Cổng vào Đền Hùng
Tình hình tranh luận về
người cổ trên đất nước Việt Nam hiện nay:
TỔ TIÊN TA THỜI DỰNG NƯỚC ĐẦU TIÊN
1. Nghiên cứu người cổ,
cũng như nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa nói chung, không thể tách rời việc nghiên
cứu ở Việt Nam khỏi việc nghiên cứu ở Đông Nam Á chung rộng. Mỗi vùng, mỗi nước
hiện nay, cần có những phát hiện và những nghiên cứu của mình. Nên nói rõ thêm
là, xét về thời tiền sử và sơ sử, cách ngày nay 2000 năm thì Hoa
Nam cũng là thuộc về thế giới Đông Nam Á.
Quan điểm của những nhà
nghiên cứu khoa học nhân văn và khoa học xã hội Việt Nam là cần có sự phối hợp
nghiên cứu đó. Đã có những sự so sánh đầu tiên, những giả thiết đầu tiên, những
gợi ý đầu tiên, đầy hứa hẹn, về người cổ: tức là về những chủng tộc, về những
ngữ hệ, về những văn minh cổ xưa, ở Đông Nam Á. Song những hiểu biết hiện nay
không đồng đều giữa những khu vực nói chung, chưa cho phép đi sâu nghiên cứu
khoa học ở từng lĩnh vực.
2. Về hình dáng người cổ đầu tiên ở nước ta, gốc tích của con
người, những dạng người nguyên thủy, quan hệ với những dạng người nguyên thủy
khác gần hay xa, diễn biến của những người thái cổ nơi đây.
Tới nay, những phát hiện
về xương cốt cổ ở phía nam còn rất lẻ tẻ. Trong số đó, cốt sọ còn nghiên cứu
được là khá hiếm. Bên cạnh những sọ cổ có khả năng thuộc thời đại đá mới mà
E.Genét - Varein đã phát hiện từ trước Cách mạng Tháng Tám, chúng ta mới
phát hiện trong những năm gần đây hai sọ ở An Sơn (Long An) và một sọ trẻ con ở
Mỹ Tường (Thuận Hải). Còn thì mủn nát cả; hoặc còn có những sọ khác thuộc thời
gian gần đây thôi. Quá trình biến diễn lịch sử nơi đây còn chưa được soi sáng,
khiến việc nghiên cứu hình dáng người cổ qua cốt sọ nơi đây cũng chưa rõ ý
nghĩa.
Ở các tỉnh phía bắc thì, trái lại, trước Cách mạng Tháng Tám, một
số đáng kể sọ cổ đã được biết đến, và những năm gần đây, chúng ta càng tìm thấy
nhiều hơn. Khiến cho từ những năm 1968-1971 chúng ta tập trung sức nghiên cứu
thời các vua Hùng, thì một công cuộc nghiên cứu có hệ thống và tổng hợp về nhân
chủng đã được tiến hành, dẫn đến xây dựng được một giả thuyết công tác có giá
trị, góp phần khôi phục thời bình minh của lịch sử dân tộc và cho phép bắt đầu
hình dung được hình dáng tổ tiên ta ở thời sơ sử.
Từ đó, chúng ta tiếp tục
bàn luận và tiếp tục phát hiện. Với sọ Châu Can (Hà Sơn Bình) và những cuộc
tranh luận tiếp theo, công tác nghiên cứu người cổ được tiến một bước mới.
Những năm gần đây, Viện Khảo cổ học lại phát hiện rồn rập ở Thanh Hóa nhiều mộ
táng thuộc ranh giới tiền sử và sơ sử, với sọ còn nghiên cứu được, ở Quỳ Chử, ở
Núi Nấp, ở Cồn Cổ Ngựa. Những sọ này còn có thể khai quật thêm để tìm thêm: số
đã thu thập được tới nay chưa được xử lý, đo đạc. Nững năm gần đây, chúng ta sẽ
có dịp đối chiếu những luận thuyết đã được đề ra và đang được tranh cãi, với
những thực tế mới, để kiểm tra, bổ sung và uốn nắn nếu cần…
Những luận điểm nào đã
được đề ra và đang được tranh cãi?
