Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung bài viết “Người Hoa ở Nam Định (cũ) qua tư liệu Hán Nôm” của TS. Phan Thị Hoa Lý (Viện Nghiên cứu Văn hóa).
Trong lịch sử, Nam Định
có hệ thống sông ngòi, bến cảng dày đặc (sông Hồng, sông Đào, sông Đáy), rất
thuận lợi cho giao thông vận tải đường thủy. Nơi đây từng là một trung tâm hành
chính, kinh tế, văn hóa sôi động và quan trọng của khu vực Bắc Bộ, thu hút
nhiều thương nhân tới sinh sống, làm ăn, buôn bán, trong đó có người Hoa. Tại
Nam Định, người Hoa đã có mặt từ rất sớm. Quá trình di cư của họ đến vùng đất
này diễn ra liên tục, qua nhiều thời kỳ. Hầu hết các đợt di cư của người Hoa
đến Việt Nam đều có người Hoa di cư đến Nam Định.
Hiện nay, thông tin về
người Hoa ở Nam Định cũ nói chung hay về quá trình di cư của họ tới vùng đất
này nói riêng vẫn còn hạn chế, Tính đến thời điểm hiện tại, mới chỉ có một vài
công trình nghiên cứu/bài viết được công bố như: Thần tích đền Thiên
Hậu - dấu tích xã Minh Hương xưa của Nguyễn Hồng Mao (1997), Quá
trình tụ cư của người Hoa ở Nam Định của Trần Thị Thái Hà
(2011), Đền Hàng Sắt Dưới - Di sản văn hóa Thành Nam của Song
Thọ (2012), Độc đáo món mì vằn thắn của gia đình người Hoa ở thành phố
Nam Định của Hoa Xuân (2015), Sự giao lưu văn hóa trong tín
ngưỡng thờ Thiên Hậu của Phan Thị Hoa Lý và Bùi Thị Thiên Thai
(2022), Dấu ấn ẩm thực người Hoa trên phố cổ Thành Nam xưa của
Tâm Minh (2023), Trăm năm thương nhớ sìu châu, xíu páo của
Trần Kiệt (2024) và Công trình kiến trúc độc đáo của người Hoa ở Nam
Định của Lương Hà (2025).
Giai
đoạn từ thế kỉ X trở về trước
Một số công trình nghiên
cứu cho rằng, các làn sóng di cư của người Hoa đến lãnh thổ Âu Lạc (vùng đất
tương ứng với một phần miền Bắc Việt Nam ngày nay) đã bắt đầu từ cuối thế kỉ
III TCN, gắn liền với cuộc xâm lược của nhà Tần do Tần Thủy Hoàng phát động. Từ
thời điểm đó cho đến khoảng thế kỉ thứ X, Âu Lạc trở thành nơi cư trú của nhiều
nhóm người gốc Hoa, bao gồm dân tị nạn chính trị, người di cư tự do, thợ thủ
công, thương nhân và binh lính đồn trú (Châu Hải, 1992; Nguyễn Văn Huy, 1993).
Một bộ phận trong số này sống xen cư với cư dân bản địa, kết hôn với người sở
tại và dần dần hòa nhập vào cộng đồng địa phương. Theo các ghi nhận lịch sử,
vào thời điểm này, trên lãnh thổ Việt Nam có đến hàng chục vạn người gốc Hoa.
Khi Ngô Quyền giành lại quyền tự chủ, ông đã cho đưa trở về Trung Hoa 87.000
người, còn những người tự nguyện ở lại thì được ghi tên vào sổ đinh và được đối
xử như các cư dân Việt (Trần Khánh, 2001, 2002; Dương Văn Huy, 2023).
Tư liệu Hán Nôm còn lại
liên quan đến sự hiện diện của người Hoa ở Nam Định cũ trong giai đoạn này
không nhiều và nội dung chủ yếu phản ánh các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm
của cư dân địa phương. Theo ghi chép của Nguyễn Ôn Ngọc, người Hoa có mặt ở khu
vực này từ rất sớm, ít nhất là từ thời Tần Thuỷ Hoàng (259-210 TCN), gắn với
hoạt động quân sự và hành chính của nhà Tần tại Giao Châu. Một tài liệu được
ông trích dẫn cho biết: “Tần Thuỷ Hoàng sai Nhâm Hiệu làm Thái thú Giao
Châu, thuyền đi qua đây không tiến lên được, mới gọi chỗ này là đất Đại Ác rồi
đặt tên huyện luôn” (Nguyễn Ôn Ngọc, 1893: 51). Về mặt địa danh, Đại Ác là
tên một cửa biển, tương ứng với cửa Lạch Giang, nơi sông Ninh Cơ đổ ra biển
Đông. Đây cũng là khu vực phân chia ranh giới giữa hai huyện Nghĩa Hưng và Hải
Hậu của tỉnh Nam Định cũ, hiện thuộc địa bàn các xã Rạng Đông và Hải Thịnh,
tỉnh Ninh Bình. Những ghi chép này cho phép giả định rằng người Hoa đã hiện
diện ở khu vực Nam Định từ thế kỉ thứ III TCN, sớm hơn so với ý kiến cho rằng:
“Người Hoa đầu tiên ở Nam Định được tư liệu Hán Nôm của địa phương ghi nhận
có lẽ là Trần Lãm - một trong mười hai sứ quân ở thế kỉ X” (Trần Thị Thái
Hà, 2011: 53).
Đến thời nhà Hán (202 TCN
- 220), dấu ấn của các cuộc xâm lược từ phương Bắc tiếp tục được phản ánh trong
truyền thuyết dân gian và hệ thống địa danh trên địa bàn huyện Vụ Bản cũ (nay
thuộc các xã: Minh Tân, Hiền Khánh, Vụ Bản, Liên Minh). Tư liệu Hán Nôm địa
phương ghi chép về một vị tướng họ Lữ với nội dung như sau: “Ngày xưa Lữ Gia
đánh nhau với quân Hán bị thua, bị chém mất đầu nhưng còn chạy về được tới xã
Đăng Gôi mới ngã ngựa chết, thường hiển rõ linh ứng. Dân chúng dựng đền lên ở
chân núi Gôi để phụng thờ” (Nguyễn Ôn Ngọc 1893: 44-45). Cũng tại huyện Vụ
Bản, địa danh núi Trang Nghiêm được truyền tụng là nơi vị tướng này bị quân Hán
bắt: “Tương truyền tướng nhà Triệu là Lữ Gia bị quân nhà Hán bắt ở đấy. Trên
núi có chùa Bảo Đài. Chân núi có đền thờ thần núi” (Nguyễn Ôn Ngọc, 1893:
37).
