Một số nguyên tắc phân phối hiện đại trong sự so sánh với quan niệm công bằng phân phối của C.Mác và trường hợp của Việt Nam
Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả đưa ra nội dung chủ yếu của 7 nguyên tắc phân phối hiện đại, từ đó làm rõ hơn những ảnh hưởng của C.Mác trong tiến trình phát triển quan niệm về công bằng phân phối. Điểm cơ bản trong tư tưởng của C.Mác về công bằng phân phối là quan điểm về nguyên tắc phân phối theo lao động - nguyên tắc phân phối vừa đảm bảo được tính hiệu quả vừa đáp ứng được tính đạo đức. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, cần đa dạng hóa các hình thức phân phối với nguyên tắc chủ đạo là nguyên tắc phân phối theo lao động nhằm đảm bảo được lợi ích của đa số đông đảo nhân dân.
Từ khóa: Công bằng phân phối, C.Mác, nguyên tắc phân phối hiện đại, phân phối theo lao động, tính hiệu quả và tính đạo đức.
Từ khóa: Công bằng phân phối, C.Mác, nguyên tắc phân phối hiện
đại, phân phối theo lao động, tính hiệu quả và tính đạo đức.
Hơn 134
năm đã trôi qua kể từ khi C.Mác mất, những lý thuyết, luận thuyết, quan điểm
của ông vẫn được xem xét, nghiên cứu bởi những người đi theo C.Mác và bởi cả
những người phê phán ông. Những tư tưởng của ông đã được áp dụng (dưới nhiều
dạng thức và mức độ khác nhau) ở nhiều quốc gia; trong đó có tư tưởng về công
bằng phân phối - một trong những tư tưởng chứa đựng sự sắc sảo và đầy tính nhân
văn của ông. Ngày nay, nhân loại đã bổ sung vào lĩnh vực này nhiều quan điểm
mới, tri thức mới, song ở đó vẫn thấy bóng dáng của sự kế thừa, vay mượn những
tư tưởng của C.Mác trong các lý thuyết sau này. Hiện thực đó phần nào cho thấy
những giá trị không thể phủ nhận cũng như sức sống vững bền của tư tưởng của
C.Mác về công bằng phân phối. Trong bài viết này, để làm rõ hơn những ảnh hưởng
của C.Mác cũng như tiến trình phát triển quan niệm về công bằng phân phối,
chúng tôi sẽ lần lượt đi vào các nội dung chính sau đây.
1. Một số nguyên tắc phân phối hiện đại
Như
chúng ta đã biết, nội dung cốt lõi nhất của công bằng luôn là vấn đề phân phối.
Các nguyên tắc phân phối có thể đa dạng về nhiều khía cạnh, song chúng giống
nhau ở chỗ đều đề cập đến phân phối cái gì (thu nhập, phúc lợi, cơ hội, nghề
nghiệp, sức khỏe, lợi ích v.v..); chủ thể được phân phối là ai (cá nhân, các
nhóm, các tầng lớp, giai cấp v.v..) và kiểu phân phối cơ bản nào sẽ được áp
dụng.
Về cơ
bản, nội dung chủ yếu của các nguyên tắc công bằng phân phối bao gồm cả phân
phối lợi ích và trách nhiệm của hoạt động kinh tế giữa các cá nhân trong xã
hội. Ngày nay, hầu hết những nguyên tắc phân phối được nhìn nhận ở ba chiều
cạnh: Công bằng phân phối ở cấp độ quốc tế, công bằng phân phối theo thế hệ và
công bằng phân phối với tư cách là một phẩm hạnh.
