Viện Nghiên cứu Văn hóa trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Một số vấn đề về biến đổi văn hóa từ góc nhìn biếm họa” trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia: Văn hóa Việt Nam trong các chiều kích biến đổi, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 2025.
Biếm họa là tranh vẽ theo lối cường điệu đặc điểm của
người, vật, hiện tượng để truyền đạt nội dung phê phán, giễu nhại một cách hài
hước. Ở Việt Nam, khái niệm biếm họa ra đời muộn. Theo một số họa sĩ biếm, từ
biếm họa trở nên phổ biến vào khoảng những năm 1979, 1980, cho dù tranh vẽ theo
lối phê phán, giễu nhại đăng tải trên báo chí ở Việt Nam đã có từ những năm 30
của thế kỷ 20 với nhiều cách gọi khác nhau như tranh đả kích, tranh châm biếm,
tranh phê bình, tranh hài hước, tranh vui, tranh không lời...
Biếm họa sử dụng thông điệp hình ảnh để bình luận các câu
chuyện xã hội, thể hiện rõ thái độ, quan điểm phê phán của người vẽ. Các thông
điệp được truyền dẫn như một diễn ngôn bằng hình ảnh, trở thành một phương tiện
để người dân thể hiện tiếng nói trong các không gian không có sự tương tác trực
tiếp. Biếm họa khác với minh họa, bởi biếm họa là những tranh vẽ có thái độ và
biểu đạt thái độ, không phải dòng tranh đơn thuần minh họa cho một câu chuyện
hoặc tình huống đời sống nào đó.
Sự phát triển của khoa học công nghệ đã mở rộng không
gian trao đổi, tương tác cũng như đem đến điều kiện thuận lợi cho việc sáng tác
và công bố các tranh vẽ biếm hoạ. Trong bối cảnh phát triển của khoa học công
nghệ, hiện nay, rất nhiều trang báo điện tử hoạt động trên không gian mạng đăng
tải biếm hoạ như là một phương tiện để truyền thông hoặc để minh hoạ cho một
nội dung bài báo nào đó có liên quan.
Biếm hoạ: nguồn tư liệu trực quan về biến đổi
văn hoá
Biếm họa không chỉ đơn thuần là một hình thức nghệ thuật
mang tính châm biếm, trào phúng, mà còn là nguồn tư liệu thị giác phản ánh
những chuyển biến trong đời sống văn hoá xã hội từ thời Pháp thuộc đến nay. Các
hoạ sĩ biếm đã đưa nhiều câu chuyện đời thực lên mặt tranh dưới dạng các hình
vẽ để chuyển tải thông điệp phê phán, giễu nhại, giúp độc giả không chỉ thưởng
thức nghệ thuật có tính hài hước mà còn nhận thức sâu sắc hơn về các vấn đề
đang diễn ra trong đời sống hằng ngày.
Ngay từ những biếm hoạ đầu tiên của người Việt Nam ra đời
ở thời kỳ Pháp thuộc, diện mạo một xã hội thuộc địa đã được lột tả qua hình ảnh
người dân gầy gò nhẫn nhục làm thân trâu ngựa kéo xe tay cho các ông chủ thực
dân. Họ bị nô dịch, áp bức, đói khổ, lầm than, bị đánh đập, bóc lột, kìm kẹp
trong nạn sưu cao thuế nặng. Tình trạng của một xã hội thuộc địa còn thể hiện ở
sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư. Một bộ phận người dân thành
thị chạy theo lối sống phương Tây, ưa mặc âu phục, thích đi vũ trường,
khách sạn, học lối ăn uống, giao tiếp kiểu Tây, trong khi phần lớn những người
dân quê “giật thót người khi nghe tiếng ầm ầm và tiếng còi tàu hoả xé nát cõi
yên bình chốn thôn quê… ngơ ngác nhìn cái đèn không dầu, không bấc mà sáng quắc
cả một vùng, ấn vào cái nút con con mà chuông kêu váng óc, hoảng đến đứng tim”
(Lý Trực Dũng, 2011: 20). Còn tầng lớp trí thức thì chìm trong mối lo sợ về một
sự đồng hoá và nô dịch văn hoá.
Xuất hiện từ những thập niên đầu thế kỷ XX, khi báo chí
Quốc ngữ phát triển dưới thời Pháp thuộc, những bức biếm hoạ đăng tải trên
báo Phong Hoá, Ngày Nay, tuần báo Loa… thông qua hai
nhân vật nổi đình đám là Lý Toét, Xã Xệ, đã phác họa sự biến đổi của đời sống
văn hoá Việt Nam khi văn hoá truyền thống mang tư tưởng Nho giáo tiếp xúc với
văn minh phương Tây. Sự xuất hiện trên mặt tranh biếm họa hình ảnh những vật
dụng của văn minh phương Tây như vòi nước công cộng, cột điện, cột cây số, máy
nghe nhạc, cân đồng hồ, ô dù, áo bơi, Âu phục, xe đạp, ô tô, tàu hoả,… hay các
sinh hoạt nhảy đầm, đẻ con lai, đi bơi, dịch vụ nhận gửi hàng, gửi thư, các
hành vi hút thuốc, bắt tay, ôm hôn, chữ Quốc ngữ… đã phản chiếu một xã hội biến
chuyển cả về đời sống vật chất và tinh thần so với xã hội mang tư tưởng Nho
giáo trước đó. Biếm hoạ giai đoạn này đã phản ánh những hiện tượng văn hoá mới
làm thay đổi suy nghĩ, lối sống, hành vi của người dân.