Cuối thế kỉ X, thời kỳ
nhà Tống xâm lược Đại Cồ Việt, khu vực này tiếp tục lưu giữ truyền thuyết phản
ánh các cuộc chiến tranh vệ quốc. Theo sách địa phương chí, khi quân Tống kéo
sang xâm lược, vua Lê Đại Hành đã sai quân đem hơn một trăm chiến thuyền tiến
về khu vực núi Dục Thúy (còn gọi là núi Non Nước), cho đóng cọc chặn sông. Khi
thuyền vua đến đây thì không thể tiếp tục di chuyển, bỗng xuất hiện ba con rồng
vàng từ giữa sông nhảy vào hang núi. Hỏi dân địa phương, vua được biết trong
hang có thờ ba phủ gồm Thiên phủ, Địa phủ và thủy phủ, vốn được coi là rất linh
thiêng, nên đã đích thân vào hang cầu đảo. Khi vua trở ra, ba con rồng hiện lên
đội thuyền vua tiến ra biển. Sau khi thắng trận, trên đường hồi quân, khi
thuyền đến cửa Đại Ác thì trời tối, thuyền không thể đi tiếp. Đêm đó, vua mộng
thấy thần tự xưng là Thiên La và Địa La, xuống trần gian giúp nước, cứu dân.
Vua bèn truyền cho dân lập đền thờ tại xã Hạ Kỳ (Nguyễn Ôn Ngọc, 1893). Sự kiện
này cũng được Khiếu Năng Tĩnh ghi chép lại trong trước tác của mình (Khiếu Năng
Tĩnh: 141). Theo các tài liệu địa phương, xã Hạ Kỳ trước thuộc tổng Thượng Kỳ,
huyện Đại An, sau đó thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định cũ.
Từ những tư liệu trên có
thể thấy rằng, các ghi chép Hán Nôm địa phương liên quan đến người Hoa và các
thế lực phương Bắc trong giai đoạn từ thế kỉ X trở về trước không nhiều và phần
lớn đều gắn với bối cảnh các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của cư dân
bản địa.
Từ thế
kỉ X đến thế kỉ XIV
Các nghiên cứu chỉ ra
rằng, từ thế kỉ X đến XIV, số lượng người Hoa di cư tới Việt Nam có xu hướng
gia tăng, do có những biến động lớn về chính trị - xã hội tại Trung Quốc. Thành
phần di dân trong giai đoạn này đa dạng, bao gồm những người tị nạn chính trị,
người di cư tự do và các thương nhân. Một số tướng lĩnh, quan lại người Hoa đã
được nhà Trần cho phép định cư ở Thăng Long, tiêu biểu như nhóm của Hoàng Vĩnh
Mạc (năm 1257), hay các nhóm Đỗ Tôn, Trọng Trưng và Tăng Uyên Tử (năm 1276).
Bên cạnh đó, một bộ phận trí thức, quan lại người Hoa còn được triều đình nhà
Trần trọng dụng, bổ nhiệm giữ các chức vụ trong bộ máy nhà nước, qua đó tạo
điều kiện để họ hội nhập sâu vào xã hội đương thời (Châu Hải 1992; Nguyễn Văn Huy
1993; Trần Khánh 2001, 2002).
Các tư liệu Hán Nôm địa
phương thế kỉ X cho thấy, dòng di dân người Hoa đến Nam Định cũ về cơ bản có
những đặc điểm tương đồng với quá trình di cư của người Hoa vào Việt Nam nói
chung. Thần tích đình Xám (thôn Lạc Đạo, xã Hồng Quang, huyện Nam Trực) và ngọc
phả đình Nhuệ Khê (xã Mỹ Trung, huyện Mỹ Lộc) đều ghi nhận về nhân vật lịch sử
Trần Lãm. Các tư liệu này cho biết ông là người Quảng Đông (Trung Quốc), sinh
năm 907. Đến năm 921, khi mới 14 tuổi, ông cùng gia đình di cư đến cửa biển Bố
Hải (thuộc thành phố Thái Bình cũ; nay là các phường: Thái Bình, Trần Lãm, Trần
Hưng Đạo, Trà Lý, Vũ Phúc của tỉnh Hưng Yên), sinh sống bằng nghề đánh cá. Nhờ
hoạt động kinh tế thuận lợi, Trần Lãm dần trở nên giàu có và sau đó trở thành
một sứ quân ở vùng duyên hải Nam Định - Thái Bình. Ông đã liên kết với Đinh Bộ
Lĩnh, góp phần xây dựng căn cứ và tham gia vào quá trình thống nhất đất nước.
Theo truyền tụng địa phương, trong một lần đi qua Lạc Đạo, Trần Lãm đã ở lại
giúp dân đắp đập, đào sông, dựng/lập làng xã. Sau khi mất tại đây, ông được cư
dân của các làng trong vùng lập đền thờ phụng, hằng năm tổ chức lễ hội tưởng
niệm (dẫn theo Trần Thị Thái Hà 2011: 53). Ghi chép của Khiếu Năng Tĩnh thì
viết, các xã Vân Cù (huyện Nam Trực) và Kỳ Bố, Bồ Xuyên (thuộc thành phố Thái
Bình cũ) hằng năm đều rước kiệu Trần Lãm về Lạc Đạo dự lễ hội nhân dịp kị nhật
vào ngày 10 tháng 10 âm lịch. Tư liệu này còn cho biết thêm, sau khi Trần Lãm
qua đời, người dân sở tại an táng ông tại Mả Râm; về sau vua Đinh Tiên Hoàng đã
cho tu sửa nơi ở cũ của ông thành đền thờ, đặt lệ quốc tế (Khiếu Năng Tĩnh:
123). Những ghi chép và truyền tích liên quan đến Trần Lãm còn cho thấy sự hiện
diện sớm và vai trò đáng kể của người gốc Hoa trong tiến trình lịch sử khu vực
ven biển Nam Định - Thái Bình từ thế kỉ X, đồng thời phản ánh quá trình hội
nhập và bản địa hóa của các nhóm cư dân này trong không gian xã hội - văn hóa
Đại Việt.
