Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả đã phân tích một số quan điểm của I.Kant về khái niệm (trong lôgíc học chung): Khái niệm với tư cách là một hình thức tư duy, nhận thức của con người. Đồng thời chỉ ra một số khía cạnh trong nhận thức của I.Kant về dấu hiệu (cơ sở làm thành nội hàm khái niệm), định nghĩa khái niệm,… không đi theo đường hướng của lôgíc truyền thống, vì bị chi phối bởi quan điểm duy tâm chủ quan và chủ nghĩa bất khả tri cũng như chủ nghĩa hình thức của ông.
Từ
khóa: Lôgíc học Kant, khái niệm.
Chủ
nghĩa hình thức của lôgíc học Kant và những người theo quan điểm của ông có thể
được tìm thấy trong sự phân tích của họ về vấn đề các quy luật và hình thức của
tư duy. Quan điểm của I.Kant về khái niệm, phán đoán và suy luận được ông trình
bày trong học thuyết lôgíc tiên nghiệm, cũng như trong hệ thống lôgíc học
chung.
Xem xét
khái niệm từ quan điểm lôgíc học chung (lôgíc hình thức), I.Kant cho rằng tất
cả nhận thức của chúng ta diễn ra hoặc dưới hình thức trực giác, hoặc dưới hình
thức khái niệm. Trực giác là biểu tượng đơn nhất. Khái niệm là biểu tượng
chung. Nếu người cổ nhìn thấy ngôi nhà từ xa, mà không biết công dụng của nó,
thì họ chỉ biết bằng trực giác. Trực giác này có thể trở thành khái niệm chỉ
khi nó được bổ sung những tri thức về công dụng của ngôi nhà. Shtekelmakher,
tác giả của một công trình chuyên biệt về lôgíc hình thức của Kant, đã giải
thích sự phân tích của Kant về mối tương quan giữa khái niệm và trực giác như
sau: Cả khái niệm và trực giác đều là các khái niệm loài đồng thuộc - mà giống
chung của chúng là biểu tượng. Trực giác - đó là biểu tượng - được cho thông
qua một đối tượng duy nhất, có nghĩa là biểu tượng đơn nhất, khái niệm là biểu
tượng chung.
Cả khái
niệm và biểu tượng, theo Kant, có thể hoặc là kinh nghiệm, hoặc là “thuần túy”.
I.Kant gọi các khái niệm - được cho bởi kinh nghiệm, hay a posteriori, là khái
niệm kinh nghiệm.
Trong
Phê phán lý tính thuần túy, Kant viết: “Cả biểu tượng lẫn khái niệm hoặc là
thuần túy, hoặc là kinh nghiệm. Chúng là kinh nghiệm trong trường hợp trong
chúng có cảm giác (mà nó được cho bởi sự hiện diện của đối tượng thực); còn các
khái niệm là thuần túy trong trường hợp không có cảm giác áp dụng vào. Cảm giác
có thể gọi là nội dung của tri thức cảm tính. Do đó, biểu tượng trực quan thuần
túy có chứa trong mình chỉ hình thức - mà một cái gì đó được biểu tượng dưới nó
một cách trực quan, còn khái niệm thuần túy có chứa trong mình chỉ hình thức tư
duy về đối tượng nói chung. Chỉ có các biểu tượng trực quan thuần túy hay khái
niệm thuần túy mới có thể là tiên nghiệm, còn các biểu tượng và khái niệm kinh
nghiệm chỉ có thể là a posteriori” [3, tr.61]. Hình thức của bất kỳ khái niệm
nào, theo Kant, đều được sáng tạo bởi lý trí. Kant coi hình ảnh của khái niệm
có tính phổ biến. Lý trí nhận được tính phổ biến này không phải từ kinh nghiệm,
mà từ tiên nghiệm, bởi vì kinh nghiệm, theo Kant, trong trường hợp tốt nhất chỉ
cho ta một thế phẩm của tính phổ biến. Như vậy, hình thức của rất nhiều khái
niệm là tiên nghiệm. Tuy nhiên, Kant cũng khẳng định thêm rằng chỉ có các biểu
tượng trực quan thuần túy và khái niệm mới có thể là tiên nghiệm.
