó, đầu tư cho KHXH&NV không chỉ là đầu tư vào “con người”, mà còn là đầu tư vào hệ sinh thái tri thức giúp con người tạo ra nghiên cứu có chất lượng cao hơn.
Nghị định 262/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 14/10/2025, đã cụ thể hóa các nội dung của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo liên quan đến thông tin, thống kê, đánh giá và chuyển đổi số trong hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo[8]. Đây là cơ sở quan trọng để từng bước hình thành hệ thống dữ liệu và phương thức quản trị nghiên cứu phù hợp với môi trường số.
Nghị định số 125/2026/NĐ-CP về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học, có hiệu lực từ 06/4/2026, tiếp tục bổ sung một mắt xích thể chế cho việc gắn nghiên cứu với môi trường đại học[9].
Đổi mới đào tạo: hình thành thế hệ nhân lực KHXH&NV “hai năng lực” - chuyên môn sâu và công nghệ số
Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục củng cố một hướng tiếp cận quan trọng: giáo dục đại học phải là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài và thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ lệ người lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đạt 24%; tỷ lệ người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ đạt ít nhất 35%; có ít nhất 6.000 nghiên cứu sinh và 20.000 người học các chương trình tài năng[10].
Các chỉ tiêu này chủ yếu hướng tới việc bổ sung nhân lực cho khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ, nhưng đối với KHXH&NV, bài học quan trọng là phải tái cấu trúc chương trình đào tạo theo yêu cầu của nền kinh tế và xã hội số, đồng thời không đánh mất nền tảng nhân văn.
Một chương trình đào tạo lịch sử trong giai đoạn mới chẳng hạn không thể chỉ dừng ở phương pháp khai thác tư liệu truyền thống mà cần bổ sung kỹ năng số hóa tư liệu, quản trị dữ liệu, bản đồ số, cơ sở dữ liệu lịch sử và các phương pháp phân tích mới. Đào tạo xã hội học cần tăng cường phương pháp phân tích dữ liệu và khảo sát số. Đào tạo văn hóa cần quan tâm đến kinh tế sáng tạo, công nghiệp văn hóa và truyền thông số. Đào tạo quan hệ quốc tế cần tăng cường phân tích dữ liệu, nghiên cứu định lượng, truyền thông chiến lược và năng lực xử lý thông tin số.
Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn 2045 được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định 1705/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 cũng nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục đại học, tăng cường nghiên cứu khoa học, chuyển giao tri thức và đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân lực đáp ứng nền kinh tế tri thức, kinh tế số và kinh tế xanh[11]. Như vậy, nhiệm vụ của KHXH&NV không phải chạy theo công nghệ, mà là làm chủ công nghệ để nghiên cứu tốt hơn những vấn đề thuộc về xã hội và con người.
Huy động nguồn lực xã hội và mở rộng không gian sử dụng nhân lực KHXH&NV
Một điểm quan trọng khác trong Nghị quyết 57 là yêu cầu huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu tổng chi cho R&D đạt 2% GDP, trong đó nguồn lực xã hội chiếm trên 60%; đồng thời ngân sách nhà nước dành ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Điều này đặt KHXH&NV trước yêu cầu phải mở rộng đối tác ngoài khu vực viện - trường. Nhu cầu nghiên cứu xã hội hiện diện trong doanh nghiệp, địa phương, các tổ chức văn hóa, cơ quan truyền thông, tổ chức quốc tế và các thiết chế hoạch định chính sách.
Các viện nghiên cứu và trường đại học cần chủ động hình thành quan hệ đặt hàng nghiên cứu với địa phương, doanh nghiệp và tổ chức xã hội; phát triển các dịch vụ khoa học như đánh giá chính sách, khảo sát xã hội, nghiên cứu thị trường, đánh giá tác động xã hội, tư vấn văn hóa - di sản, tư vấn phát triển địa phương và đào tạo chuyên môn. Bên cạnh cơ chế thị trường cần duy trì cơ chế nhà nước đặt hàng các nghiên cứu chiến lược và nghiên cứu cơ bản.
4.2. Một số giải pháp cụ thể
Để hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết 57 đối với nhân lực KHXH&NV, cần chuyển từ các giải pháp chung sang một chương trình phát triển nhân lực có mục tiêu và đầu ra cụ thể.