Thế kỉ X còn ghi nhận dấu
vết hiện diện của người Hoa tại vùng đất thuộc huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
cũ. Một số tài liệu Hán Nôm cùng chép về nguồn gốc ngôi chùa Đông Minh, gắn với
một nhân vật được cho là người Trung Quốc. Theo đó, vào thời nhà Đinh (968 -
980), có một người Trung Quốc tên là Đông Minh, khi đi qua xã Tử Giá (thuộc xã
Nam Hoa, huyện Nam Trực cũ, nay thuộc xã Nam Ninh, tỉnh Ninh Bình), nhận thấy
khu đất có thế đẹp, đã dựng tại đây một ngôi chùa và lấy tên mình đặt cho chùa.
Trong chùa có đặt một con cóc bằng đá dài hai thước, được xem là rất linh
thiêng, không ai dám mạo phạm. Đến cuối thời Lê, truyền thuyết lại kể rằng có
một người Trung Quốc khác tìm đến chùa, chỉ vào con cóc đá và cho rằng đó là
vật do tổ tiên mình để lại, yêu cầu hoàn trả những thứ còn lưu giữ bên trong.
Sau lời nói ấy, con cóc đá được cho là phát ra tiếng động, bụng vỡ ra lộ nhiều
tiền bạc. Người khách lấy số bạc này để tu sửa chùa rồi rời đi. Vị sư trụ trì
sau đó thuê người làm một con cóc khác bằng gốm thay thế (Khiếu Năng Tĩnh:
124-125; Nguyễn Ôn Ngọc, 1893: 102-103). Những ghi chép trên, dù mang màu sắc
truyền thuyết, vẫn phản ánh ký ức cộng đồng về sự hiện diện của người Hoa và
vai trò của họ trong việc hình thành không gian tín ngưỡng Phật giáo tại địa
phương từ khá sớm.
Sang thời Lý (1009 -
1225), các tư liệu Hán Nôm tiếp tục cho biết về sự hiện diện của người gốc Hán
tại khu vực thành phố Nam Định cũ (nay là phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình).
Trường hợp bà Dương Thị Mỹ, được ghi nhận là người Hán và là vợ thứ của Đoàn
Thượng, cho thấy một dạng thức cư trú gắn với hoàn cảnh biến động chính trị.
Theo ngọc phả đình Vị Xuyên, bà đã đến đây lánh nạn, dựng chùa và truyền dạy
cho dân các nghề thủ công như dệt vải, mộc và rèn. Để ghi nhớ công lao ấy, dân
làng đã lập phủ Khóai Đồng để thờ bà. Ngọc phả chép: “Tị quốc nạn, bí tính
danh, Đoàn môn trắc thất. Giáo dân ấp, hưng công nghệ, Lý đại danh nhân”
(Lánh nạn nước, giấu tên tuổi, làm vợ thứ nhà họ Đoàn. Dạy dân thôn ấp, hưng
thịnh nghề thủ công, thật là bậc danh nhân thời Lý - Bùi Thị Thiên Thai dịch)
(Thành ủy, HĐND, UBND TP. Nam Định, 2012: 24, 147). Trường hợp này không chỉ phản
ánh sự hiện diện của người Hoa mà còn cho thấy sự tham gia của họ vào đời sống
kinh tế - văn hóa địa phương.
Bên cạnh đó, các ghi chép
Hán Nôm cũng cho biết từ thế kỉ XIII, khu vực thành phố Nam Định cũ còn tiếp
nhận một lớp cư dân người Hoa khác, chủ yếu là những người gốc nhà Tống di cư
sang Đại Việt trong bối cảnh nhà Nguyên chiếm quyền tại Trung Quốc. Bản thần
phả lưu tại hội quán Phúc - Triều - Huệ (nay là đền Hàng Sắt, thành phố Nam
Định) cho biết, người Hoa tới trấn Sơn Nam Hạ từ cuối thời Tống. Trong số đó,
ông Triệu Trung, do căm giận quân Nguyên, đã sang Nam triều, theo Trần Quang
Khải tham gia kháng chiến và lập được nhiều công lao, được triều Trần phong cho
mỹ tự là “Hiệu trung Trợ thuận Dũng nhuệ Tôn thần”. Sau này, ông được phối thờ
cùng Trần Quang Khải tại xã Cao Đường (sau là thôn Cao Đài, xã Mỹ Thành, huyện
Mỹ Lộc cũ) (dẫn theo Trần Thị Thái Hà, 2011: 54; Song Thọ, 2012: 45). Sách của
Khiếu Năng Tĩnh cũng chép rằng Triệu Trung là tướng nhà Tống, tham gia đánh
quân Nguyên trong trận Hàm Tử; sau khi mất, ông được phối thờ cùng Trần Quang
Khải và tại tổng Cao Đài còn nhiều nơi thờ ông (Khiếu Năng Tĩnh: 116, 107 -
108). Những tư liệu này cho thấy, ngoài vai trò quân sự, người Hoa di cư đến
Nam Định còn để lại dấu ấn rõ nét trong không gian tín ngưỡng của địa phương.
Bên cạnh các thần phả,
tại hội quán Phúc - Triều - Huệ nói trên còn lưu giữ cuốn tộc phả của dòng họ
Vương, do Vương Mộng Diệp biên soạn. Tộc phả chép rằng, tổ tiên của dòng họ là
Vương Hóa, người Trung Quốc, sống vào thời Tống. Khi theo cánh quân của Vi Trí
Cương tiến đánh đất Lạng Châu, ông đã rời bỏ ngũ, chạy xuống vùng đất Vị Hoàng
(tiền thân của thành phố Nam Định cũ) để lánh nạn và sau đó định cư lâu dài tại
đây (Thành ủy, HĐND, UBND TP. Nam Định, 2012: 24). Như vậy, bên cạnh các nhóm
di dân có tổ chức hoặc được triều đình Đại Việt tiếp nhận, còn tồn tại một bộ
phận người Hoa di cư mang tính cá nhân, gắn với hoàn cảnh chiến tranh và sự tan
rã của các thế lực quân sự ở phương Bắc.
Cũng trong bối cảnh thời
Trần các tư liệu Hán Nôm còn cho biết về sự hiện diện của một nhóm người Hoa
khác tại khu vực Vị Hoàng, mưu sinh bằng hoạt động buôn bán. Một người trong số
đó đã làm bài thơ “Tha hương tức sự”:
“Phiên âm:
Tha hương tức sự
Từ biên thùy bích tiếp thiên thanh
Giang
thị ngư thôn nhiễu thổ thành
Khang
Kiện, Qua Châu Nam Bắc cận
Vĩnh
Ninh, Bình Giã trại khu trình
Thiên
niên Dương Xá phồn hoa cảnh
Nhất
thế Trần gia đại mộc kinh
Thương
mại chí kim nan đắc trụ
Tha
hương hà dị cố hương sinh.