Lôgíc
học, theo Kant, chỉ cần quan tâm đến hình thức của khái niệm - hoàn toàn trừu
tượng hay tách khỏi nội dung của nó. Vì thế, lôgíc học chung cần nghiên cứu quá
trình sinh ra khái niệm chỉ từ quan điểm hình thức của nó. Các hành vi lôgíc mà
nhờ chúng các khái niệm được sáng tạo ra về mặt hình thức, theo Kant gồm: Thứ
nhất, “so sánh các biểu tượng với nhau”; thứ hai, “phản tư”, có nghĩa là xem
xét các biểu tượng khác nhau có thể được đưa vào ý thức như thế nào; thứ ba,
“trừu tượng”, hay là “tách” tất cả những cái mà trong đó các biểu tượng đã cho
khác nhau.
Thế
nhưng, tất cả những điều này đều mang đặc điểm là những định đề thuần túy: Kant
không chỉ ra và ông cũng không chứng minh vấn đề làm thế nào để sáng tạo ra các
khái niệm về mặt hình thức, mà lại hoàn toàn tách khỏi nội dung?
Ngay cả
định nghĩa khái niệm của Kant cũng không đúng. Định nghĩa này không đúng về
thực chất và hơn nữa, không ăn khớp với những luận điểm cơ bản của triết học
Kant. Biểu tượng trong Phê phán lý tính thuần túy và cả trong “Prolegomena” đều
được Kant đưa về lĩnh vực cảm tính (theo Kant, tồn tại cả các biểu tượng hay
hiện tượng cảm tính lẫn các biểu tượng tiên nghiệm - không gian hay thời gian).
Khái niệm thuộc về lĩnh vực lý trí và lý tính. Hơn nữa, định nghĩa khái niệm
như là biểu tượng chung nhất được nói trong lôgíc học chung cũng cần có ý nghĩa
chung nhất, trong đó, công bằng cả đối với lôgíc tiên nghiệm. Sẽ không đúng khi
đồng nhất khái niệm với biểu tượng chung, và thực chất, vì khái niệm và biểu
tượng thuộc các giai đoạn khác nhau của nhận thức, nên chúng khác nhau về chất.
Kant
nói một cách chi tiết về các dấu hiệu của khái niệm và sự phân loại chúng. Khi
định nghĩa dấu hiệu của khái niệm, ông viết: “Dấu hiệu là cái trong sự vật mà
nó làm thành một phần việc nhận thức nó, hay là - cái biểu tượng bộ phận” [2,
tr.51]. Bất kỳ dấu hiệu nào, theo Kant, đều có thể xem xét từ hai khía cạnh:
Thứ nhất, như là biểu tượng tự nó và, thứ hai, như là biểu tượng bộ phận, trong
mối quan hệ với biểu tượng đầy đủ (khái niệm) của sự vật. Sự phân tích một cách
duy tâm chủ quan về dấu hiệu này sau đó được các nhà lôgíc học theo quan điểm
của Kant nhắc lại. Ví dụ, Sigwart khẳng định rằng khái niệm như là biểu tượng
phức tạp cần phân chia thành các biểu tượng bộ phận hay các khái niệm bộ phận,
nghĩa là thành các dấu hiệu được tư duy trong khái niệm và hình thành nội dung
của nó [Xem: 4, tr.288-289]. Cũng tương tự như vậy, trong định nghĩa khái niệm
“dấu hiệu” của Chelpanov - ông gọi dấu hiệu là thành tố cấu thành biểu tượng
hay khái niệm [Xem: 1, tr.13]. Sự phân tích như vậy không tương dung với nhận
thức luận Mác - Lênin mà theo đó các đối tượng hiện thực có các dấu hiệu (thuộc
tính) tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào chủ thể nhận thức và được phản ánh
với tư cách các dấu hiệu tương ứng của khái niệm. Định nghĩa của Kant về dấu
hiệu như là biểu tượng bộ phận không được thừa nhận rộng rãi, bởi lẽ nó đưa vào
lôgíc học một thành tố nào đó của chủ nghĩa máy móc. Nó tạo ra ấn tượng rằng
khái niệm bằng tổng các bộ phận hay các dấu hiệu một cách cơ học. Trong khi đó,
bất kỳ hiện tượng hay đối tượng nào cũng là sự liên kết một cách hữu cơ các dấu
hiệu cơ bản mà mỗi dấu hiệu trong chúng là cần thiết, còn tất cả các dấu hiệu
đủ để sự vật, hiện tượng có được tính xác định về chất của mình. Chính sự liên
kết các dấu hiệu như vậy được phản ánh trong các khái niệm. Còn những gì liên
quan đến sự phân loại dấu hiệu đã được I.Kant chỉ rõ. Các dấu hiệu có thể là:
Phân
tích hay tổng hợp,
Được
phối vị hay đồng phối vị,
Khẳng
định hay phủ định,
Quan
trọng, có kết quả hay là không cơ bản, không quan trọng,
Đủ, cần
hay là không đủ và ngẫu nhiên.