Một là, xây dựng chương trình quốc gia phát triển nhân lực KHXH&NV chất lượng cao. Chương trình cần xác định các lĩnh vực ưu tiên gắn với nhu cầu phát triển đất nước như lịch sử và bản sắc dân tộc; văn hóa và công nghiệp văn hóa; biến đổi xã hội; dân số và già hóa; quản trị quốc gia; pháp luật và thể chế; kinh tế số; quan hệ quốc tế; nghiên cứu khu vực; môi trường và phát triển bền vững.
Hai là, có chính sách mạnh hơn đối với nhà khoa học trẻ. Nghị định 263/2025/NĐ-CP đã tạo nền tảng quan trọng với tiêu chí riêng cho nhà khoa học trẻ tài năng trong KHXH&NV. Bước tiếp theo là biến cơ chế này thành các chương trình thực tế: tài trợ khởi đầu cho nhà khoa học trẻ, hỗ trợ nhóm nghiên cứu, tài trợ sau tiến sĩ, tài trợ công bố và hỗ trợ nghiên cứu ở nước ngoài.
Ba là, xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh theo vấn đề quốc gia. Thay vì chia nhỏ nguồn lực theo đơn vị, cần tập trung nguồn lực cho những nhóm có khả năng giải quyết vấn đề lớn và liên ngành. Cách làm này phù hợp với yêu cầu phát triển nhóm nghiên cứu xuất sắc, nhóm nghiên cứu mạnh được quy định trong Nghị định 263/2025/NĐ-CP.
Bốn là, xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia về KHXH&NV. Đây có thể trở thành một trong những nhiệm vụ có tính đột phá nhất. Khi dữ liệu được số hóa, chuẩn hóa và liên thông, chi phí nghiên cứu giảm, khả năng hợp tác tăng và những nghiên cứu lớn có thể được thực hiện trên quy mô mà phương pháp truyền thống khó đáp ứng.
Năm là, đổi mới cơ chế sử dụng và đãi ngộ nhà khoa học . Quyền tự chủ phải đi cùng trách nhiệm và kết quả. Người làm nghiên cứu thực chất cần có nhiều thời gian hơn cho nghiên cứu, được hỗ trợ hành chính - kỹ thuật và được đánh giá dựa trên kết quả. Các quy định mới về tự chủ tổ chức, tuyển dụng, thuê chuyên gia và cơ chế thu nhập theo kết quả đã tạo cơ sở pháp lý để thực hiện hướng này.
Sáu là, tăng cường thu hút trí thức Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế . Không nhất thiết tất cả chuyên gia phải trở về làm việc toàn thời gian. Có thể phát triển mô hình “nhân sự đồng cơ hữu”, giáo sư thỉnh giảng, nhóm nghiên cứu liên quốc gia, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh và các chương trình nghiên cứu chung. Nghị định 263/2025/NĐ-CP đã ghi nhận cơ chế nhân sự đồng cơ hữu và cho phép tổ chức khoa học và công nghệ công lập mời, thuê chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài.
Tám là, gắn nghiên cứu KHXH&NV với tư vấn chính sách của quốc gia . Đây là điều kiện để chứng minh vị trí của KHXH&NV trong mô hình phát triển mới. Nhà nước có thể đặt hàng các chương trình nghiên cứu về phát triển con người, biến đổi xã hội, văn hóa và bản sắc, phát triển kinh tế số, công nghiệp văn hóa, quản trị quốc gia, chính sách đối ngoại, hội nhập quốc tế và các vấn đề xã hội phát sinh từ quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
5. Kết luận
Nghị quyết 57-NQ/TW mở ra một cách tiếp cận mới đối với phát triển khoa học ở Việt Nam: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn được nhìn nhận như những lĩnh vực kỹ thuật riêng biệt mà trở thành động lực của toàn bộ mô hình phát triển. Trong mô hình đó, con người vừa là chủ thể, vừa là nguồn lực và nhà khoa học là nhân tố then chốt. Đặc biệt, chính Nghị quyết 57 đã đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong mối quan hệ trực tiếp với việc xây dựng các giá trị văn hóa, xã hội và con người Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực KHXH&NV chất lượng cao cần vượt khỏi cách tiếp cận thiên về số lượng học vị hoặc biên chế. Chất lượng cao phải được nhận diện bằng một tổ hợp năng lực: chuyên môn sâu; phương pháp nghiên cứu hiện đại; năng lực số, dữ liệu và AI; tư duy liên ngành; ngoại ngữ và hội nhập quốc tế; khả năng chuyển hóa tri thức thành luận cứ chính sách và giá trị xã hội; cùng với liêm chính và trách nhiệm khoa học.