II
Về người cổ trên đất
nước ta trước và sau thời các vua Hùng, hiện có ba loại vấn đề lớn cần nghiên
cứu và thảo luận:
1. Loại hình nhân chủng
Những tác giả Pháp phát
hiện đầu tiên vết tích người cổ ở Việt Nam từ văn hóa Hòa Bình về sau, dựa vào
những đặc điểm của những cốt sọ cổ tìm thấy với những đặc điểm cốt sọ của thổ
dân trong vùng Đông Nam Á và Thái Bình Dương, để ghi chú đặc điểm và đoán định
quan hệ về cả nguồn gốc của người cổ đó. Cho nên có những đặc điểm được định
hình và gọi là Mê-la-nê-diêng, là Ô-xtơ-ra-lô Mê-la-nê-diêng, là Anh-đo
Mê-la-nê-diêng, là Nê-gri-tô hay Nê-gri-tô Anh-đô-nê-diêng v.v. Một số đáng kể
những sọ đó gần gụi sọ người In-đô-nê-xi-a (tên này đã chỉ từ lâu quần đảo ta
thường gọi là Nam Dương, ngay từ lâu trước khi In-đô-nê-xi-a được thành lập năm
1945). Những nhà cổ nhân học định hình và định nghĩa loại người có sọ đó là
loại In-đô-nê-xi-a, và chúng đã dựa vào cách phát âm Âu phổ biến mà gọi loại
hình đó là “Anh-đô-nê-diêng”. Sọ cổ được coi là điển hình của loại này là sọ
mang tên Làng Cườm số 9, thuộc văn hóa Hòa Bình, do H.Mansuy và M.Colani phát
hiện. Với những đặc điểm có chuyển đổi, loại hình Anh-đô-nê-diêng tồn tại khá
phổ biến ở Tây Nguyên nước ta hiện nay.
Một phát hiện có lẽ
không nét bằng, là bên những con người cổ Anh-đô-nê-diêng phổ biến, mà một học
phái của ta, tiêu biểu là Nguyễn Đình Khoa, cho rằng đó là di duệ pha
Môn-gô-lô-ít (dang vàng) của đại chủng Ô-xtơ-ra-lô-ít (da đen Thái Bình Dương),
tồn tại một giống người đậm nét Môn-gô-lô-ít hơn, có thể gọi là “Nam Á”. Người
Anh-đô-nê-diêng và người Nam Á, đều có nét Môn-gô-lô-ít (đậm hơn ở những người
Nam Á), đều có thể sắp xếp vào một phạm trù chung: người Môn-gô-lô-ít phương
Nam, khác người Môn-gô-lô-ít phương Bắc ở chỗ có nhiều hay ít trong mình dòng
máu da đen Thái Bình Dương. Loại hình Nam Á, với những đặc điểm có chuyển đổi,
là loại hình chủ yếu ở Việt Nam và Đông Nam Á ngày nay.
Sự có mặt của hai loại
hình này ở Việt Nam và Đông Nam Á ngày nay là một thực tế hiển nhiên. Nguyễn
Đình Khoa khẳng định thực tế của hai loại hình này, ở dạng cổ xưa hơn, trong
thời đại đá giữa – đá mới và thời đại kim khí ở Việt Nam, bằng cách lập nên một
bảng đối chiếu những đặc điểm chủ yếu về nhân dạng giữa hai loại hình người
này. Bảng đó nhận định rằng sọ người Anh-đô-nê-diêng và sọ người Nam Á khác
nhau như sau:
|
Loại hình
Đặc điểm nhân trắc
|
A1
|
Nam Á
|
|
Sọ: dài - ngắn
|
Dài hoặc trung bình
(cá biệt xuất hiện sọ ngắn
|
Trung bình hoặc ngắn
(chủ yếu sọ ngắn)
|
|
Sọ: theo chỉ số cao
– ngang
|
Hẹp và cao ngắn
|
Cao - ngắn thiên về
trung bình hoặc trung bình
|
|
Mặt
|
Trung bình và ngắn
|
Trung bình thiên về
ngắn
|
|
Ổ mắt
|
Còn cao nhưng thiên
về trung bình
|
Trung bình
|
|
Hốc mũi
|
Rộng
|
Rộng thiên về trung
bình và trung bình
|
Nhiều tác giả phê phán
bảng trên nặng cảm tính và có lẽ khái quát trên cơ sở hiện đại hơn là thực tế
cổ xưa. Dù sao, quả là bảng trên có sức thuyết phục hơn nếu có những số liệu
nhân trắc trung bình cụ thể, được đo đạc và tính toán rồi mới đối chiếu.
Luận thuyết của Nguyễn
Đình Khoa được chấp nhận về cơ bản ở những năm 1968-1971 khi chúng ta tiến hành
nghiên cứu tập trung thời kỳ Hùng Vương. Nhưng ngay khi đó đã có hai loại ý
kiến phản bác, càng được thể hiện những năm sau:
- Loại ý kiến thứ nhất
là: cơ sở khoa học của loại hình người Nam Á không được rõ ràng. Nhất là Nguyễn
Lân Cường, với sự đồng ý của Nguyễn Đình Khoa, lại không thừa nhận là có giá
trị nghiên cứu, vì quá vỡ nát, một số sọ mà Nguyễn Duy phát hiện và cho là có
những nét Môn-gô-lô-ít, tức, theo quan điểm Nam Á, thì chính đó là những sọ Nam
Á!