Các dấu
hiệu phân tích, theo I.Kant là các bộ phận - nhận được do kết quả của sự phân
chia khái niệm có sẵn; còn các dấu hiệu tổng hợp là các bộ phận của khái niệm -
được gắn với nó từ bên ngoài. Cái mà Kant nói tương ứng với các phán đoán phân
tích và tổng hợp được ông đưa vào vấn đề đã cho.
Các dấu
hiệu phối vị là những dấu hiệu của các sự vật, các dấu hiệu cùng phối vị là các
dấu hiệu của dấu hiệu. I.Kant viết: “Sự liên kết các dấu hiệu phối vị vào khái
niệm toàn vẹn là một tổ hợp” [2, tr.50]. Trong khẳng định này của Kant, chúng
ta thấy các thành tố của chủ nghĩa máy móc, vì “khái niệm toàn vẹn” được ông
xem như tổ hợp các dấu hiệu một cách máy móc.
I.Kant
coi các dấu hiệu tích cực là các dấu hiệu mà nhờ chúng, con người nhận thức
được sự vật phản ánh trong khái niệm; còn các dấu hiệu tiêu cực (phủ định) là
các dấu hiệu mà nhờ chúng con người nhận thức được cái không phải sự
vật. Nếu bằng các dấu hiệu tích cực chúng ta có thể nhận thức một cái gì đó,
thì nhờ các dấu hiệu phủ định chúng ta chỉ có thể “không rơi vào sự phân vân
hoặc là chỉ không sai lầm” [2, tr.53]. Các dấu hiệu phủ định không có ý nghĩa
độc lập, nhiệm vụ của chúng thể hiện ở việc phủ định các dấu hiệu khẳng định
giả dối mà chúng gắn liền một cách mật thiết. Đối với Kant, phủ định lôgíc
không có ý nghĩa nhận thức và biến thành phủ định, “thuần túy”, không chứa cái
gì tích cực và không phản ánh hiện thực khách quan.
Sự phân
tích không đúng này về bản chất của phủ định lôgíc đã được một loạt các nhà
lôgíc học theo đường lối Kant sử dụng, trong đó, trước hết phải kể đến Siwart -
người coi phủ định chỉ là sự xóa bỏ phán đoán giả dối. A.I.Vvedensky cũng hiểu
phủ định theo tinh thần như vậy. Theo ông, phủ định lôgíc là sự phủ định không
kèm theo việc chỉ ra bất kỳ dấu hiệu khẳng định nào, có nghĩa là phủ định
“thuần túy. Trong lôgíc học hiện đại, quan điểm phủ định “thuần túy” này vẫn
tiếp tục tồn tại. Phán đoán phủ định ở đây được hiểu như “chức năng chân lý”,
có nghĩa là phán đoán về tính giả dối của phán đoán khác. Trên thực tế, phủ
định lôgíc không phải là phạm trù thuần túy chủ quan, mà có liên quan với hiện
thực khách quan, có ý nghĩa độc lập tương đối và giá trị nhận thức lớn.
Aristotle đã hoàn toàn đúng khi định nghĩa bản chất của phán đoán phủ định sau
khi chỉ ra rằng nó phân chia cái bị phân chia trong hiện thực. Chủ nghĩa duy
vật biện chứng thừa nhận phủ định là sức mạnh của bất kỳ sự biến đổi và phát
triển nào, là sức mạnh có ý nghĩa hoàn toàn khách quan (tất nhiên, ở đây phủ
định được hiểu theo nghĩa triết học). Cần xem xét lại điểm 4 và 5 trong sự phân
loại các dấu hiệu của Kant, bởi vì ở Kant cơ sở của việc chia các dấu hiệu này
không được chỉ ra một cách nghiêm ngặt: Trong các điểm 4 và 5 ông nói về cùng
một cái. Ngoài các dấu hiệu “quan trọng” và “có kết quả” là các dấu hiệu căn
bản, Kant cũng đồng thời gọi các dấu hiệu “tất yếu”, “cần” và
“đủ” là dấu hiệu căn bản.