Trong
suốt chiều dài lịch sử, con người sinh ra, tồn tại trong một vị trí kinh tế
tương đối nghiêm ngặt. Việc phân phối các lợi ích và trách nhiệm kinh tế đã
được coi là bị ấn định bởi tự nhiên. Chỉ khi con người nhận ra rằng, phân phối
các lợi ích và trách nhiệm kinh tế có thể bị tác động bởi chủ thể khác nhau thì
công bằng phân phối mới trở thành chủ đề được bàn đến nhiều nhất. Ngày nay, các
chính phủ liên tục sáng tạo và thay đổi các bộ luật tác động đến phân phối lợi
ích và trách nhiệm kinh tế trong xã hội của họ. Hầu hết mọi sự thay đổi, từ
chuẩn thuế đến luật doanh nghiệp,… đều có ảnh hưởng nhất định đến phân phối.
Với tư cách kết quả của những hoạt động đó, trong các xã hội khác nhau sẽ có
những kiểu phân phối khác nhau.
Nguyên
tắc công bằng phân phối ngoài việc phải đạt được tính hiệu quả về mặt kinh tế
còn là những nguyên tắc mang tính quy phạm đạo đức, theo nghĩa, chúng chỉ đạo
phân phối lợi ích và trách nhiệm của hoạt động kinh tế, vì thế, chúng có vai
trò quan trọng trong việc đảm bảo công bằng.
Nguyên
tắc phân phối đầu tiên là nguyên tắc dựa trên chủ nghĩa bình quân nghiêm ngặt
(Strict Egalitarianism). Nền tảng tư tưởng của nguyên tắc này là lập luận khá
phổ biến cho rằng, con người phải được tôn trọng một cách bình đẳng (ngang
nhau= equal) và con người phải được thụ hưởng như nhau những hàng hóa vật chất
và dịch vụ. Những người phê phán nguyên tắc này cho rằng, nó đã hạn chế sự tự
do của con người, không kích thích người ta phấn đấu để đạt được nhiều của cải
vật chất hơn [Xem: 6].
Tiếp
theo là nguyên tắc phân phối mang tính lựa chọn của John Rawls, mà ông gọi là
nguyên tắc dựa trên sự khác biệt (Difference Priciple). Nguyên tắc này cho
rằng, quyền bình đẳng cơ bản và sự tự do tuyệt đối là điều kiện cho công bằng,
cụ thể hơn thì quyền tự do, bình đẳng về mặt chính trị là cái đảm bảo giá trị
công bằng cho mỗi cá nhân. Nguyên tắc này cũng cho rằng, phân phối phải tính
đến sự khác biệt khi tập trung luận giải về công bằng đối với các nhóm yếu thế.
Nó coi thị trường như phương tiện để trợ giúp những người yếu thế [Xem: 6].
Thứ ba
là nguyên tắc phân phối dựa trên nguồn lực (Resource - Based).
Nguyên tắc này cho rằng, kết quả phân phối phải được xác định bởi việc con
người sử dụng tự do những nguồn lực của họ. Chẳng hạn, những người lựa chọn
công việc nặng nhọc để kiếm được nhiều thu nhập hơn thì nên được hưởng sự bao
cấp so với những người chọn công việc nhẹ nhàng hơn và vì thế, có thu nhập ít
hơn. Nguyên tắc này đảm bảo sự công bằng về sự cống hiến có liên quan đến sự
lựa chọn, song nó tỏ ra bế tắc trong giải quyết những trường hợp mà ở đó xuất
hiện những bất bình đẳng mang tính tự nhiên, như sự không ngang bằng nhau về
sức khỏe hay trí tuệ. Nó cũng không chỉ ra cách thức thực hiện bình đẳng về
nguồn lực trong một nền kinh tế phức tạp như nền kinh tế thị trường hiện đại
[Xem: 6].
Thứ tư
là nguyên tắc phân phối dựa trên sự xứng đáng (Desert - Based), còn gọi là
nguyên tắc tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ. Nguyên tắc này cho rằng,
phân phối phải dựa trên những gì con người cống hiến từ công việc của họ. Nền
tảng triết học của nguyên tắc này bắt đầu từ quan điểm của Aristotle, Locke,
John Stuart Mill… Điển hình là lập luận của John Locke khi ông cho rằng, hệ
thống phân phối chỉ công bằng trong chừng mực chúng phân phối thu nhập theo
những mức độ mà các cá nhân đã đóng góp hay đã cống hiến cho xã hội, xứng đáng
với công sức lao động, với những nỗ lực và cả những đóng góp của họ [Xem: 6].