- Loại ý kiến thứ hai
là: trong quá trình khoảng một vạn năm vừa qua, từ những con người
Ô-xtơ-ra-lô-ít, tồn tại trước thời đại đá giữa, đến đa số người hiện nay, là
những người Môn-gô-lô-ít phương Nam, không phải chỉ có hai loại hình người (đã
nói ở trên), mà có những loại trung gian đã biến chuyển dần, biến chuyển dần,
từ những loại hình chỉ mới Môn-gô-lô-ít hóa chút ít thôi đến những loại hình đã
cơ bản là Môn-gô-lô-ít chỉ còn chút ít tính Ô-xtơ-ra-lô-ít. Phải chăng nên gọi
đó là những người Việt cổ 1, Việt cổ 2, Việt cổ 3, Việt cổ 4 v.v..hoặc Đông Nam
Á cổ 1, Đông Nam Á cổ 2, Đông Nam Á cổ 3, Đông Nam Á cổ 4 v.v? Bênh vực cho
luận điểm này, tiêu biểu là Nguyễn Duy.
Còn một loại ý kiến khác
cũng đáng kể, do Nguyễn Quang Quyền bảo vệ, là: giống người Ô-xtơ-ra-lô-ít đơn
chất không “vàng hóa” không biến dị ở thời đại đá mới, mà được duy trì không
những ở thời đại đá mới, mà cả lâu dài về sau.
2. Nguyên nhân biến
chuyển loại hình người
1. Một quá trình “vàng hóa”:
đó là quan niệm tổng quát về sự biến diễn của các loại hình người cổ, tiến đến
các loại hình người hiện nay trên đất nước ta.
Nếu chúng ta có người bỡ
ngỡ hay sửng sốt, cách đây 10-12 năm, khi Nguyễn Duy, nghiên cứu người Vinh
Quang (Hà Sơn Bình), nhận ra có yếu tố da đen trong con người cổ trên đất nước
ta, thì ngày nay chúng ta nhận thức rằng chính người Ô-xtơ-ra-lô-ít, người
da đen Thái Bình Dương, hoặc một dạng của đại chủng đó, người Mê-la-nê-diêng (có
nghĩa là người Đảo Đen) là cư dân phổ biến, chủ yếu không phải duy nhất của
lãnh thổ Việt Nam ngày nay, ở thời khởi thủy của giống người hiện đại. Từ thời
văn hóa Hòa Bình, người Anh-đô-nê-diêng là di duệ của người Ô-xtơ-ra-lô-ít,
thay thế người Ô-xtơ-ra-lô-ít làm chủ thể và người Ô-xtơ-ra-lô-ít đã mất dần đi
từ trước, nay tiến đến biến hẳn đi. Có tác giả nghĩ rằng, đó là do di cư ra hải
đảo; số khác cho rằng đó là do tan lẫn bằng lai dần với yếu tố da vàng để trở
thành người Anh-đô-nê-diêng.
Người Anh-đô-nê-diêng, như
vậy là kết quả của sự pha trộn giữa người Ô-xtơ-ra-lô-ít và người Môn-gô-lô-ít.
Một bộ phận của người Anh-đô-nê-diêng cổ không lai giống thêm, hoặc lai giống
ít thôi sau đó: số đông laai yếu tố da vàng thêm nữa, đậm thêm yếu tố da vàng,
nhạt thêm yếu tố dan đen, để trở nên người Nam Á. Chính người
Nam Á này đã cùng người Anh-đô-nê-diêng là cư dân đất nước các vua Hùng;
Anh-đô-nê-diêng và Nam Á, khác nhau phần nào, nhưng cũng đều thuộc giống người
“Môn-gô-lô-ít phương Nam”. Rồi người Nam Á cổ tiếp tục nhận thêm yếu tố
Môn-gô-lô-ít để trở nên người Nam Á hiện đại, với những đặc điểm nhân trắc học
và loại chủng học của người dân tộc Kinh và nhiều dân tộc khác ở Việt Nam ngày
nay.
2. Quan điểm này được
phác họa và chấp nhận thời gian nghiên cứu thời kỳ các vua Hùng, một thập kỷ
trước đây; những năm gần đây có một số ý kiến phản bác, đặc biệt do Võ Hưng và
Nguyễn Quang Quyền.