Trong giai đoạn 2026–2030, đột phá về nhân lực KHXH&NV cần được đặt trên một nền tảng mới: chuyên môn sâu - năng lực số - tư duy liên ngành - hội nhập quốc tế - khả năng tạo tác động xã hội. Cùng với đó là một môi trường nghiên cứu coi trọng tự chủ, trọng dụng nhân tài, bảo đảm nguồn lực, giảm hành chính hóa hoạt động khoa học và đánh giá nhà khoa học bằng giá trị thực của tri thức.
Nếu thực hiện được sự chuyển dịch này, KHXH&NV sẽ giúp tạo dựng năng lực tri thức dài hạn của quốc gia. Đó cũng là một trong những điều kiện để khoa học xã hội và nhân văn thực sự đồng hành cùng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và tự chủ của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Chú thích
[1] Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Ngày 22/12/2024.https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-57-nqtw-ngay-22122024-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-11162
[2] Chính phủ. (2025). Nghị định số 263/2025/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, nhân lực, nhân tài và giải thưởng trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ngày 14/10/2025.
[3] Thủ tướng Chính phủ. (2026). Quyết định số 604/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=217503
[4] Cục Thống kê. (2024). Niên giám thống kê năm 2024, https://www.nso.gov.vn/wp content/uploads/2026/01/NG-TONG-CUC2024_OKIN_Final.pdf
[5] Bộ Khoa học và Công nghệ. (2025). Số liệu nổi bật lĩnh vực KH&CN năm 2025. https://mst.gov.vn/so-lieu-noi-bat-linh-vuc-khcn-nam-2025-197260106111423155.htm
[6] Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương. (2026). Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ ngày 07/7/2026, kết luận tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/thong-bao-so-24-tb-cqttbcd-ngay-7-7-2026-cua-co-quan-thuong-truc-ban-chi-dao-trung-uong-ket-luan-cua-dong-chi-tong-bi-th.html
[7] Quốc hội (2025), Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 ngày 27/6/2025. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=214603
[8] Chính phủ. (2025). Nghị định số 26/2025/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo về thông tin, thống kê, đánh giá, chuyển đổi số và các vấn đề chung. Ngày 14-10-2025. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=215629
[9] Chính phủ. (2026). Nghị định số 125/2026/NĐ-CP về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học. Ngày 06/4/2026. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=217673
[10] Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-71-nqtw-ngay-2282025-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-giao-duc-va-dao-tao-11771
[11] Thủ tướng chính phủ. (2024). Quyết định số 1705/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Ngày 31/12/2024. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=212235
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia . Ngày 22/12/2024 . https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-57-nqtw-ngay-22122024-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-11162
2. Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo . https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-71-nqtw-ngay-2282025-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-giao-duc-va-dao-tao-11771
3. Bộ Khoa học và Công nghệ. (2025). Số liệu nổi bật lĩnh vực KH&CN năm 2025. https://mst.gov.vn/so-lieu-noi-bat-linh-vuc-khcn-nam-2025-197260106111423155.htm
4. Chính phủ. (2025). Nghị định số 26/2025/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo về thông tin, thống kê, đánh giá, chuyển đổi số và các vấn đề chung . Ngày 14-10-2025. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=215629
5. Chính phủ. (2025). Nghị định số 263/2025/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, nhân lực, nhân tài và giải thưởng trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo . Ngày 14/10/2025.
6. Chính phủ. (2026). Nghị định số 125/2026/NĐ-CP về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học . Ngày 06/4/2026. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=217673
7. Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương. (2026). Thông báo số 24-TB/CQTTBCĐ ngày 07/7/2026, kết luận tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW . https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/thong-bao-so-24-tb-cqttbcd-ngay-7-7-2026-cua-co-quan-thuong-truc-ban-chi-dao-trung-uong-ket-luan-cua-dong-chi-tong-bi-th.html
8. Cục Thống kê. (2024). Niên giám thống kê năm 2024, https://www.nso.gov.vn/wp content/uploads/2026/01/NG-TONG-CUC2024_OKIN_Final.pdf
9. Quốc hội (2025), Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 ngày 27/6/2025 . https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=214603
10. Thủ tướng chính phủ. (2024). Quyết định số 1705/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 . Ngày 31/12/2024. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=212235
11. Thủ tướng Chính phủ. (2026). Quyết định số 604/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=217503