Thứ năm
là nguyên tắc phân phối dựa trên phúc lợi (Welfare - based), cho rằng cái quan
trọng hàng đầu về mặt đạo đức là mức độ phúc lợi của mọi người. Nói cách khác,
nguyên tắc này muốn tối đa hóa các lợi ích của con người, vì thế, nó còn được
gọi là nguyên tắc vị lợi chủ nghĩa. Những người theo nguyên tắc này cho rằng,
nguyên tắc phân phối nên được thiết kế và đánh giá theo cách thức chúng ảnh
hưởng đến phúc lợi như thế nào và cái quan trọng hàng đầu về mặt đạo đức là mức
độ phúc lợi của mọi người. Mọi nguyên tắc khác chỉ có giá trị trong chừng mực
chúng tăng cường phúc lợi, cho nên tất cả những vấn đề phân phối đều phải được
đặt trong sự phân phối mà ở đó phúc lợi được tối đa hóa. Nguyên tắc này cũng
thường sử dụng thị trường như là phương tiện để đạt được mô hình phân phối mà ở
đó lợi ích được tối đa hóa [Xem: 6].
Thứ sáu
là nguyên tắc tự do chủ nghĩa (Libertarian Principles). Nguyên tắc này đề cao
tự do và quyền sở hữu của cá nhân (self - ownership). Đây là nguyên tắc quan
trọng trong nền kinh tế thị trường. Nó thừa nhận vai trò nhất định của thị
trường, coi thị trường là phương tiện để đạt được khuôn mẫu phân phối mong muốn
chứ không phải là phương tiện để xây dựng nên một mô hình nào đó. Thị trường là
công bằng. Những người theo nguyên tắc này luôn ủng hộ một hệ thống mà ở đó tồn
tại quyền sở hữu tuyệt đối (sở hữu mang tính loại trừ/ không chia sẻ), còn vai
trò của nhà nước bị hạn chế chỉ trong phạm vi bảo vệ những quyền sở hữu đó
[Xem: 6].
Thứ bảy
là nguyên tắc phân phối theo thuyết bình đẳng nam nữ quan tâm đến những cái
khác biệt giữa phụ nữ và nam giới. Chủ đề và đối tượng nghiên cứu công bằng của
họ là những kinh nghiệm thực tiễn về giới. Hầu hết những nhà nữ quyền cho rằng,
vị thế bất bình đẳng về vật chất và chính trị của phụ nữ là hậu quả của thể chế
gia đình hạt nhân. Những bất bình đẳng sâu sắc, tồn tại dai dẳng đối với phụ
nữ, cũng giống như các bất bình đẳng đối với các nhóm dân tộc thiểu số, hay
những nhóm chủng tộc bị áp bức trong lịch sử, chỉ là hậu quả tích tụ hành vi tự
do của các cá nhân [Xem: 6].
2. Quan niệm về công bằng phân phối của C.Mác
Công
bằng phân phối là một trong những nội dung được C.Mác rất chú trọng khi xây
dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội của ông. C.Mác đã không xây dựng một lý thuyết
hoàn chỉnh về công bằng phân phối, song quan niệm và sự luận chứng của ông về
công bằng phân phối là rất rõ ràng.
Thứ
nhất, C.Mác đã phê phán quan điểm thực hiện công bằng phân phối theo kiểu bình
quân chủ nghĩa của các nhà kinh tế học tư bản chủ nghĩa (như Ricácđô) khi cho
rằng, để xây dựng được một xã hội công bằng thực sự thì phải xóa bỏ sự bất bình
đẳng về những điều kiện ban đầu, tức là phải làm cho mọi người ngang
bằng về địa vị trong quan hệ đối với tư liệu sản xuất chứ không phải là đòi hỏi
phải “chia đều sản phẩm cho tất cả mọi người!” [2, tr.272].