Tạm dịch:
Về sự xa quê
Bốn bề
nước biếc với trời xanh
Bến chợ
xóm chài vây thổ thành
Khang
Kiện, Qua Châu Nam, Bắc cận
Vĩnh
Ninh, Bình Giã trại vòng quanh
Ngàn
năm Dương Xá phồn hoa cảnh
Một nếp
Trần gia rạng rỡ danh
Buôn
bán giờ đây rầy khó quá
Tha
hương tất khổ ấy cũng đành”
(Dẫn
theo Thành ủy, HĐND, UBND TP. Nam Định 2012: 147-148).
Trong giai đoạn này, tư
liệu Hán Nôm còn đề cập đến một nhóm người Hoa di cư tới khu vực xã Phương Định,
huyện Trực Ninh cũ, nay thuộc xã Ninh Giang, tỉnh Ninh Bình. Chính nhóm cư dân
này là những người đã dựng chùa Thanh Quang - một ngôi chùa hiện vẫn còn tồn
tại. Sách của Khiếu Năng Tĩnh ghi chép như sau: “Chùa tọa lạc tại xã Phương Để,
do người Tống di cư dựng lên khi lánh nạn giặc Nguyên. Đến quãng niên hiệu
Quang Bảo làm to lên, có một tòa bảo điện, trước sau, phải trái nhà mái tiếp
nhau, quy chế mộc mạc nếp cổ. Trong chùa có hai cái chóe, thân nhô hình rồng
nổi, lại có một cái chóe khác, thân có chữ Phật, có lẽ do người Bắc quốc để
lại” (Khiếu Năng Tĩnh: 130). Nguyễn Ôn Ngọc cũng chép về ngôi chùa này với nội
dung tương tự, cho rằng, chiếc bình có chữ Phật nói trên “là đồ xưa của Tàu”
(Nguyễn Ôn Ngọc, 1893: 33). Tất cả những chi tiết này cho thấy dấu ấn vật chất
và văn hóa của người Hoa di cư được lưu giữ khá rõ trong không gian Phật giáo
tại địa phương.
Bên cạnh đó, các tư liệu
Hán Nôm còn ghi chép về đền Phương Giang ở cửa Lác Môn (cửa Nhạc), thuộc xã
Trực Hùng, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định cũ, nay là xã Ninh Cường, tỉnh Ninh
Bình. Qua các ghi chép này, có thể xác định rằng khoảng cuối thế kỉ XIII, đầu
thế kỉ XIV, đã có một nhóm người Hoa di cư đến khu vực này và dựng đền để thờ
bốn mẹ con bà Hoàng hậu nhà Tống. Tư liệu còn cho biết, hệ thống đền thờ Tống
Hậu phân bố dọc theo tuyến ven biển, từ cửa Càn Hải (Nghệ An), qua Thanh Hóa
đến Nam Định cũ và được nhiều triều vua Đại Việt sắc phong (Khiếu Năng Tĩnh:
148; Nguyễn Ôn Ngọc, 1893: 48). Những ghi chép trên không chỉ cung cấp thông
tin về thời điểm và địa bàn cư trú của người Hoa di cư, mà còn hé lộ nguồn gốc,
hành trình lan tỏa của tín ngưỡng mà họ mang theo, cũng như ứng xử của chính
quyền phong kiến sở tại đối với tín ngưỡng ngoại nhập này.
Từ những tư liệu nêu trên
có thể thấy, trong khoảng thời gian từ thế kỉ X đến đầu thế kỉ XIV đã diễn ra
nhiều đợt người Hoa di cư đến vùng đất Nam Định cũ, cư trú tại khu vực thành
phố và các huyện: Mĩ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh; trong đó, khu vực thành phố Nam
Định cũ là nơi tập trung đông người Hoa hơn cả. Thành phần di cư cũng đa dạng,
bao gồm cả trí thức, tướng lĩnh, thương nhân và ngư dân. Một số nhân vật đã
tham gia vào bộ máy của chính quyền phong kiến Đại Việt, có đóng góp đáng kể và
được cộng đồng địa phương thờ phụng, tiêu biểu như Trần Lãm, Triệu Trung và bà
Dương Thị Mỹ. Bên cạnh đó, các nhóm di dân này còn mang đến địa phương một số
nghề thủ công như dệt, mộc, rèn đồng thời tham gia xây dựng một số chùa, miếu,
đền đài. Các ghi chép còn cho thấy, trong giai đoạn này, tín ngưỡng thờ Tống
Hậu bắt đầu được du nhập và từng bước định hình vị trí trong đời sống văn hóa -
tín ngưỡng của cư dân địa phương.
Ban thờ Tam phủ (phía trước ban thờ Thiên Hậu) ở đền Hàng Sắt, thành phố Nam Định cũ (Ảnh: Phan Thị Hoa Lý, chụp ngày 25/10/2020)
Thời kì
từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVI
Sau khi đánh bại quân
Minh, nhà Hậu Lê đã áp dụng chính sách quản lý đối với người Trung Quốc di trú.
Các đối tượng như tù binh, hàng binh và một số thương nhân xin ở lại Đại Việt
đều bị kiểm soát nghiêm ngặt; không được tự do đi lại, phải tuân thủ trang
phục, sinh hoạt theo tập quán của người Việt, đồng thời cư trú xen kẽ với cư
dân bản địa. Chính sách quản lý khắt khe đã khiến cho dòng di cư của người Hoa
vào Đại Việt trong các thế kỉ XV-XVI có xu hướng chững lại so với các giai đoạn
trước.
Sách sử cho biết, sau
thắng lợi trước quân Minh, tại vùng Thiên Trường và các khu vực lân cận có một
bộ hàng binh được giữ lại sinh sống. Sách chép: “Bấy giờ những người đã đầu
hàng ở các thành cả nam lẫn nữ gồm hơn 6.000 người. Vương sai các lộ Thiên
Trường, Kiến Xương, Lý Nhân và Tân Hưng thu lấy mà nuôi dưỡng, đừng để cho họ
long đong, không yên chỗ” (Quốc sử quán triều Nguyễn (1856-1881): 381).