Võ Hưng nghi ngờ sự pha
trộn giống người dẫn đến sự xuất hiện những loại hình người mới. Tác giả này
cho rằng điều kiện thiên nhiên và sinh hoạt đã dẫn đến những chuyển biến nội
tại về loại hình chủng tộc dù trong thời gian chỉ mấy nghìn năm. Quan điểm này
gặp và đáp ứng băn khoăn của những nhà nghiên cứu lịch sử đặt ra vấn đề: yếu tố
Môn-gô-lô-ít nào, tại chỗ hay từ đâu đến, đã hòa vào giống người Ô-xtơ-ra-lô-ít
làm chủ cương vực này trước đây, để biến họ thành người Anh-đô-nê-diêng? Tới
nay, mọi tác giả tránh trả lời câu hỏi này. Riêng tôi xin gợi ý có thể tham
khảo “Lĩnh Nam chích
quái” ngay truyện mở đầu
về nguồn gốc phương Bắc của Âu Cơ, về những người phương Bắc sang nhũng nhiễu
và làm khổ phương dân của Lạc Long Quân…Võ Hưng về phần mình đặt ra một hướng
suy nghĩ mà sử học phải hợp tác với sinh học và khoa học di truyền để xác minh
hay phản bác.
Nguyễn Quang Quyền, chủ
yếu từ sau khi được giao cho nghiên cứu hai sọ cổ, ở Châu Can, có những suy
nghĩ khác. Như cho rằng người Ô-xtơ-ra-lô-ít tồn tại dai dẳng, dài lâu trong
lịch sử hơn là Nguyễn Đình Khoa nghĩ. Khi giống người Anh-đô-nê-diêng đã là chủ
thể, giống người Ô-xtơ-ra-lô-ít vẫn tồn tại lâu về sau. Chỉ căn cứ lời lẽ văn
bản của những bài viết khác nhau, không rõ tác giả cho rằng người Châu Can “đậm
nét Ô-xtơ-ra-lô-ít” có nghĩa rằng rõ ràng đó là người thuộc giống
Ô-xtơ-ra-lô-ít hay chỉ có nghĩa đó là người Anh-đô-nê-diêng còn nặng tính
Ô-xtơ-ra-lô-ít.
Những luận điểm nói trên
đưa những nhà sử học, nếu không phải bản thân những nhà nhân chủng học đã đề
xuất ra vấn đề, đến những nhận thức và những câu hỏi mới. Nhất là khi luận điểm
về sự tồn tại của giống người Nam Á ở thời đại kim khí lại chưa được xác định
vững chắc, thì loại băn khoăn này càng phải được giải đáp. Đặc biệt câu hỏi:
nếu cư dân Việt cổ thời các vua Hùng chưa rõ ràng là về căn bản đã thuộc giống
người Nam Á, thì bằng cách nào người Nam Á hiện nay đã trở thành giống người
chủ thể ở Việt Nam?
Cần lưu ý rằng Võ Hưng
khẳng định tính khác biệt nhân trắc học, tức về chủng loại, giữa người Việt Nam
và người Hoa Nam ngày nay. Từ nhận xét ấy, có thể suy diễn gì về những người
“Việt” được người “Hoa Hạ” ở Trung Nguyên gọi là “Man”, sinh sống từ bờ nam
sông Dương tử đến Giao Chỉ Cửu Chân ở thời tiền sử bước sang sơ sử và thời sơ
sử? Đã có sự khác biệt đó từ bao giờ, và hệ quả của những suy diễn đó ra sao
đối chiếu với những luận điểm đã đề ra?
3. Nguyễn Duy chấp nhận
sơ đồ vàng hóa, song chưa thấy việc nhận định ra hai mốc loại hình trong quá
trình biến diễn loại hình từ người Ô-xtơ-ra-lô-ít Mê-la-nê-diêng đến người Nam
Á hiện đại, là sự sát hợp với thực tế. Sự thay đổi diện mạo loại người, dù bằng
pha trộn, vẫn là diễn biến từ từ, và có thể nhận ra nhiều dạng trung gian khác
nhau. Không phải chỉ có hai dạng trung gian, mà về phần mình, Nguyễn Duy nhận
ra bốn dạng, khác nhau ở chỗ ít hay nhiều đậm nét Ô-xtơ-ra-lô-ít hơn, đậm nét
Môn-gô-lô-ít hơn. Đơn giản mà nói, thì xét giống người quen gọi là
Anh-đô-nê-diêng, có loại còn rõ nét Ô-xtơ-ra-lô-ít, có loại đã bớt nét đó; mà
giống người được đề nghị gọi là Nam Á, thì cũng có loại đã rõ là Môn-gô-lô-ít,
có loại chưa. Đó là không kể còn có loại ít gần gụi Ô-xtơ-ra-lô-ít, lại cũng ít
gần gụi Môn-gô-lô-ít, đến mức khó phân biệt.