Thứ
hai, C.Mác cũng đồng thời phê phán quan điểm phân phối của những người dân chủ
xã hội trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gôta về thu nhập của lao động và phân
phối “công bằng” theo kiểu của Látxan. Sự phê phán này là vô cùng quan trọng,
bởi nó bộc lộ quan điểm về phân phối trong chủ nghĩa xã hội của ông tập trung ở
3 điểm sau:
i)
C.Mác phê phán mệnh đề “lao động là nguồn gốc của mọi của cải” trong Cương lĩnh
Gôta, khi chỉ ra “giới tự nhiên, cũng như lao động, là nguồn của những giá trị
sử dụng (vì của cải vật chất lại chính là gồm những giá trị này!)”. C.Mác khẳng
định tính xã hội của lao động và chỉ những lao động nào mang tính xã hội mới là
nguồn gốc của của cải, của văn hóa: “Lao động là nguồn gốc của của cải và của
văn hóa, chỉ khi nào nó là lao động xã hội (N.T.L.H. nhấn mạnh). “Lao động xã
hội” chính là lao động “được tiến hành trong xã hội và do xã hội” [1,
tr.28-29].
ii)
C.Mác phê phán công thức “thu nhập không bị cắt xén” và quan điểm cho rằng,
phân phối công bằng chính là việc người lao động nhận được “thu nhập không bị
cắt xén” của Látxan. Luận giải về vấn đề này, ông đã chứng minh không thể tồn
tại cái gọi là “thu nhập không bị cắt xén” khi chỉ ra các khoản phải khấu trừ,
cho đến khi còn phần cuối cùng “được phân phối” đến các cá nhân. Như vậy, “thu
nhập không bị cắt xén của lao động” hóa ra là “thu nhập bị cắt xén”, mặc dầu
cái mà người sản xuất, với tư cách là cá nhân, bị mất đi với tư cách là thành
viên của xã hội, người đó lại nhận được một cách trực tiếp hay gián tiếp” [1,
tr.33].
iii)
C.Mác phê phán phân phối “công bằng” theo kiểu Látxan khi Cương lĩnh Gôta nói:
“Sự nghiệp giải phóng lao động đòi hỏi phải nâng tư liệu lao động lên thành tài
sản chung của xã hội…, đồng thời phân phối một cách công bằng thu nhập của
người lao động” [Dẫn theo: 1, tr.30]. Ở đây, C.Mác cho rằng, khái niệm ““thu
nhập của lao động” là một khái niệm mơ hồ. “Thu nhập của lao động” là sản phẩm
của lao động hay là giá trị của sản phẩm đó? Và nếu là giá trị của sản phẩm thì
đó là toàn bộ giá trị của sản phẩm hay chỉ là phần giá trị mà lao động đã thêm
vào giá trị của những tư liệu sản xuất đã tiêu dùng?” (N.T.L.H. nhấn mạnh) [1,
tr.30]. Như vậy, phân phối công bằng theo kiểu của Látxan, về thực chất, là đã
phân phối cho cả những kẻ không lao động.
Ở đây,
cần nhấn mạnh quan niệm của C.Mác về công bằng phân phối, đó là tương ứng với
một loại hình quan hệ sản xuất chủ đạo của một hình thái kinh tế - xã hội bao
giờ cũng có một nguyên tắc phân phối chủ đạo. Ngoài nguyên tắc phân phối chủ
đạo, C.Mác cũng lưu ý rằng, trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội còn có quan hệ
trao đổi theo nguyên tắc ngang giá giữa những người chủ sở hữu hàng hoá khác
nhau. Ông đã luận giải về vấn đề này khi nói đến lịch sử của nguyên tắc trao
đổi ngang giá.