Vậy
Kant hiểu dấu hiệu căn bản là gì? Với ông, dấu hiệu căn bản không phải là sự
phản ánh bản chất của chính sự vật. Ngược lại, bản chất của sự vật, theo Kant,
được sáng tạo bởi lý trí. Ông cho rằng, tổng thể tất cả các bộ phận căn bản của
sự vật hay một số lượng đủ các dấu hiệu là bản chất. Nhưng chúng ta tuyệt đối
không cần phải suy nghĩ đến bản chất tự nhiên, thực sự của sự vật, vì bản chất
đó không thể tìm thấy ở bất kỳ đâu. “Vì lôgíc học trừu tượng hóa bất kỳ nội
dung nào của tri thức, và do đó ngay cả chính sự vật, nên trong khoa học này
chỉ có thể nói về bản chất lôgíc của sự vật” [2, tr.54]. Trong khi đó, theo
lôgíc truyền thống, các dấu hiệu căn bản làm nên bản chất của sự vật được phản
ánh vào khái niệm (ví dụ, các dấu hiệu: Có ý thức, có tư duy trừu tượng, có
ngôn ngữ, biết chế tạo công cụ lao động… là các dấu hiệu cơ bản làm thành bản
chất của khái niệm con người và là kết quả phản ánh của con người trong hiện
thực).
Để tìm
“bản chất lôgíc”, theo Kant, chỉ cần tri thức về tất cả các vị từ và chúng như
là những bộ phận cấu thành căn bản hình thành khái niệm đã cho, mà
không cần phải nghiên cứu các sự vật thực, và cũng không thể làm điều đó. Kant
không thể đưa ra một định nghĩa cụ thể, thuyết phục về “bản chất lôgíc”, và do
đó, ông cũng không thể đưa ra định nghĩa đúng về dấu hiệu căn bản. Điều đó là
dễ hiểu, bởi việc tách ra “một bản chất lôgíc đặc biệt” nào đó ngang hàng với
bản chất thực là một sự trừu tượng sai lầm, một sự lộn trái của triết học duy
tâm. Cũng tương tự như vậy, Kant không thể chỉ ra một cách đúng đắn tiêu chuẩn
cho định nghĩa các dấu hiệu căn bản. Tiêu chuẩn này ở ông mang đặc điểm chủ
quan và tương đối. Kant viết: “Tính đủ của các dấu hiệu, cũng như tầm quan
trọng của chúng chỉ có thể xác định một cách tương đối, trong mối quan hệ với
mục đích do nhận thức đặt ra” [2, tr.54]. Mặt khác, đặc trưng đối với Kant là
khuynh hướng hiểu dấu hiệu cơ bản như một cái gì đó được cho sẵn và không thay
đổi, gắn liền với chủ nghĩa tiên nghiệm của ông. Theo Kant, tầm quan trọng
lôgíc và tính hiệu quả, có nghĩa là tính căn bản của các dấu hiệu, cần phân
biệt với tính có ích về mặt thực tiễn của chúng. Khi tách lý thuyết khỏi thực
tiễn và lờ đi vai trò của thực tiễn trong nhận thức, ông đã làm mất đi tiêu
chuẩn tin cậy duy nhất đối với định nghĩa tính căn bản của các dấu hiệu.
Chỉ có
phép biện chứng duy vật, nhờ đưa tiêu chuẩn thực tiễn vào lý luận nhận thức,
mới có thể giải quyết đúng vấn đề các dấu hiệu cơ bản và tiêu chuẩn của chúng.