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, biếm họa được
sử dụng làm vũ khí tấn công kẻ thù, thông qua đó cung cấp những chứng tích sống
động về sự biến đổi xã hội. Hình ảnh chiến sĩ, bộ đội cùng nhân dân chủ động
đứng lên đánh giặc giữ làng, giữ nước thay thế cho sự nhẫn nhục, cam chịu của
người dân nước thuộc địa, diễn tả sự thay đổi trong nhận thức về vai trò của
người dân làm chủ đất nước, về tự do, độc lập và giá trị con người. Khi phong
trào cách mạng lan rộng, những thành phần địa chủ, quan lại được cho là tầng
lớp bóc lột nhân dân dần bị đào thải, thể hiện sự chuyển dịch về quyền lực
trong xã hội mới. Hình ảnh chiến sĩ vệ quốc quân những ngày đầu đánh giặc còn
thiếu “chính quy”, ngủ gật trong lớp học, nguỵ trang không đúng cách, quần ống
thấp, ống cao, tư thế gác sai quy định (Lý Trực Dũng, 2011: 52), vừa đánh giặc
vừa sản xuất… nhưng sự quả cảm và lòng yêu nước mạnh mẽ hơn những… trái
núi (tên tranh) đã làm cho giặc khốn đốn, suy yếu và thua đau ở nhiều chiến
trường bằng hầm chông và lối đánh du kích.
Ngoài ra, biếm hoạ còn phản chiếu các vấn đề và diễn biến
của đời sống chính trị thông qua việc đả kích chính quyền như con rối trong tay
thực dân Pháp, bị giật dây để thực hiện các chính sách phản dân hại nước; biếm
hoạ Tổng thống Mỹ Nixon là kẻ giết người, là loại chim sắt khổng lồ (máy bay)
luôn gieo rắc thứ hạt yêu thích (bom); biếm hoạ Tổng thống Việt Nam Cộng hoà
Ngô Đình Diệm đứng phát biểu dưới cái bóng khổng lồ của Mỹ và đồng Đô la hoặc
được Mỹ cứu vớt giữa lúc đen tối nhất của thời cuộc… Biếm hoạ đã lột tả bản
chất lệ thuộc của chính quyền tay sai và phơi bày sự thao túng của các thế lực
ngoại bang.
Không chỉ phản ánh thực trạng chính trị, biếm hoạ còn là
một chứng tích sống động về sự biến đổi văn hóa trong thời kỳ đất nước chiến
tranh. Những bức tranh đả kích chính quyền lệ thuộc, tố cáo tội ác chiến tranh
và thể hiện khát vọng độc lập, đã cho thấy sự chuyển dịch trong nhận thức xã
hội, từ thụ động sang phản kháng, từ cam chịu sang đấu tranh.
Khi đất nước hoà bình và thực hiện công cuộc Đổi mới, vấn
đề chiến tranh và chính trị đối kháng không còn là vấn đề có tính thời sự. Xuất
hiện trong nội dung của biếm hoạ là các vấn đề kinh tế, lối sống thực dụng,
khoảng cách giàu nghèo, sự xuống cấp của đạo đức xã hội. Bản thân sự chuyển
hướng về nội dung đã phản chiếu sự biến đổi của đời sống văn hoá xã hội. Các
nội dung về giá cả thị trường, đặc biệt là giá xăng, dầu, điện, nước, học phí…
luôn là vấn đề được cả xã hội quan tâm, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc
sống thường ngày của người dân lao động. Sự chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp
sang kinh tế thị trường, một mặt, mang lại nhiều cơ hội phát triển, nhưng cũng
dẫn đến chủ nghĩa thực dụng, đề cao lợi nhuận và xem nhẹ các giá trị đạo đức
truyền thống. Nhiều người dân bị cuốn vào cuộc đua làm giàu bằng mọi giá, bất
chấp thủ đoạn và các nguyên tắc đạo đức. Hình ảnh người nông dân đi giữa hai
luống rau: Một luống trồng để “nhà ăn” thì tưới nước, còn luống “để bán” thì
tưới thuốc (trừ sâu hoặc tăng trưởng thực vật). Sự đối lập giữa hai luống rau
phản ánh hai thái độ với sức khỏe cộng đồng. Đây không chỉ là câu chuyện của
ngành nông nghiệp mà còn là biểu tượng cho nhiều hiện tượng tiêu cực khác trong
xã hội, từ an toàn thực phẩm, gian lận thương mại đến vấn đề đạo đức kinh doanh
nói chung.