Ông cho
rằng, nhìn bề ngoài, quan hệ phân phối thống trị trong chủ nghĩa tư bản là hoàn
toàn công bằng vì người công nhân đã nhận được hoàn toàn đầy đủ tiền công của
mình theo đúng giá cả đã được thỏa thuận, còn nhà tư bản cũng nhận được phần
còn lại của sản phẩm do đóng góp của anh ta về vốn. Tuy nhiên, trên thực tế,
trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, nguyên tắc trao đổi ngang giá
này đã không được thực hiện đúng như lý thuyết, bởi vì:
Thứ
nhất, quan hệ mua - bán sức lao động không dựa trên sự tự nguyện.
Thứ
hai, sự chiếm hữu giá trị thặng dư của nhà tư bản. Do tính chất đặc thù của
hàng hóa sức lao động là sản sinh ra một lượng giá trị lớn hơn chính nó, cho
nên việc người lao động chỉ nhận được phần tiền công ngang bằng với giá cả lúc
được đem bán trên thị trường chứ không phải ngang bằng với giá trị gia tăng sau
chu trình sản xuất, về thực chất, đó không phải là sự trao đổi ngang giá, công
bằng.
Thứ ba,
phân phối của chủ nghĩa tư bản chủ yếu không phải theo lao động mà theo mức độ
đầu tư tư bản vào sản xuất kinh doanh cho nên, nhà tư bản sẽ độc chiếm phần giá
trị thặng dư trong sản phẩm - thứ mà do chính lao động sản sinh ra.
Đứng
trên lập trường bảo vệ lợi ích của giai cấp vô sản, C.Mác đi đến xây dựng quan
điểm về công bằng phân phối mà nội dung chính yếu của nó là nguyên tắc phân
phối theo lao động mà:
Nền
tảng của nguyên tắc này là sự phát triển kinh tế - xã hội ở mức độ cao.
Tính
nhân văn và cũng là mục tiêu của nguyên tắc này là hướng đến đông đảo người
dân, thỏa mãn lợi ích và nhu cầu chính đáng của họ.
Vai trò
của nguyên tắc này là giải quyết những mâu thuẫn và bất công xã hội qua việc
đảm bảo cơ chế cân bằng lợi ích giữa các cá nhân và các nhóm xã hội.
C.Mác
cũng chỉ ra rằng, tương ứng với một loại hình quan hệ sản xuất chủ đạo của một
hình thái kinh tế - xã hội bao giờ cũng có một nguyên tắc phân phối chủ đạo.
Nguyên tắc phân phối chủ đạo nào càng công bằng hơn (nghĩa là sự hưởng thụ ngày
càng tương xứng với sự cống hiến, đặc biệt là cống hiến bằng lao động vào nền
sản xuất xã hội) thì nó càng tiến bộ hơn, bởi nó giải phóng con người khỏi bất
công và bất bình đẳng xã hội nhiều hơn.
Đồng
thời với việc vạch rõ mặt tiến bộ của nguyên tắc phân phối theo lao động (dựa
trên xuất phát điểm bình đẳng về sở hữu tư liệu sản xuất), C.Mác cũng chỉ ra
những hạn chế của nó khi được áp dụng trong chủ nghĩa xã hội. Đó là, cái ngự
trị trong nguyên tắc phân phối theo lao động này vẫn là nguyên tắc trao đổi
ngang giá trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa [Xem: 1, tr.34].
Như
vậy, có thể tóm lược quan niệm của C.Mác về công bằng phân phối trong 3 điểm cơ
bản sau đây:
Một là,
C.Mác chỉ ra rằng tiền đề của công bằng phân phối là sự bình đẳng về xuất phát
điểm của mỗi cá nhân, quyền của cá nhân đó đối với tư liệu sản xuất. Quyền bình
đẳng này chỉ có được trong chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
Hai là,
nguyên tắc phân phối theo lao động là nguyên tắc phân phối công bằng hơn cả
trong chủ nghĩa xã hội (giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản). Song, nguyên tắc
phân phối theo lao động ở đây không phải là nguyên tắc phân phối theo kiểu bình
quân chủ nghĩa, mà thực chất là sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ.