Tư liệu Hán Nôm tại tỉnh
Nam Định cũ cũng phản ánh thực trạng tương tự. Trong các thế kỉ XV, XVI dường
như không có ghi nhận việc di cư của người Hoa trực tiếp từ Trung Quốc đến khu
vực này. Thay vào đó, tư liệu chỉ để cập đến một nhóm người Hoa ở huyện Quỳnh
Lưu (Nghệ An) di chuyển ra sinh sống tại xã Ninh Cường, thuộc huyện Trực Ninh
cũ, nay thuộc xã Ninh Cường mới, tỉnh Ninh Bình. Nhóm cư dân này đã dựng nên
ngôi đền Tống Hậu để thờ Hoàng hậu nhà Tống, tiếp tục duy trì một dòng tín
ngưỡng vốn đã xuất hiện ở khu vực ven biển Bắc Bộ từ các thế kỉ trước (Khiếu
Năng Tĩnh: 128).
Thế kỉ
XVII - XVIII
Giữa thế kỉ XVII, sự sụp
đổ của triều Minh và việc nhà Thanh lên thay (1644) đã tạo ra một làn sóng di
cư mới của người Hoa ra bên ngoài Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, tại Đại Việt,
nhà Lê - Trịnh thực thi chính sách kiểm duyệt gắt gao đối với thương nhân ngoại
quốc, hạn chế hoạt động của họ tại Thăng Long. Do vậy, trong giai đoạn này,
người Hoa di cư tập trung nhiều tại Phố Hiến đồng thời có một bộ phận di chuyển
tới các địa phương khác, trong đó có Nam Định cũ.
Ghi chép của Khiếu Năng
Tĩnh cho biết, đến thời Lê - Trịnh, xuất hiện một lớp di dân người Hoa đến xã
Ninh Cường sinh sống, kết hôn với người sở tại và định cư lâu dài. Sách viết: “Đền
Tống Hậu: Thờ vị hoàng hậu thời Tống. Đền dựng lên từ thời Lê do người buôn bán
ở Quỳnh Lưu cư trú thờ tự, đến thời Lê - Trịnh cũng có một số dân Quảng Đông ở,
họ lấy vợ người sở tại rồi không đi đâu nữa” (Khiếu Năng Tĩnh: 128). Đỗ Huy
Cảnh - một cử nhân ở thời Nguyễn đã làm thơ vịnh về ngôi đền này như sau:
“Phiên âm:
Ninh
Cường Tống Hậu từ
Mạc
triều Càn hải tứ gia nhân
Sơ dĩ
thương lai kiến nhất lân
Bốc
trúc mẫu từ tư hữu bản
Hoa
hương chí đảo đắc ban ân
Bắc
khách cửu cư mưu thú thiếp
Nam
nhân diệc phụng khởi phương thần
Thanh
đài cố sắc chiêm giai kính
Giang
thị đồng lưu vạn thế xuân.
Tạm dịch:
Đời Mạc
bốn nhà ở Càn hải
Buôn
bán thành ra có một làng
Thờ Mẫu
lập đền do nhớ gốc
Mong
phò thường nghị tới dâng nhang
Lại
còn khách Bắc tìm đôi lứa
Đến lễ
dân Nam chẳng rẽ riêng
Dấu cổ
rêu xanh càng thấy thú
Cùng
sông cùng chợ mãi thiêng liêng”
(Khiếu Năng Tĩnh: 128-129).
Bài thơ không chỉ xác
nhận lại những ghi chép trong địa phương chí về lai lịch của ngôi đền mà còn
cho thấy sự tham gia của cư dân người Việt trong sinh hoạt tín ngưỡng tại đây,
phản ánh mối quan hệ tương đối hòa hợp giữa hai cộng đồng từ thời Lê - Trịnh.
Cuốn sách của Khiếu Năng
Tĩnh còn ghi lại một đoạn tư liệu quan trọng phản ánh tình đoàn kết, gắn bó
giữa cộng đồng Hoa - Việt tại Ninh Cường, được vua Tự Đức khen ngợi bằng thơ:
Sách viết: “Tại xã Ninh Cường, huyện Trực Ninh: Từ thời Lê xưa, người Nam kẻ
Bắc theo đường sông tới tụ hội ở ăn buôn bán, dưới nước tôn thờ Dương hậu thời
Tống. Nhiều khi có kẻ xúi giục chia rẽ khách dân, phương dân nhưng từ chánh
tổng, lý trưởng đều không bới sự đánh đấm nhau, cùng nhau sánh vai làm ăn, đoàn
kết gánh vác sự vụ. Thời vua Tự Đức, quan Khâm sai đem việc tâu vua. Lần vua ra
Bắc có đến làm bài ngự chế khen treo ở đình:
“Phiên âm:
Bất
thính tha ngôn ngữ, do tuần cổ lệ thi
Bắc
nhân lai mậu dịch, Nam địa sản miền ti
Dĩ
thiện vi căn bản, hành nhân tị thị phi
Vô quai
thần tục hữu, vô phá hiếu tâm quy
Đồng cư
đồng đảm trách, hà nhẫn hựu phân kì.
Tạm dịch:
Chẳng
nghe ai xúi những lời, vẫn nơi lệ cổ yên vui mà làm
Bắc thì
buôn bán có hàng, Nam thì trồng cấy tơ vàng bông thô
Lấy
điều lành để hẹn hò, vì nhân tránh việc mơ hồ khen chê
Cùng
nhau gánh vác nặng nề, ở ăn sao lỡ tính bề phân chia”
(Khiếu
Năng Tĩnh: 81).
Sau năm 1741, trấn Sơn
Nam được tách thành Sơn Nam Thượng lộ và Sơn Nam Hạ lộ trong đó Vị Hoàng trở
thành trị sở của Sơn Nam Hạ. Với vị thế hành chính mới cùng những điều kiện sẵn
có, Vị Hoàng nhanh chóng phát triển thành trung tâm của Sơn Nam Hạ, thu hút nhiều
Hoa thương tới đây buôn bán. Trong khi đó, từ cuối thế kỉ XVIII, Phố Hiến bắt
đầu suy tàn, hoạt động thương mại gặp nhiều khó khăn khiến một bộ phận người
Hoa ở Phố Hiến di cư đến các nơi khác, trong đó có Nam Định cũ. Đồng thời, từ
cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, tình trạng đất chật người đông và sự biến
đổi kinh tế-xã hội tại miền Nam Trung Quốc cũng góp phần thúc đẩy làn sóng di
cư của người Hoa sang khu vực Đông Nam Á, trong đó có nước ta. Ghi chép của
Khiếu Năng Tĩnh cho biết, từ đời Cảnh Hưng (1740 - 1786), cộng đồng Hoa kiều đã
xây dựng nghĩa địa riêng tại thôn Trọng Đức; đến năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749),
nhóm người Hoa từ Nghệ An tới cư trú tại Vị Hoàng đã dựng đền Giếng ở phố An
Lạc còn gọi là Đồng Lạc (tức đường Hoàng Văn Thụ, TP. Nam Định cũ) để thờ Quan
Công, Thiên Hậu và Thổ địa (Khiếu Năng Tĩnh: 114). Sự xuất hiện của các công
trình này cho thấy quá trình định cư ổn định và tổ chức cộng đồng của người Hoa
tại khu vực đô thị. Cặp câu đối tại hội quán Việt Đông xưa (đền Hội Quảng nằm trên
đường Hoàng Văn Thụ ngày nay) là một minh chứng khác cho sự tụ cư đông đúc của
người Hoa tại TP. Nam Định cũ vào cuối thế kỉ XVIII. Câu đối có nội dung như
sau:
“Phiên âm:
Lịch kỉ
phiên lai vàng hóa cư, Gia Khánh sơ niên dân hữu hội
Tống
thứ hậu ưu hoàn tự thủ, năm châu thiên tải sự nghi truyền.