Sự xuất hiện của nhiều tranh vẽ về ô nhiễm nguồn đất,
nguồn nước, không khí, tiếng ồn, rác thải từ các làng nghề, nhà máy, khu công
nghiệp… đẩy ô nhiễm môi trường trở thành vấn đề nổi cộm trong đời sống xã hội,
bộc lộ mặt trái của đô thị hóa và phát triển công nghiệp thiếu kiểm soát. Hình
ảnh dòng sông đen kịt chảy qua khu dân cư, những cánh đồng bị “bê tông hóa”,
bầu trời mịt mù khói bụi là lời cảnh tỉnh về cái giá của tăng trưởng kinh tế
thiếu bền vững, khi chất lượng cuộc sống con người bị đánh đổi bằng lợi ích
trước mắt.
Hiện tượng quan liêu, nhũng nhiễu trong bộ máy công quyền
cũng là chủ đề nổi bật trong biếm họa, phản ánh một bộ máy trì trệ, thiếu trách
nhiệm, lạm quyền. Hình ảnh người cán bộ thờ ơ, nhắm mắt ngồi thiền trên hàng
chồng đơn tố cáo; người dân ngơ ngác trước thái độ đùn đẩy trách nhiệm từ phòng
ban này sang phòng ban khác mỗi khi có việc đến cửa quan chỉ để làm một thủ tục
đơn giản; đôi tay người nông dân bỗng gầy trơ xương chỉ sau cái bắt tay với
quan tham nhũng… Các nội dung này không chỉ đề cập tới thực trạng của nhiều
hiện tượng tiêu cực trong xã hội, mà còn phản chiếu sự chuyển biến của đời sống
văn hoá, của lối sống cá nhân, vị kỷ, vô cảm dần nhen nhóm trong một xã hội vốn
trọng tình cảm cộng đồng đã được đúc kết qua tục ngữ “lá lành đùm lá rách”,
cùng nhau vượt qua khó khăn. Tư lợi và sự ích kỷ là nguồn cơn dẫn đến nạn tham
nhũng, tham ô xuất hiện trong nhiều ngành nghề làm thay đổi lối sống và cách
ứng xử trong các mối quan hệ xã hội.
Đặc biệt hiện nay, các vấn đề toàn cầu hoá và công nghệ,
sự phát triển của mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo chi phối và làm thay đổi cách
con người sống, làm việc và tương tác. Con mắt hài hước và phản biện của hoạ sĩ
đã biếm hoạ về sự lệ thuộc của con người vào công nghệ, mất đi sự tự chủ và tư
duy độc lập; về sự thao túng của thông tin giả dẫn dắt dư luận; về lối sống ảo,
phá vỡ sự kết nối giữa con người với con người và với cộng đồng; về tấn công và
bạo lực mạng; về sự xâm phạm đời sống riêng tư của người khác để kiếm sống… Tác
giả Nguyễn Mạnh Tiến khi vẽ bức tranh Khi đời tư cũng trở thành món ăn
nhanh, đã sử dụng hình ảnh bắp ngô và món bắp rang bơ khoái khẩu để ám dụ
cho một món ăn rất được ưa thích của các Youtuber (người sáng tạo nội dung trên
nền tảng Youtube) thời nay, đó là thông tin cá nhân, các sự kiện liên quan đến đời
tư của những người nổi tiếng. Để tăng tính cạnh tranh của kênh Youtube mình sở
hữu, tăng lượt xem và lượt tương tác từ đám đông những người hiếu kỳ trên không
gian mạng (đồng nghĩa với việc tăng nguồn thu tài chính do Youtube chi trả),
những người sáng tạo nội dung trên nền tảng Youtube không ngần ngại thu thập và
phát tán các thông tin cá nhân của người khác lên không gian mạng một cách
thiếu đạo đức và thiếu tôn trọng quyền riêng tư. Sự quan tâm một cách hăng hái
và bất chấp đạo đức, phép lịch sự tối thiểu của nhóm người này bị phê phán
trong hình ảnh ám dụ của loài ruồi (tranh của hoạ sĩ DAD). Sự tập trung đông
đúc của Youtuber với hàng nghìn cái điện thoại hướng vào sự kiện cả vui lẫn
buồn của người nổi tiếng đến mức khiến cho loài ruồi vốn có tập quán “bu đậu”
cũng phải tìm đường bỏ đi vì “làm gì còn chỗ cho bọn mình”.
Tác giả: Đỗ Anh Dũng (DAD), 2023 -
Nguồn: Tạp chí Tuổi Trẻ Cười, Số 711 (15/3/2023)
Qua những gì đã trình bày, có thể thấy, xuất hiện từ thời
Pháp thuộc đến nay, biếm họa Việt Nam không chỉ là công cụ châm biếm, mà còn
ghi lại những dấu ấn quan trọng của lịch sử và đời sống văn hoá xã hội. Biếm
họa phản ánh tinh thần phản kháng thời thuộc địa, tinh thần chiến đấu thời
kháng chiến và những chuyển biến văn hóa ở thời hiện đại. Tranh biếm hoạ cho
chúng ta nhận thức hiện tại khác với quá khứ, không chỉ qua những thông tin và
nội dung được chuyển hoá thành hình vẽ, mà còn qua trải nghiệm và sự kiểm chứng
ở mỗi người. Đó là nguồn tài liệu trực quan về sự biến đổi văn hoá qua thời
gian và sẽ chưa dừng lại.
Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang sống trong thời
đại của những thay đổi lớn. Các vấn đề nổi cộm có thể được nhận diện thông qua
những chủ đề được xác lập cho các cuộc triển lãm biếm hoạ được tổ chức trong
những thập niên đầu thế kỷ XXI: Hướng về Biển Đông; Công khai, minh
bạch; Tiết kiệm điện, bảo đảm an ninh năng lượng Quốc gia; Phòng, chống tham
nhũng; Giao thông thời hội nhập; Môi trường và biến đổi sinh thái; Ứng xử văn
hoá, xã hội văn minh… Từ các chủ đề được xác lập cho đến ý tưởng thể
hiện của hàng trăm bức tranh trong mỗi cuộc triển lãm; hàng nghìn bức tranh
đăng tải trên báo chí hằng năm, tất cả đều phản chiếu một xã hội đang biến
chuyển với những vấn đề văn hoá mới và mỗi thành viên trong xã hội đều tham dự
vào sự biến đổi đó theo những cách khác nhau.
Như vậy, với đặc điểm thể hiện nội dung tiệm cận với đời
sống xã hội, biếm hoạ, tự thân đã phản chiếu sự biến đổi văn hoá thông qua
những câu chuyện, hiện tượng xã hội. Ở đó, sự biến đổi văn hóa được phản chiếu
qua lối sống, lối suy nghĩ, qua cách con người ứng xử với các giá trị truyền
thống và hiện đại, qua mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, cũng như giữa
công dân và chính quyền.
Biếm hoạ và sự biến đổi văn hoá trong bối cảnh
xã hội hiện nay
Nội dung nghiên cứu này dựa trên sự lựa chọn hữu ý các
dẫn dụ tranh biếm hoạ về tham nhũng, bởi, trong vô vàn các vấn đề mà biếm
hoạ phê phán, vấn đề tham nhũng chiếm số lượng tranh tương đối lớn. Mặc dù khó
có thể thống kê để đưa ra con số chính xác, nhưng có thể thấy rõ rằng, đây là
một đề tài không chỉ xuất hiện ở hầu hết các cuộc thi, các triển lãm biếm hoạ
và đăng tải báo chí, mà còn bao trùm nhiều lĩnh vực và ngành nghề khác nhau. Từ
bộ máy hành chính, tư pháp, kinh tế đến giáo dục, y tế, không nơi nào miễn
nhiễm trước vấn nạn này. Chính sự phổ biến của biếm hoạ về tham nhũng cho thấy,
đây là một vấn đề nhức nhối, nổi cộm trong đời sống xã hội, đồng thời phản ánh
sự biến đổi của văn hóa quản trị và đạo đức công quyền.
Tham nhũng không phải là vấn đề riêng của xã hội hiện
đại, mà là một hiện tượng tồn tại trong nhiều xã hội, ở nhiều thời kỳ khác
nhau. Ở thời điểm hiện tại, tham nhũng từ hình thức hối lộ, lợi dụng quyền lực
để trục lợi cá nhân đã mở rộng sang các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Hình
thức tham nhũng tinh vi hơn, biến tướng thành những đặc quyền, lợi ích nhóm,
thao túng chính sách hoặc chuyển hóa tài sản qua các kênh đầu tư hợp pháp. Sự
móc nối giữa các nhóm lợi ích tạo nên những mạng lưới tham nhũng chằng chịt,
khiến việc phát hiện và xử lý trở nên khó khăn hơn. Chính vì vậy, biếm họa về
tham nhũng ngày nay cũng thay đổi mạnh mẽ. Không còn đơn thuần phê phán hiện
tượng tham nhũng một cách vu vơ và chung chung, không rõ tham nhũng gì và ở
đâu, biếm hoạ về tham nhũng hiện nay trực diện hơn khi đi thẳng vào các vấn đề
cụ thể, từ vấn đề ở từng ngành nghề, từng cá nhân, đến những bất cập trong hệ
thống quản trị, sự thờ ơ của một bộ phận xã hội trước các vấn đề đạo đức công
quyền và cả những nỗ lực chống tham nhũng chưa thực sự hiệu quả.