Ba là,
trong quá trình chuyển đổi từ xã hội tư bản sang xã hội xã hội chủ nghĩa vẫn
tồn tại sự bất bình đẳng ở những phương diện nhất định, và vì thế, vẫn phải tồn
tại một số nguyên tắc phân phối khác.
Ở đây,
có thể khẳng định rằng, tư tưởng công bằng phân phối của C.Mác hình thành không
phải với tư cách một sự đột biến ngẫu nhiên của tư tưởng, mà là kết tinh của cả
quá trình nghiên cứu lâu dài của ông. Nó gắn bó với tư tưởng nhân văn của ông
về một xã hội tương lai đầy tốt đẹp - xã hội cộng sản chủ nghĩa, được xây dựng
trên một nền tảng khoa học với đầy đủ những lập luận vững chắc từ thực tiễn
nhân loại (cho đến lúc đó) và bộc lộ trong những luận cứ khoa học của ông.
Chính vì thế, tư tưởng của C.Mác không đơn thuần là một lý tưởng, mà là một
hiện thực sinh động với mọi chiều cạnh của nó.
Điểm cơ
bản nhất rút ra từ tư tưởng của C.Mác về công bằng phân phối là quan điểm về
nguyên tắc “phân phối theo lao động” - phân phối dựa trên lao động. Theo đó,
mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ phải là tương xứng (ở giai đoạn thấp
của nó là xã hội xã hội chủ nghĩa), còn ở giai đoạn cao, nó là cơ sở cho nguyên
tắc “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”.
Như
vậy, tư tưởng công bằng phân phối của C.Mác là khoa học, bởi nó tồn
tại trên nền tảng của sự xác thực, song cũng là đạo đức bởi nó hướng tới cái
thiện - cái thiện cho toàn nhân loại. Sở dĩ như vậy là vì, C.Mác thấy được
những mâu thuẫn giữa tính hiệu quả và tính đạo đức của hành vi kinh tế, nói
cách khác là khía cạnh đạo đức của hành vi kinh tế. Trên cơ sở đó, ông lựa chọn
nguyên tắc phân phối theo lao động, lấy đó làm nguyên tắc chủ đạo (ông vẫn thừa
nhận những nguyên tắc khác trong giai đoạn quá độ). Bởi lẽ, nguyên tắc phân
phối theo lao động là nguyên tắc phân phối công bằng và nhân văn hơn cả. Tức
là, nó vừa đảm bảo được tính hiệu quả vừa đáp ứng được tính đạo đức - thứ mà
thường ít được nhìn nhận đúng mức trong hoạt động kinh tế, nhất là trong nền
kinh tế thị trường. Với C.Mác, nguyên tắc phân phối công bằng phải là cái đảm bảo
cho phẩm giá của con người, đảm bảo cho sự phát triển toàn vẹn con người.
Tất cả
những lý thuyết công bằng phân phối hiện có khác quan điểm của C.Mác ở chỗ vẫn
lấy nền tảng, xuất phát điểm của chúng là chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản
xuất, từ đó giải quyết vấn đề công bằng phân phối từ những chiều cạnh, lập
trường, quan điểm, cách tiếp cận khác nhau. Những lý thuyết này cho thấy sự đa
dạng của phân phối, song không thống nhất trong cách thức giải quyết vấn đề.