Tạm dịch:
Từng bao phen buôn bán
lại qua, Gia Khánh năm đầu dân mới hội
Nay về sau vui buồn gặp
gỡ, năm châu ngàn thuở việc nên truyền.”
(Khiếu
Năng Tĩnh: 112)
Gia Khánh là niên hiệu
của triều Thanh (1796-1820), trong đó “Gia Khánh sơ niên” tương ứng với năm
1796. Bên cạnh đó, dòng “lạc khoản” trong bản thần tích của hội quán Phúc -
Triều - Huệ cũng cho biết công trình này được xây dựng muộn nhất là trước năm
1797: “Bấy giờ là ngày tốt tháng 2 năm Đinh Tỵ niên hiệu Gia Khánh năm thứ 2
(1797)… kính viết sự việc tại hành lang bên tả của hội quán Phúc - Triều - Huệ”
(Song Thọ 2012: 47).
Ngoài khu vực thành phố,
trong thời kỳ này còn ghi nhận sự hiện diện của người Hoa tại một số địa phương
khác trong tỉnh Nam Định cũ. Tư liệu cho biết vào giữa thế kỉ XVIII, một bộ
phận người Hoa thuộc dòng họ Tiêu từ tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) đã di cư đến
làng Hoành Nha, huyện Giao Thủy cũ (nay là xã Giao Tiến, tỉnh Ninh Bình) sinh
sống (Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh Nam Định, 2003: 158). Bên cạnh đó, hai cuốn
địa phương chí cũng chép rằng chùa Phúc Lâm ở xã Quần Phương Thượng, tổng Quần
Phương, huyện Hải Hậu cũ là do người Hoa dựng lên, ban đầu thờ Nam Hải Quan Âm
Bồ Tát (Khiếu Năng Tĩnh: 119, 149; Nguyễn Ôn Ngọc: 48). Mặc dù các tư liệu
không ghi rõ niên đại xây dựng chùa song căn cứ vào bối cảnh lịch sử có thể suy
đoán ngôi chùa được dựng lên trước thời Lê mạt, tức trước nửa sau thế kỉ XVIII.
Từ những tư liệu trên có
thể thấy, trong thế kỉ XVII - XVIII, người Hoa di cư đến Nam Định cũ với số
lượng lớn và phân bố tại nhiều địa bàn khác nhau, bao gồm khu vực thành phố và
các huyện: Trực Ninh, Giao Thủy và Hải Hậu cũ. Trong đó, thành phố Nam Định cũ
là nơi tập trung đông người Hoa di cư nhất. Cộng đồng này đã xây dựng nhiều
đền, chùa, hội quán và qua đó đánh dấu rõ nét sự du nhập, định hình và phát
triển của tín ngưỡng thờ Thiên Hậu tại tỉnh Nam Định cũ.
Đền Hội Quảng - nơi phối thờ Thiên Hậu ở thành phố Nam Định cũ (Ảnh: Phan Thị Hoa Lý, chụp ngày 05/04/2022)
Giai
đoạn thế kỉ XIX - XX
Bước sang thế kỉ XIX,
cùng với sự mở rộng hoạt động thương mại của các nước phương Tây tại khu vực
Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, Vị Hoàng vẫn duy trì được vai trò là một
trung tâm thương nghiệp và thủ công nghiệp quan trọng. Nhờ vị trí thuận lợi và
hệ thống giao thông đường thủy phát triển, khu vực này tiếp tục thu hút người
Hoa đến sinh sống và làm ăn. Đến nửa cuối thế kỉ XIX, tại Trung Quốc liên tiếp
xảy ra những biến động lớn như cuộc nội loạn Thái Bình Thiên Quốc (1851 - 1864)
và chiến tranh Trung - Nhật (1894 - 1895), tạo ra làn sóng di cư mạnh mẽ ra bên
ngoài. Ở Việt Nam, đây cũng là thời kỳ thuộc Pháp. Để phục vụ cho hai cuộc khai
thác thuộc địa (lần thứ nhất từ năm 1897 đến 1914, lần thứ hai từ 1914 đến
1918), chính quyền thực dân đã ban hành nhiều chính sách nhằm thu hút lao động
và thương nhân người Hoa. Năm 1884, Pháp chiếm Nam Định và nhanh chóng quy
hoạch, xây dựng thành phố theo mô hình đô thị của phương Tây, với hệ thống công
sở, dinh thự, kho tàng, bến bãi, điện, nước, đường nhựa, đường sắt đồng thời
xây dựng nhiều nhà máy như nhà máy điện, nhà máy tơ, nhà máy rượu, đặc biệt là
nhà máy dệt - cơ sở công nghiệp lớn nhất Đông Dương thời bấy giờ. Những điều
kiện đó đã khiến người Hoa di cư đến Nam Định cũ ngày càng đông trong suốt thế
kỉ XIX và đầu thế kỉ XX.
Theo ghi chép của Khiếu
Năng Tĩnh, ngay từ đầu thế kỉ XIX, lớp người Hoa di cư đến Vị Hoàng đã dựng nên
các hội quán làm nơi sinh hoạt tín ngưỡng và cộng đồng. Tác giả viết: “Hội
quán Phúc - Triều - Huệ và Việt Đông đều do Hoa kiều dựng lên, làm nơi tụ hội
và bàn việc lễ bái của họ. Hội quán Việt Đông có sau hội quán Phúc - Triều -
Huệ, xây dựng theo kiểu hiện nay là do Ma Chính Tráng khởi xướng, tại quả
chuông gang khắc chữ năm Đạo Quang thứ 4 (1824) khánh thành” (Khiếu Năng
Tĩnh: 112).