Tiêu cực nảy sinh trong môi trường khám chữa bệnh là vấn
đề nhạy cảm, khi nêu ra dễ dẫn đến tổn thương với tâm huyết và sự hy sinh của
đội ngũ y bác sĩ làm nhiệm vụ cứu người, nhưng thực tiễn có không ít những vấn
đề cần phê phán. Sản xuất thiết bị y tế giả; nâng khống giá vật tư y tế; bác sĩ
vi phạm quy định khám chữa bệnh, thiếu trách nhiệm, nhầm lẫn trong điều trị
bệnh nhân; vẽ bệnh moi tiền; nhận hối lộ; buôn bán thuốc giả; trục lợi quỹ bảo
hiểm y tế; cò bệnh viện (những người dẫn dụ bệnh nhân, móc nối khám chữa bệnh)…
Những tiêu cực trong ngành y hết sức nguy hiểm vì nó liên quan trực tiếp tới
sinh mạng con người. Đạt giải Ba Giải Biếm hoạ báo chí Việt Nam lần IV, bức
biếm hoạ của tác giả Trần Hải Nam (N9) như một lời tổng kết, sau tất cả, ngành
y với biểu tượng chữ thập đỏ, cần được chính đội ngũ những người làm nghề
y Chỉnh trang để ngày càng tốt đẹp hơn trong
sự mong đợi của bệnh nhân và toàn xã hội.

Tham nhũng diễn ra ở nhiều lĩnh vực ngành nghề với nhiều
biểu hiện, cấp độ khác nhau, vì thế đã trở thành chủ đề được bình luận đa
chiều, đa nghĩa trong biếm họa theo cách của những họa sĩ - dùng hình vẽ
thay ngôn ngữ lời nói. Liên quan đến việc kê khai tài sản, câu chuyện quan chức
“buôn chổi đót”, “chạy xe ôm”, “nuôi heo” để có tiền xây biệt phủ tráng lệ là
cách giải trình nguồn gốc tài sản đầy bất minh và khó hiểu. Vỏ bọc của
tác giả N9, tác phẩm đạt giải Ba cuộc thi biếm họa “Phòng, chống tham nhũng”,
coi việc buôn chổi đót, chạy xe ôm, nuôi heo là vỏ bọc lương thiện và hiền lành
mà quan chức đã sử dụng để che đậy cho những việc làm và mưu toan làm giàu bất
chính. Bức tranh không mô tả chân dung của nhân vật bị phê phán, song tất cả
những chi tiết xuất hiện trong bức tranh đều có tính quy chiếu tới những sự
việc có thật, dẫn dắt độc giả liên hệ với thực tế để nhận diện chân dung của vị
quan tham ngoài đời thực.
Nếu như ở các nước phương Tây, họa sĩ có thể tự do biếm
họa các nhân vật quyền lực, các nguyên thủ quốc gia như thủ tướng, tổng thống,
người đứng đầu giáo phái… một cách trực diện, tả thực chân dung hay ngoại hình
thì ở Việt Nam, việc mô tả chân dung các nhân vật quyền lực trong các biếm họa
công bố chính thống không được khuyến khích. Có nhiều lí do và theo ông Lý Trực
Dũng - người vẽ biếm hoạ kỳ cựu và luôn có mặt trong thành phần Ban giám khảo
các cuộc thi biếm hoạ, “mặc dù không đặt ra vùng cấm, song các họa sĩ biếm nên
cân nhắc khi vẽ chân dung một nhân vật cụ thể. Nhân vật đó đã bị toà tuyên án
thì không sao. Nhưng nếu toà chưa ra phán quyết mà nghệ sĩ vẽ họ là vi phạm
pháp luật” (Trọng Trường, 2018).

Mặc dù bức tranh biếm họa không mô tả chân dung sinh học
của vị quan với các đặc điểm của mắt, tai, mũi, miệng, không bình luận, phê
phán thẳng thừng và lộ liễu, song tất cả những chi tiết xuất hiện trong bức
tranh đều có tính quy chiếu tới những sự việc có thật, khắc họa chân dung xã
hội của vị quan tham bằng những việc họ đã làm, cách họ sống, cách họ ứng xử,…
Buôn chổi đót để có tiền tỉ xây biệt thự là sự giải thích dối trá, thiếu minh
bạch trong hoạt động kê khai tài sản. Tính quy chiếu của chi tiết/hình vẽ tạo
nghĩa cho phát ngôn, giúp độc giả đọc văn bản bằng cách kết nối với hiện thực,
cho dù bức tranh không có lời diễn giải, cũng không đặc tả chân dung vị quan
tham. Bằng phương thức quy chiếu, bức vẽ vượt qua những cấm kị, khéo léo đưa ra
những thông tin làm hiển lộ nhân vật mà không cần phải vẽ thật giống về mặt
sinh học, để các nhân vật quyền lực, dù phiếm chỉ nhưng vẫn rõ hình hài, đồng
thời đạt được mục đích phê phán trong bối cảnh nhiều thách thức của sự kiểm duyệt.
Sự phổ biến của đề tài tham nhũng trong biếm họa không
chỉ phản ánh mức độ nghiêm trọng và lan rộng của vấn nạn này mà còn cho thấy sự
thay đổi trong tư duy văn hóa, từ việc chấp nhận, cam chịu, hoặc bao che, né
tránh đến tinh thần đấu tranh mạnh mẽ hơn, hay thái độ tiếp thu cởi mở hơn
trong việc đối diện với những vấn đề nhức nhối của đất nước. Các họa sĩ biếm
không chỉ đóng vai trò phản ánh hiện thực, mà còn trở thành những “chiến binh”
trên mặt trận chống tiêu cực, dùng nét vẽ sắc sảo để vạch trần cái xấu, phản
biện và thúc đẩy tinh thần trách nhiệm xã hội.