Chẳng hạn, nguyên tắc công bằng phân phối dựa trên sự khác biệt của Rawls có
tính khả thi, muốn giảm thiểu sự bất bình đẳng bằng cách đưa ra cơ chế và hướng
trọng tâm đến nhóm yếu thế, song nó không vượt qua khỏi cái trần bất bình đẳng,
vì thế, là nguyên tắc có ảnh hưởng cả về mặt lý luận và thực tiễn (trong chính
sách của nhiều quốc gia) song vẫn có những hạn chế nhất định, đó là nó không
chỉ ra cách thức làm thế nào để “vượt khỏi cái trần bất bình đẳng” như C.Mác đã
đặt mục tiêu.
Cũng vì
lẽ đó, việc đa dạng hóa các hình thức phân phối trong thời kỳ quá độ là một tất
yếu lịch sử, cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Tuy nhiên, cần phải có
nguyên tắc chủ đạo. Với Việt Nam, nguyên tắc chủ đạo đó là nguyên tắc phân phối
theo lao động.
3. Về các nguyên tắc công bằng phân phối tại
Việt Nam
Tiến trình
nhận thức và vận dụng các nguyên tắc phân phối tại Việt Nam cho đến nay có thể
được cô đọng trong quan điểm của Đảng tại Đại hội lần thứ XI như sau: “Thực
hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng
thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ
thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội” [3, tr.74]. Các nguyên tắc phân phối
trên đây thể hiện sự phát triển về mặt nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ
chỗ chỉ áp dụng một nguyên tắc phân phối đơn nhất sang vận dụng nhiều nguyên
tắc phân phối, từ đó đa dạng hóa các hình thức phân phối. Đây là một hệ thống
các nguyên tắc phân phối có sự bổ trợ cho nhau, tạo nên đặc trưng tổng thể hệ
thống phân phối của Việt Nam hướng đến mục tiêu công bằng. Tại Đại hội XII,
Đảng ta tiếp tục quan điểm này, song cụ thể hóa và đi sâu vào thực thi các
nguyên tắc phân phối này trong thực tiễn qua việc nhấn mạnh vai trò của nhà
nước, thể chế, các công cụ, nguồn lực cho việc thực thi các nguyên tắc này
[Xem: 4, tr.20-21].
Ở đây,
có thể thấy một điều thú vị là, những nguyên tắc mà Đảng Cộng sản Việt Nam chủ
trương vận dụng không nằm ngoài những nguyên tắc phân phối hiện đang được áp
dụng trên thế giới. Việt Nam cũng không áp dụng một cách máy móc, cực đoan một
nguyên tắc phân phối duy nhất nào đó. Trên cơ sở lựa chọn mục tiêu chủ nghĩa xã
hội thì nguyên tắc phân phối chủ đạo vẫn là phân phối theo lao động, nhưng
nguyên tắc này được bổ trợ và xác định cụ thể bởi các nguyên tắc khác phù hợp
với thực tiễn một nền kinh tế đang chuyển đổi ở Việt Nam, như nguyên tắc phân
phối dựa trên sự tương xứng giữa cống hiến và hưởng thụ, nguyên tắc phân phối
dựa trên những đóng góp về nguồn lực,… và thậm chí cả một số điểm của nguyên
tắc phân phối tự do chủ nghĩa khi tôn trọng sự phát triển của các quy luật thị
trường…
Vấn đề
đặt ra hiện nay là: Làm thế nào có thể tương dung, thống nhất được tính hiệu
quả và tính nhân văn của các hành vi kinh tế và rộng ra là của nền kinh tế? Đây
là vấn đề tưởng chừng như mâu thuẫn nhưng lại rất thống nhất với nhau và là một
nhiệm vụ khó khăn đặt ra cho những nhà hoạch định chính sách. Nếu không thực
hiện tốt điều này, thì sự phát triển xã hội sẽ thiếu đi tính hài hòa, cản trở
sự phát triển hoặc phát triển lệch lạc, thậm chí có thể dẫn đến những xung đột
lợi ích và bất ổn xã hội.