Phép biện chứng duy vật cho rằng các dấu hiệu cơ bản đó không phải là một cái
gì cho sẵn và không biến đổi. Các dấu hiệu cơ bản cũng biến đổi. Trong quá
trình phát triển của thực tiễn lịch sử xã hội, có thể lúc là mặt này, lúc là
mặt khác với tư cách dấu hiệu cơ bản của sự vật. Vì vậy, không thể có ranh giới
tuyệt đối, siêu hình giữa dấu hiệu căn bản và không căn bản. Tính căn bản của
các dấu hiệu là tương đối, mà không phải là tuyệt đối và mang đặc điểm hoàn
toàn khách quan. Chính từ quan điểm thực tiễn mà có thể xác định dấu hiệu nào
của sự vật là căn bản ở giai đoạn đã cho của sự phát triển. V.I.Lênin cho rằng,
toàn bộ thực tiễn của con người cần phải đi vào định nghĩa đầy đủ về đối tượng
và với tư cách là tiêu chuẩn của chân lý và đối với định nghĩa về mặt thực tiễn
mối liên hệ của sự vật với cái mà con người cần. Một thành tố của ý thức quyện
vào hoạt động thực tiễn của con người như là một vòng khâu tất yếu - cái đó làm
cho hoạt động thực tiễn của con người khác với hoạt động của con vật. Chủ nghĩa
Mác không làm giảm vai trò của thành tố ý thức, nhưng cho rằng việc ý thức được
các mục đích, đề ra nhiệm vụ… có đặc điểm hệ quả, và được quy định bởi các điều
kiện vật chất. C.Mác đã chỉ ra rằng, nhân loại luôn chỉ đặt cho mình những
nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết, bởi vì nhiệm vụ chỉ xuất hiện khi các điều
kiện vật chất cho việc giải quyết nó đã có, hay ít nhất, cũng đang trong quá
trình hình thành. Thực tiễn lịch sử xã hội hay là hoạt động của con người trong
sự sản xuất ra đời sống vật chất tự nó diễn ra hoàn toàn theo các quy luật
khách quan. Như vậy, thực tiễn của con người đặt ra trước nhận thức các mục
đích và nhiệm vụ; trong khi đó, theo Kant, chính nhận thức đưa ra mục đích một
cách tiên nghiệm mà từ quan điểm của các mục đích đó chúng ta cần đánh giá tính
căn bản của các dấu hiệu.
Trong
“Lôgíc học”, Kant nói về quy luật quan hệ ngược giữa ngoại diên và nội hàm của
khái niệm: “Khái niệm càng giữ nhiều hơn dưới bản thân mình, thì nó càng ít hơn
trong bản thân và ngược lại” [2, tr.88]. Thiết nghĩ, không phải Kant là người
đầu tiên phát hiện ra quy luật này, mà chúng ta đã gặp quy luật này trong “Nhập
môn” các phạm trù của Aristotle của Porfirii. Nhưng ở Kant ta thấy sự tuyệt đối
hóa quy luật này.
Quy
luật quan hệ ngược giữa nội hàm và ngoại diên của khái niệm chỉ đúng với các
khái niệm nằm trong quan hệ giống – loài (ví dụ, khái niệm “sông Việt Nam” và
“sông” là các khái niệm nằm trong quan hệ giống - loài, trong đó “sông” là khái
niệm giống, còn “sông Việt Nam” là khái niệm loài. Quy luật quan hệ ngược giữa
nội hàm và ngoại diên được tuân thủ: Khái niệm “sông” có ngoại diên rộng hơn,
bao hàm khái niệm “sông Việt Nam”, nhưng về nội hàm thì ngược lại: Khái niệm
“sông Việt Nam” có nội hàm phong phú hơn, vì ngoài những dấu hiệu làm thành nội
hàm khái niệm “sông”, khái niệm “sông Việt Nam” còn có thêm một dấu hiệu “chảy
trên đất Việt Nam”, rõ ràng phong phú hơn), tuy nhiên, nó không thể được coi là
quy luật phổ biến, tuyệt đối của tư duy (ví dụ, giữa hai khái niệm bất kỳ “bút
chì” và “số ảo” quy luật quan hệ ngược này hoàn toàn không hoạt động). Nhưng
chính theo nghĩa phổ biến như vậy, quy luật này được Kant xem xét. Sự tuyệt đối
hóa quy luật này ở Kant là sai lầm, nó mâu thuẫn với các sự kiện thực. Chủ
nghĩa Mác - Lênin cho rằng các quy luật khách quan của giới tự nhiên, xã hội,
tư duy hoạt động chỉ trong các điều kiện xác định và sẽ mất hiệu lực khi các
điều kiện này không còn. Chống lại những “chân lý vĩnh cửu”, “các chân lý ở
điểm cuối cùng” của Đuyrinh, Ph.Ănghen chỉ ra rằng “các chân lý vĩnh cửu của
giới tự nhiên” ngày càng biến thành các quy luật của lịch sử… Đặc điểm tuyệt
đối và vĩnh viễn chỉ có ở các quy luật chung nhất, mà trong đó toát lên tính
vật chất của thế giới và tính chung nhất của sự vận động của nó, tất cả các quy
luật còn lại đều mang đặc điểm lịch sử, tương đối. Vì thế, các nhà triết học
chống lại sự hạn chế của các quy luật của lôgíc hình thức bởi những giới hạn
nhất định của nó và cho rằng trong trường hợp như vậy, những quy luật này không
thể được coi là quy luật “chân chính”.