Đến cuối thế kỉ XIX, lớp
di dân người Hoa tiếp tục tham gia vào việc tu sửa các cơ sở tín ngưỡng. Khiếu
Năng Tĩnh ghi nhận: “Đền Thợ Mộc: Đền thuộc phố An Lạc, do đám thợ mộc ở huyện
Vọng Doanh dựng lên từ thời Minh Mệnh. Đến năm gần đây thì do đám họ Thái ở
Tương Dương, họ Vương ở xã Minh Hương tu sửa lại” (Khiếu Năng Tĩnh: 113). Mặc
dù tư liệu không đề cập chính xác thời điểm tu sửa, song căn cứ vào niên đại
biên soạn cuốn Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược khi tác
giả đang giữ chức Đốc học Nam Định (1882-1885) - có thể suy đoán việc tu sửa
diễn ra muộn nhất là trước năm 1885. Việc người Hoa giữ vai trò chủ yếu trong
hoạt động tu bổ cho thấy sự gắn bó của cộng đồng này với không gian tín ngưỡng
đô thị Nam Định.
Cũng trong thời kỳ này,
người Hoa tiếp tục mở rộng các thiết chế cộng đồng của mình. Khiếu Năng Tĩnh
cho biết:“Hội quán Phúc Triều Huệ ở phố Vĩnh Ninh trước đã có nhưng nhỏ, đến
quãng năm Quang Tự Canh Dần (1890) thì xây to lên, trong thờ Thiên Hậu, Hà Bá
và Quan Công. Vào các ngày rằm tháng Giêng, Thanh minh, Trùng cửu là đông nhất,
cuối năm ngày 30 có treo đèn lồng, mồng 2 năm sau thì đấu giá, ai mua được thì
làm lễ mừng và khao hạ ở nhà… Cùng năm Quang Tự còn xây trường học” (Khiếu
Năng Tĩnh: 112). Đoạn ghi chép không chỉ phản ánh quá trình mở rộng hội quán mà
còn cung cấp thông tin về hệ thống thần linh được thờ phụng, các lễ tiết thường
niên cũng như việc thành lập trường học, cho thấy đời sống tín ngưỡng, văn hóa
và giáo dục của cộng đồng người Hoa tại Nam Định đã phát triển tương đối đầy đủ
vào cuối thế kỉ XIX.
Giai đoạn này, về sinh
kế, ngoài một bộ phận tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực thương nghiệp, nhiều
người Hoa còn làm công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp hoặc tham gia lao động
xây dựng tuyến đường sắt Hà Nội - Nam Định cho Pháp. Tư liệu Hán Nôm địa phương
cho thấy, riêng lực lượng Hoa thương buôn bán đường thủy trong giai đoạn này đã
khá đông đảo. Một tài liệu còn ghi rõ tên các thuyền buôn của người Hoa, người
Việt và người châu Âu, qua đó cho thấy sự áp đảo về số lượng thuyền buôn của
Hoa thương so với thương nhân phương Tây (Khiếu Năng Tĩnh: 154-155). Ngoài ra,
tư liệu Hán Nôm của địa phương còn ghi nhận số đinh người Hoa ở TP. Nam Định
vào cuối thế kỉ XIX là 1.073 người, so với 23.355 người Việt (Khiếu Năng Tĩnh:
154). Mặc dù con số này chưa phản ánh đầy đủ quy mô dân số của toàn bộ cộng
đồng người Hoa, song sự hiện diện của hai hội quán, trường học cùng mạng lưới
buôn bán rộng khắp cho thấy cộng đồng này đã đạt đến quy mô đáng kể và giữ vai
trò nhất định trong đời sống kinh tế - xã hội của đô thị Nam Định lúc bấy giờ.
Tóm lại, thế kỉ XIX là
giai đoạn người Hoa di cư đến Nam Định cũ đông nhất, tập trung chủ yếu ở khu
vực thành phố và gắn chặt với quá trình đô thị hóa dưới thời Pháp thuộc. Sang
cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX, cùng với sự xuất hiện và phát triển của cảng
Hải Phòng (từ 1875), vai trò của Nam Định với tư cách là một cảng sông dần suy
giảm. Điều này đã dẫn tới xu hướng dịch chuyển của người Hoa sang các trung tâm
kinh tế mới, khiến cộng đồng người Hoa ở Nam Định nói riêng và ở đồng bằng Bắc
Bộ nói chung giảm sút rõ rệt trong khi dân số người Hoa ở Hải Phòng gia tăng
nhanh chóng.
*
*
*
Qua việc khảo cứu tư liệu
Hán Nôm của Nam Định cũ, có thể thấy sự hiện diện của người Hoa tại vùng đất
này là một quá trình lịch sử lâu dài, liên tục và đa dạng, kéo dài từ trước
Công nguyên đến đầu thế kỉ XX. Các đợt di cư diễn ra trong những bối cảnh lịch
sử khác nhau, với thành phần và mục đích không đồng nhất đã góp phần tạo nên
một bức tranh nhiều chiều về quá trình di cư, định cư và thích ứng của cộng
đồng người Hoa trong không gian xã hội - văn hóa địa phương.
Tư liệu Hán Nôm cho thấy,
trong quá trình sinh sống tại tỉnh Nam Định cũ, người Hoa đã tham gia sâu vào
nhiều mặt của đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa. Họ góp phần hình thành các
khu cư trú, làng xóm và chợ búa; tham gia phát triển các ngành nghề thủ công
nghiệp như dệt, mộc, rèn; đồng thời xây dựng các cơ sở tín ngưỡng như chùa, đền
và hội quán. Cùng với đó là sự du nhập và thực hành các tín ngưỡng, tôn giáo
đặc trưng như Phật giáo, tục thờ Tống Hậu, Quan Công và Thiên Hậu. Đáng chú ý,
một số cá nhân người Hoa không chỉ được ghi nhận vì đóng góp kinh tế mà còn
được cư dân sở tại tôn vinh, thờ phụng, phản ánh mức độ hòa nhập và gắn bó
tương đối bền chặt giữa cộng đồng người Hoa với những nơi họ di cư đến, đặc
biệt tại các trung tâm đô thị như Vị Hoàng - trung tâm thương mại quan trọng
của Sơn Nam Hạ.