Mặc dù khi xuất hiện trên báo chí, biếm họa luôn chịu sự
kiểm duyệt chặt chẽ, song các biếm họa về tham nhũng xuất hiện nhiều trong giai
đoạn hiện nay khơi gợi sự chú tâm đến vấn đề về bối cảnh. Ở Việt Nam, báo chí
không chỉ là phương tiện truyền thông mà còn là một phần không tách rời của hệ
thống chính trị. Một trong những điều luật quan trọng xác định, báo chí là cơ
quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước (Điều 4, Luật Báo chí), đóng vai
trò như phát ngôn viên chính thức, thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền các chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước tới người dân, đồng thời
có nhiệm vụ bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước. Dù báo chí Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Nhà nước và một đảng duy
nhất, hoạt động dưới sự kiểm soát chặt chẽ, nhưng việc đăng tải biếm họa phê
phán các vấn đề xã hội, các quan chức lãnh đạo hay quyền lực xã hội vẫn được
chấp nhận và thực hiện trong khuôn khổ phù hợp. Điều này cho thấy biếm họa
không chỉ được sử dụng để phê phán những cá nhân sai phạm, mà quan trọng hơn,
việc cho phép đăng tải biếm họa về tham nhũng đóng vai trò như một cơ chế “van
xả” an toàn để điều tiết những căng thẳng xã hội.
Với người dân, tranh biếm họa ở Việt Nam là không gian
cất lên tiếng nói của những người không có quyền lực cao trong xã hội. Nó là
tiếng nói từ dưới lên, bày tỏ quan điểm phê phán, phản kháng trước những vấn đề
bất công hoặc sai trái mà người dân bình thường có thể gặp phải, nhưng không dễ
dàng diễn đạt hoặc không có không gian, diễn đàn để tiếng nói của người dân có
thể kết nối được với các cơ quan công quyền. Tranh biếm họa ở Việt Nam thường
hướng sự chỉ trích, phê phán vào các quan chức tham nhũng, những người lạm dụng
quyền lực để trục lợi cá nhân. Các hình ảnh quan tham bụng to, quan chức bóc
lột dân hay những người có vị thế, có quyền lực nhận phong bì,… là những biểu
tượng phản ánh sự bất công mà người dân phải chịu đựng. Khi hoạ sĩ thể hiện các
vấn đề như bất công, áp lực xã hội, hay những mâu thuẫn nhỏ nhặt hằng ngày,
khán giả nhận thấy đó không còn là câu chuyện của riêng mình mà là câu chuyện
của nhiều người và hoạ sĩ đã thay người dân cất lên tiếng nói chung. Cảm giác
được chia sẻ ngay lập tức giúp giải toả tâm lý lo lắng hay ức chế. Như vậy,
biếm họa vừa là tiếng nói, vừa là nơi người dân được giải tỏa bức bối. Qua mỗi
bức tranh, người xem nhận ra tiếng nói đại diện cho những điều họ muốn bày tỏ.
Áp lực căng thẳng sẽ hạ nhiệt khi những bức xúc dồn nén được nói ra. Đây là
diễn biến tâm lý tự nhiên theo cơ chế van xả.
Khi con người đối mặt với áp lực hoặc cảm giác bất công,
nhu cầu tự nhiên là mong muốn được chia sẻ, giải toả cảm xúc để giảm bớt gánh
nặng tinh thần. Việc được “nói ra” và “nói được ra” giúp giảm thiểu cảm giác cô
lập, bế tắc hay bất lực, đồng thời khôi phục sự cân bằng tâm lý. Như chia sẻ
của hoạ sĩ Trần Thanh Trung (Cua Con) về nghề vẽ biếm hoạ: “Hầu hết các hoạ sĩ
biếm đều coi biếm hoạ là nghề tay trái, vẽ vì niềm đam mê, vẽ sao cho bớt những
tiêu cực trong xã hội hoặc để trút bực bõ” (Phan Thi Uyên, 2015) đã phần nào
khẳng định chức năng xả áp của biếm hoạ.
Với khả năng biến những điều tiêu cực thành tiếng cười,
biếm hoạ đã tạo ra một lối thoát phi bạo lực cho những căng thẳng xã hội. Thay
vì nguy cơ thể hiện sự bất mãn, phản đối bằng các hành vi bạo lực, phá phách,
đối đầu hoặc lời nói công kích, chửi bới, thoá mạ,… những bức xúc của người dân
được “xả áp” thành sự châm biếm hài hước. Hoạ sĩ biếm đã chuyển hoá những bức
xúc của cộng đồng thành những lời phê phán bông đùa trong tranh biếm hoạ, khiến
người dân có thể cười trước nghịch cảnh của đời sống.