Nếu
chúng ta chú ý đến quy luật quan hệ ngược giữa nội hàm và ngoại diên của khái
niệm, thì chúng ta sẽ thấy rằng, quy luật này cũng có giới hạn sự sử dụng của
chúng. Quy luật này không hoạt động trong một số trường hợp, nó
không hoạt động cả trong mối quan hệ giữa các khái niệm nằm trong sự quá độ
loài thấp đến đơn nhất. Quy luật mối quan hệ ngược chỉ áp dụng đối với các mối
quan hệ giống - loài giữa các khái niệm như là những cái được cho sẵn (tức là ở
trạng thái tĩnh, chứ không xét trong quá trình phát triển). Và chính ở đây nó
có tính phổ biến như là một trong những quy luật của tư duy. Nhưng quy luật này
không có hiệu lực trong quá trình phát triển lịch sử, sự hình thành khái niệm:
Trong trường hợp này không có mối liên hệ ngược, mà là sự phụ thuộc tuyến tính
giữa nội hàm và ngoại diên của khái niệm - cùng với sự mở rộng ngoại diên của
khái niệm diễn ra sự tăng nội hàm của chúng. Từ sự tuyệt đối hóa quy luật quan
hệ ngược giữa nội hàm và ngoại diên của các khái niệm rút ra luận điểm về tính
không có nội dung, tính nghèo nàn của các khái niệm chung nhất, cái trong cội
nguồn nó mâu thuẫn với giá trị nhận thức hiện thực của chúng. V.I.Lênin phản
đối cách hiểu tương tự của Kant về bản chất của sự trừu tượng vì ngay như sự
khái quát đơn giản nhất, theo V.I.Lênin, cũng có nghĩa là nhận thức các mối
liên hệ của thế giới ngày càng sâu sắc, khách quan. Trong quá trình khái quát
các vùng hiện tượng ngày càng lớn mà con người nhận được, không phải các khái
niệm ngày càng nghèo về nội dung, mà ngược lại, (các khái niệm đó) ngày càng
sâu và giàu có về nội hàm.
Sau đây
chúng ta sẽ xem xét quan niệm của Kant về định nghĩa khái niệm. Định nghĩa,
theo Kant đó là “sự thể hiện khái niệm về sự vật trong các ranh giới của nó một
cách chi tiết và khởi đầu nhất” [3, tr.406]. Tính chi tiết thể hiện ở tính rõ
ràng và tính đầy đủ các dấu hiệu; ranh giới được thể hiện trong tính chính xác
- thể hiện ở chỗ các dấu hiệu được cho không nhiều hơn so với sự cần thiết đối
với tính đầy đủ của khái niệm, tính đầu tiên nhất thể hiện ở chỗ, đó là “xác
định các ranh giới không được rút ra từ bất cứ đâu, và do đó, không cần chứng
minh” [3, tr.406]. Trong định nghĩa này, các đặc thù - đặc trưng cho quan điểm
lôgíc của Kant được cảm nhận rõ. Trước hết, đặc điểm ngoại diên trong lôgíc học
của ông, thậm chí ở đây, trong định nghĩa khái niệm, Kant xuất phát từ các ranh
giới của khái niệm, từ ngoại diên của nó. Các ranh giới này không cần chứng
minh và không được rút ra từ đâu, chúng không thay đổi và xác định nội hàm của
khái niệm. Nhưng điểm đặc trưng nhất trong cách hiểu của Kant về bản chất của
định nghĩa khái niệm là chủ nghĩa bất khả tri. Định nghĩa - điều đó có nghĩa là
chỉ ra những dấu hiệu căn bản của khái niệm, có nghĩa là vạch ra bản chất của
chính đối tượng. Nhưng, theo Kant, không thể làm điều này: Định nghĩa vạch ra
không phải bản chất của sự vật, mà chỉ là các dấu hiệu của các khái niệm, mà
chúng (các khái niệm) không có gì chung với sự vật. Ông thường nói: “Tôi muốn
biết không phải đức hạnh là gì, mà những phẩm chất nào thuộc về khái niệm đức
hạnh”. Nhưng thậm chí khi xuất phát từ các tiền đề tương tự, Kant cho rằng đa
số các khái niệm nói chung không định nghĩa được. Trước hết, theo Kant, không
thể định nghĩa được khái niệm kinh nghiệm. Trong các khái niệm, chúng ta chỉ
biết những dấu hiệu của các đối tượng cảm tính, vì thế chúng ta không bao giờ
có thể tin tưởng để nói được rằng, chúng ta nghĩ về một từ mà nó chỉ một sự vật
trong một trường hợp, còn trong trường hợp khác lại có số lượng dấu hiệu khác.