Mặc dù còn có tính chất
rời rạc, không đồng đều về niên đại và đôi khi chịu ảnh hưởng bởi quan điểm của
người biên soạn, hệ thống tư liệu Hán Nôm địa phương vẫn là nguồn sử liệu có
giá trị đặc biệt trong việc phục dựng lại lịch sử người Hoa ở Nam Định. Những
ghi chép này không chỉ cung cấp tư liệu về thời điểm, địa điểm và quy mô các
đợt di cư mà còn góp phần làm rõ các hình thức giao lưu văn hóa, sự hình thành
và phát triển đô thị, vai trò của thương nhân và thủ công nghiệp, cũng như quá
trình giao thoa tín ngưỡng giữa người Hoa và người Việt qua nhiều thế kỉ. Trên
cơ sở đó, nghiên cứu này góp phần bổ sung một lát cắt quan trọng vào bức tranh
lịch sử di cư và cấu trúc văn hóa - xã hội của vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời
gợi mở hướng tiếp cận mới trong việc khai thác tư liệu Hán Nôm nhằm nghiên cứu
các cộng đồng di cư và quá trình tương tác văn hóa ở Việt Nam trong lịch sử./.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
Khiếu Quang Bảo
(2009), “Tế tửu Quốc Tử Giám Khiếu Năng Tĩnh: Người hai lần làm Đốc học
Hà Nội”, đăng trên https://hanoimoi.vn/
te-tuu-quoc-tu-giam-khieu-nang-tinh-nguoi
hai-lan-lam-doc-hoc-ha-noi-226147.html, ngày 14/12, truy cập ngày 21/6/2024.
Lương Hà (2025), “Công
trình kiến trúc độc đáo của người Hoa ở Nam Định”, đăng trên
https://laodong.vn/du-lich/kham-pha/ cong-trinh-kien-truc-doc-dao-cua-nguoi
hoa-o-nam-dinh-1491355.html, ngày 15/4, truy cập ngày 06/8/2025.
Trần Thị Thái Hà (2011),
“Quá trình tụ cư của người Hoa ở Nam Định”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam
Á, số 9, tr.52-60.
Châu Hải (1992), Các
nhóm cộng đồng người Hoa ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
Nguyễn Văn Huy
(1993), Người Hoa tại Việt Nam, Nxb. NO, P.O. Box 3492. Costa Mesa.
CA 92628. USA
Trần Khánh (2001), “Sự
hình thành cộng đồng người Hoa ở Việt Nam thế kỉ XVII- XVIII và nửa đầu thế kỉ
XIX”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 5, tr.39-47.
Trần Khánh (2002), Người
Hoa trong xã hội Việt Nam (thời Pháp thuộc và dưới chế độ Sài Gòn), Nxb.
Khoa học xã hội.
Trần Kiệt (2024), “Trăm
năm thương nhớ sìu châu, xíu páo”, đăng trên https://
giaoducthoidai.vn/tram-nam-thuong-nho siu-chau-xiu-pao-post706778.html, ngày
04/11, truy cập ngày 12/5/2025.
Vũ Đường Luân
(2009), Quá trình hình thành cảng thị Hải Phòng (từ khởi nguồn đến năm
1888), Luận văn Thạc sĩ khoa Lịch sử, Trường Đại học KHXH&VN, Đại học
Quốc Gia, Hà Nội.
Phan Thị Hoa Lý, Bùi Thị
Thiên Thai (2022), “Giao lưu văn hóa trong tín ngưỡng thờ Thiên Hậu ở miền Bắc
Việt Nam - Trường hợp đền Xuân Quang”, tham luận đăng trong kỉ yếu hội thảo
quốc tế: Tín ngưỡng Thiên Hậu và giao lưu Đông Á Quan Độ cung, do
Khoa lịch sử, Đại học Văn hóa Trung Quốc phối hợp cùng Quan Độ cung tổ chức từ
ngày 30/9 đến 2/10/2022 (online + offline, tr. 13-23).
Vũ Ngọc Lý (1997), Thành
Nam xưa, Sở Văn hóa thông tin Nam Định xuất bản.
Nguyễn Hồng Mao (1997),
“Thần tích đền Thiên Hậu (dấu tích xã Minh Hương xưa), in trong Những
phát hiện mới về khảo cổ học năm 1996, Nxb. Khoa học xã hội, tr.523-525.
Tâm Minh (2023), “Dấu
ấn ẩm thực người Hoa trên phố cổ Thành Nam xưa”, đăng trên
https://namdinhdatvanguoi.vn/ amthucnguoihoa/, ngày 22/3, truy cập ngày
12/5/2025.
Nguyễn Ôn Ngọc
(1893), Nam Định địa dư chí, Phòng Địa chí Thư viện tỉnh Nam Định
dịch, 1997, bản đánh máy khổ A4, lưu tại Thư viện tỉnh.
Nguyễn Quang Ngọc
(2023), “Bắc thuộc và chống Bắc thuộc: Những dấu tích văn hóa vật chất”,
đăng trên https://his.ussh.vnu.
edu.vn/vi/news/bui-minh-hanh/bac-thuoc-va-chong-bac-thuoc-nhung-dau-tich-van-hoa-vat-chat-5777.html,
ngày 10/8, truy cập ngày 16/9/2025
Quốc sử quán triều Nguyễn
(1856-1881), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Viện Sử học
dịch (1957-1960), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, bản điện tử do Lê Bắc điều hợp,
2001.
Thành ủy, Hội đồng Nhân
dân, Ủy ban Nhân dân Tp. Nam Định (2012), Thành Nam - địa danh và giai
thoại, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
Song Thọ (2012), Đền
Hàng Sắt Dưới di sản văn hóa Thành Nam, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.
Đỗ Đình Thọ (2006), Văn
hóa ẩm thực tỉnh Nam Định, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội.
Tỉnh ủy - HĐND - UBND
tỉnh Nam Định (2003), Địa chí Nam Định, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
Khiếu Năng Tĩnh, Tân
biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược, Dương Văn Vượng dịch, Phòng Địa chí -
Thư mục, Thư viện tỉnh Nam Định chỉnh lí, chế bản, 2000.
Tổng cục Thống kê
(2020), Kết quả toàn bộ tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019,
Nxb. Thống kê, Hà Nội.
Hoa Xuân (2015), “Độc
đáo món mì vằn thắn của gia đình người Hoa ở thành phố Nam Định”, đăng trên
https://baonamdinh.vn/
channel/5100/201508/doc-dao-mon-mi-van-than-cua-gia-dinh-nguoi-hoa-o-thanh-pho-nam-dinh-2431999/,
ngày 01/8, truy cập ngày 12/5/2025.