Ở chiều cạnh khác, khi được đăng tải trên báo chí, biếm
hoạ về tham nhũng không chỉ dừng ở việc phê phán cá nhân sai phạm, mà còn được
chính quyền sử dụng như van xả an toàn để kiểm soát các căng thẳng trong xã
hội. Khi nhìn nhận những bức tranh biếm như một kênh thông tin phản ánh đời
sống xã hội, chính quyền dễ dàng tiếp nhận và có cơ sở để điều chỉnh, hoặc cải
thiện các vấn đề bất cập mà không cần phải đối diện với áp lực từ sự đối đầu
hay xung đột. Chính quyền sử dụng biếm hoạ để điều chỉnh sự “tăng áp” của các
căng thẳng xã hội khi có các biến cố nào đó xảy ra, ví dụ như các vụ việc về
tranh chấp, chiếm dụng đất công, ô nhiễm môi trường biển, ô nhiễm làng nghề,
phát triển đô thị mất kiểm soát, chủ quyền biển đảo bị đe doạ,…
Cơ chế kiểm duyệt của báo chí theo luật pháp là bộ lọc để
những phê phán hài hước, bông đùa của biếm hoạ thực hiện vai trò giải phóng áp
lực xã hội mà không làm tổn hại đến lợi ích chung, đặc biệt là lợi ích của
chính quyền. Thay vì để các luồng ý kiến đối lập tràn lan và khó kiểm soát trên
các phương tiện phi chính thống, chính quyền tạo ra một không gian nghệ thuật
có kiểm duyệt để định hướng nội dung phê phán một cách khéo léo. Vì vậy, thực
tế cho thấy, biếm họa có thể châm biếm những vấn đề tiêu cực, phê phán những
quan chức chính quyền tham nhũng nhưng vẫn không vượt qua các giới hạn chính
trị nhạy cảm. Đặc biệt biếm hoạ không phê phán các nhà lãnh đạo chính trị, cũng
như đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Khi chính quyền “mở ngỏ” để biếm họa châm biếm những vấn
đề tiêu cực trong xã hội, trong đó phần nhiều là phê phán quan chức tham nhũng,
chính quyền đã sử dụng biếm họa như một công cự truyền thông thể hiện cam kết
của Đảng và Nhà nước trong việc xử lý tham nhũng, nhấn mạnh quyết tâm làm trong
sạch bộ máy. Việc công khai các biếm hoạ về sai phạm trong chuyến bay giải cứu,
hay kit test xét nghiệm COVID-19,… không chỉ là sự phản ánh thực tế, mà còn
khẳng định rằng chính quyền không bao che cho những sai phạm, kể cả sai phạm
của những cá nhân trong nội bộ, sẵn sàng loại bỏ các phần tử thoái hóa, biến
chất, từ đó củng cố vai trò lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước.
Khi hành vi sai phạm của quan chức lãnh đạo, trong đó có
cả quan chức cấp cao, được chấp nhận bị đem ra phê phán công khai trên báo chí
thông qua biếm hoạ, nó tạo ra áp lực đối với các quan chức trong việc duy trì
liêm chính và tránh tham nhũng. Động thái này của chính quyền khiến người dân
thêm tin tưởng, và biến người dân trở thành đồng minh trong việc phát hiện, phê
phán các sai phạm trong xã hội. Một bức tranh biếm họa về quan chức tham nhũng
có thể khiến người dân cảm thấy chính quyền đang đứng về phía họ để giải quyết
vấn đề, từ đó tăng cường lòng tin của người dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà
nước, khuyến khích người dân đồng lòng với các chiến lược của chính quyền. Một
bức biếm họa phê phán các thủ tục hành chính phức tạp hay quan chức thiếu trách
nhiệm không chỉ giúp người dân giải tỏa ức chế, mà còn cho thấy chính quyền
thừa nhận vấn đề, đủ sức mạnh để đối diện thẳng thắn với tiêu cực, từ đó củng
cố niềm tin của người dân về việc chính quyền sẽ cải thiện hệ thống. Việc chấp
nhận những phê phán và thừa nhận vấn đề tồn đọng là một cách chính quyền thể
hiện điểm đứng của chính quyền là về phía người dân, là đồng minh của nhân dân.
Việc Đảng quyết liệt thực hiện công cuộc chống tham nhũng, tổ chức cuộc thi
biếm hoạ chủ đề Phòng, chống tham nhũng, đăng tải biếm hoạ chống tham nhũng,…
thu hút được sự đồng tình của người dân.