Ví dụ, trong khái niệm “vàng”, một số người có thể nghĩ về khối lượng, màu sắc
và tính dễ rèn, còn một tính chất nữa là vàng không bị han rỉ, những người khác
không biết gì về tính chất này. Vì thế, các khái niệm kinh nghiệm không bao giờ
có thể ở trong một ranh giới nhất định, và do đó, theo Kant, không thể có định
nghĩa. Theo ông, chỉ cho phép định nghĩa danh, có nghĩa là ý nghĩa được gán cho
một danh từ đã biết một cách tùy tiện, hay là theo thỏa thuận. Trong các tác
phẩm của mình, Kant thường cho rằng “định nghĩa danh chỉ có ý nghĩa thỏa
thuận”. Định nghĩa danh không vạch ra “bản chất thực”, mà là “bản chất lôgíc”
của sự vật. Chỉ định nghĩa danh mới có thể có định nghĩa thông qua giống và sự
khác biệt loài. Tiếp theo, Kant cho rằng, cả các khái niệm được cho một cách
tiên nghiệm, ví dụ, bản thể, nguyên nhân, pháp quyền, công bằng,… cũng không
thể định nghĩa. Để định nghĩa các khái niệm tương tự đòi hỏi sự phân tích đầy
đủ, nhưng bởi không có sự phân tích nào có được sự tin tưởng rằng tất cả các
dấu hiệu của các khái niệm đều đầy đủ, nên theo Kant, tất cả các định nghĩa khi
phân tích đều phải nghi ngờ.
Với tư
cách một nhà triết học lớn, mở đầu cho “triết học cổ điển Đức”, Kant đã có
nhưng đóng góp nhất định vào lôgíc học. Trong các vấn đề liên quan đến lôgíc
học chung, đặc biệt là các hình thức của tư duy: Khái niệm, phán đoán, suy
luận, ông đã đưa vào đó những ý tưởng mới. Đặc biệt, với vấn đề “khái niệm”
trong lôgíc học chung, cách hiểu của Kant có điểm khác với cách hiểu của truyền
thống và vẫn còn chứa đựng những điểm siêu hình. Những tư tưởng lôgíc biện
chứng của Kant thể hiện trong phép biện chứng tiên nghiệm đã được Hêghen phát
triển lên một trình độ hoàn thiện. Tuy nhiên, lôgíc học của Hêghen vẫn bị hạn
chế bởi chủ nghĩa duy tâm khách quan và chỉ đến C.Mác, lôgíc biện chứng mới
thực sự đứng trên quan điểm duy vật và khoa học.
Tài
liệu tham khảo
[1]
G.Chelpanov (1946), Lôgíc học, Mátxcơva (tiếng Nga).
[2] I.
Kant (1915), Lôgíc học, Pêtrôgrát (tiếng Nga).
[3] I.
Kant (1964), Phê phán lý tính thuần túy (Tác phẩm gồm 6 tập), t.3, Mátxcơva
(tiếng Nga).
[4]
Sigwart (1908), Lôgíc học, t.1, Saint - Petersburg, (tiếng Nga).