Phân
phối với tư cách là một trong những công cụ nhằm thực hiện hài hòa lợi ích của
các bên (cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần) đòi hỏi phải đạt được sự
công bằng; ngược lại sự công bằng phải luôn được quán triệt, được bám sát trong
toàn bộ quá trình phân phối. Chỉ như vậy mới có thể đảm bảo được cả 2 mục tiêu
trên (tính hiệu quả và tính nhân văn). Như vậy, cần phải tiếp cận phân phối
trong toàn bộ tiến trình của nó chứ không chỉ tiếp cận ở một mắt khâu nào đó
của sản xuất, của hoạt động kinh tế, phải từ đầu vào đến đầu ra cũng như trong
từng giai đoạn của quá trình sản xuất và cả quá trình tái phân phối. Trong mỗi
mắt khâu đó, mục tiêu công bằng cần phải được quán triệt. Mỗi một mắt khâu, tùy
thuộc vào tình hình cụ thể, có thể áp dụng nguyên tắc phân phối này hay nguyên
tắc phân phối kia, song mục tiêu cơ bản của toàn bộ quá trình vẫn phải là phân
phối công bằng.
Trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và trong tiến trình
xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, phân phối công bằng là mục tiêu
cuối cùng, song cũng là một thách thức to lớn. Để thực hiện được mục tiêu này
Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo các nguyên tắc phân phối trong từng
giai đoạn, từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, song không xa rời nguyên tắc phải đảm
bảo được lợi ích của đa số đông đảo quần chúng nhân dân lao động, đảm bảo rằng
không có ai bị loại ra bên lề của quá trình phát triển, bị tổn hại lợi ích
trong quá trình phát triển. Đây cũng là mục tiêu của cái gọi là “tăng trưởng bao
trùm” và “phát triển bền vững” mà Việt Nam đang nỗ lực phấn đấu. Nó cũng thể
hiện sự tích cực của Việt Nam thực hiện lời cam kết của các chính phủ nhân ngày
Công bằng xã hội thế giới, (WDSJ - World Day of Social Justice) được tổ
chức vào ngày 20 tháng 2 hàng năm: Cam kết thúc đẩy phân phối công bằng
nguồn thu nhập và quyền tiếp cận tài nguyên nhiều hơn thông qua sự công bằng và
bình đẳng cùng cơ hội cho tất cả mọi người [Xem: 5].
Tóm
lại, từ bình diện triết học, có thể thấy dù muốn hay không thì những nhà kinh
tế thường là những người đầu tiên phải đối mặt với vấn đề công bằng phân phối.
Sự giằng xé giữa tính hiệu quả và tính đạo đức trong các quyết định kinh tế
luôn được đặt ra không chỉ với những nhà kinh tế mà còn với những nhà hoạch
định và thực thi chính sách. Ở đây, cần phải nhận thức rằng, kinh tế học mang
những nội dung đạo đức, tức là nó buộc phải đối mặt với những vấn đề đạo đức,
trong đó có vấn đề công bằng phân phối. Trong lĩnh vực công bằng phân phối này,
sự hợp tác nghiên cứu giữa các nhà triết học kinh tế, những nhà kinh tế học,
những nhà hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội trở thành nhu cầu tất yếu.
Bởi, chỉ có sự phối hợp đó mới mang lại một cái nhìn toàn diện cho vấn đề này,
như đã từng thấy trong lịch sử, và trong hiện tại sự phối hợp này đang ngày
càng trở nên cấp thiết hơn.
Tài
liệu tham khảo
[1]
C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.19, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2]
C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.21, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[3]
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[4]
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,
NxbChính trị Quốc gia, Hà Nội.
[5]https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%A0y_C%C3%B4ng_b%E1%BA%B1ng_x%C3%A3_h%E1%BB%99i_th%E1%BA%BF_gi%E1%BB%9Bi.
[6]
Stanford Encyclopedia of Philosophy, First published Sun Sep 22, 1996;
substantive revision Mon Mar 5, 2007.