Ở một tầm nhìn rộng mở hơn, trong bối cảnh chính trị và
xã hội phức tạp, việc cho phép đăng tải biếm họa trên báo chí chính thống dưới
sự kiểm duyệt trở thành một chiến lược quan trọng trong việc tạo ra không gian
để người dân tham gia vào đời sống chính trị một cách gián tiếp. Điều này đặc
biệt có ý nghĩa trong những tình huống nhạy cảm, nơi tiếng nói chính thức của
Chính phủ cần được cân nhắc cẩn trọng để tránh ảnh hưởng đến quan hệ ngoại
giao, sự ổn định chính trị và an ninh quốc gia và an ninh khu vực. Cụ thể, ngay
khi Trung Quốc hạ đặt dàn khoan dầu khí Hải Dương 981 vào khu vực đặc quyền
kinh tế của Việt Nam trên Biển Đông ngày 02/05/2014, sau đó không lâu, cuộc
triển lãm Hướng về Biển Đông đã được Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ
chức vào ngày 30/06/2014 tại Hà Nội, trưng bày 86 bức biếm hoạ của 35 họa sĩ
thể hiện tinh thần phản đối của người dân Việt Nam trước hành vi vi phạm
luật pháp Quốc tế của Trung Quốc. Trong bối cảnh các tranh chấp lãnh thổ, lãnh
hải thường có nguy cơ leo thang thành xung đột, việc sử dụng các công cụ phi
quân sự để bảo vệ lợi ích, an ninh, an toàn của quốc gia là một lựa chọn chiến
lược cẩn trọng. Biếm họa, với khả năng truyền tải thông điệp qua hình thức hài
hước và châm biếm, đã được sử dụng như một phương tiện truyền thông hữu hiệu,
gián tiếp thể hiện quan điểm chính trị hay tuyên bố của Đảng và Nhà nước, định
hướng dư luận trong nước và quốc tế khi nhìn nhận về tranh chấp hoặc xung đột
liên quan đến chủ quyền của quốc gia. Có thể nói, đây là cách ứng xử ngoại giao
mềm mại nhưng có sức mạnh, giúp Nhà nước Việt Nam thể hiện lập trường trong
giải quyết xung đột mà không làm tổn hại đến quan hệ ngoại giao, hoặc gây căng
thẳng quân sự vốn không có lợi cho quốc gia. Có thể coi biếm hoạ là cánh tay
nối dài đắc lực của đảng cầm quyền, gián tiếp thể hiện quan điểm chính trị hay
tuyên bố của Đảng và Nhà nước trong các bối cảnh chính trị nhạy cảm mà đôi khi,
tiếng nói chính thức không thuận lợi và đạt hiệu quả. Biếm hoạ trở thành phương
tiện truyền đạt khéo léo những thông điệp, định hướng, khát vọng của Đảng và
Nhà nước trong sự nghiệp lãnh đạo và phát triển đất nước, trong các phương diện
đối nội và đối ngoại.
*
* *
Biếm hoạ được biết đến là nghệ thuật châm biếm, nghệ
thuật phản kháng, nhưng ẩn sau những đường nét hài hước và châm biếm, biếm hoạ
còn đóng góp một trường nhìn về biến đổi văn hoá. Với tính năng thể hiện các
vấn đề có tính thời sự, bám sát hiện thực, biếm hoạ trở thành ảnh xạ của đời
sống văn hoá, tự thân phản chiếu sự biến chuyển của đời sống văn hoá khi thể
hiện nội dung tiệm cận với các vấn đề của đời sống theo từng giai đoạn lịch sử,
những thay đổi trong tư duy, lối sống, cách ứng xử, trong các quan niệm về giá
trị và mối quan tâm của con người.
Sự thay đổi trong cách biếm hoạ được sáng tác và được sử
dụng trong đời sống xã hội hiện nay cho thấy các biểu hiện sống động và thời sự
của biến đổi văn hoá. Biếm hoạ như một thứ “van xả” có chức năng điều tiết căng
thẳng xã hội, là cầu nối giữa chính quyền và người dân trong mối quan hệ tương
tác, liên quan đến phương thức quản trị xã hội. Biếm họa trở thành một kênh
giao tiếp gián tiếp giữa người dân và chính quyền, thể hiện sự chuyển
dịch trong văn hóa quản trị từ chỗ áp đặt, kiểm soát tuyệt đối sang việc thừa
nhận và dung nạp tiếng nói phản biện trong một chừng mực nhất định, trong đó
đáng quan tâm là việc sử dụng biếm hoạ một cách khéo léo để điều tiết các căng
thẳng và xung đột xã hội
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lý Trực Dũng (2011), Biếm họa Việt Nam, Nxb.
Mỹ thuật, Hà Nội.
Luật Báo chí 2018, https://thuvienphapluat.vn, truy cập
ngày 23/03/2024.
Phan Thi Uyên (2015), “Biếm hoạ không phải là minh hoạ”,
https://cand.com.vn, đăng ngày 23/5/2015, truy cập ngày 22/4/2023.
Trinh Nguyễn (2018), “Thi biếm hoạ chống tham nhũng!”,
https://thanhnien.vn, đăng ngày 23/6/2028, truy cập ngày 25/10/2024.
Trọng Trường (2018), “Cuộc thi vẽ tranh biếm hoạ về nạn
tham nhũng”, https://vnexpress.net,
đăng ngày 25/6/2018, truy cập ngày 25/6/2024.