Những dạng trung gian đó
có thể gọi là Việt cổ 1, Việt cổ 2, Việt cổ 3, Việt cổ 4 hoặc rộng hơn, tiện
dùng trong khoa học hơn, thì nên gọi là Đông Nam Á cổ 1, Đông Nam Á cổ 2, Đông
Nam Á cổ 3, Đông Nam Á cổ 4. Như vậy, nhận thức về loại hình người cổ và quan
niệm biểu diễn của những loại hình đó, ở đây, gắn liền với một số vấn đề thứ
ba: vấn đề thuật ngữ khoa học.
3. Thuật ngữ chỉ người
cổ Việt
1. Hãy coi như luận
thuyết về hai loại hình trung gian người Việt cổ giữa người Ô-xtơ-ra-lô-ít gốc
và người Việt Nam ngày nay, không còn gì cần bàn cãi, thì những thuật ngữ
“Anh-đô-nê-diêng” và “Nam Á” hiện được dùng để chỉ những loại hình đó không
phải là đã được giới nghiên cứu nhân chủng học coi là đã thỏa đáng.
Chưa thỏa đáng, nhưng có
chiều hướng chung nghĩ rằng thế cũng được, vì thuật ngữ khoa học thường vẫn
mang tính lịch sử và ước lệ. Cốt được quy định thống nhất và chính xác là chủ
yếu: cái quen dùng cũng là phải được coi trọng, do chưa hẳn là lô gich. Cho nên
Anh-đô-nê-diêng và Nam Á, tuy đều chưa hợp lý, nhưng đều có thể được dùng với
nội dung nhân chủng đã quy ước và đang dùng.
2. Đó là một loại ý
kiến. Song cũng có những loại ý kiến khác của những tác giả không đành lòng
chịu nhận sự bất hợp lý khoa học ấy. Anh-đô-nê-diêng, có nghĩa
là “người xứ In-đô-nê-xi-a”, “thuộc xứ In-đo-nê-xi-a” (ở dạng từ ngữ Âu Châu
phổ biến), để chỉ chung một dạng người cổ có ở In-đô-nê-xi-a nhưng cũng có ở
Tây Nguyên (Việt Nam) và những nơi khác nữa, đã là không hợp lý vì chưa chắc
In-đô-nê-xi-a là nơi xuất phát đầu tiên hoặc phổ biến nhất, nay càng không hợp
lý từ sau khi In-đô-nê-xi-a từ tên một khu vực địa lý trở nên tên một nước. Đối
với người Việt Nam chúng ta, ta vẫn có thể phân công ngữ nghĩa giữa
Anh-đô-nê-diêng (với nghĩa nhân chủng học, cổ và kim) và In-đô-nê-xi-a (với mọi
nghĩa khác). Song dĩ nhiên, đó là điều tùy tiện, vẫn “khoa học” mà chưa hợp lý.
Còn Nam Á thì, nếu muốn dùng về phương diện nhân chủng, cần,
mỗi khi dùng, luôn luôn chú ý phân biệt với những phương diện khác: về phương
diện địa lý, đó là tên chỉ vùng Ấn Độ, “tiền lục địa Ấn Độ”; về phương diện
ngôn ngữ, đó là tên một ngữ hệ cùng với ngữ hệ “Nam Đảo”, gần gụi ngữ hệ “Mã
Lai – Đa Đảo” (“Ma-lai-ô Pô-li-nê-diêng”), ngữ hệ Thái, ngữ hệ Tạng - Miến là
những ngữ hệ chủ yếu của cư dân Đông Nam Á (ngữ hệ Nam Á còn thường được gọi là
Môn Khơ-me, hoặc bao gồm ngữ hệ Thái, hoặc không). Cần phân biệt với những
phương diện khác, như ta đã thấy, mà lại còn cần, ở cùng một phương diện nhân
chủng, phân biệt giữa những cấp khác nhau có thể lầm lẫn: đều là người
Môn-gô-lô-ít phương Nam, những phương diện khác, như ta đã thấy, mà lại còn
cần, ở cùng một phương diện nhân chủng, phân biệt giữa những cấp khác nhau có
thể lầm lẫn: đều là người Môn-gô-lô-ít phương Nam, những loại hình người
Anh-đô-nê-diêng và Nam Á. Như vậy, đều là chưa ổn đáng lắm, thuật ngữ
Anh-đô-nê-diêng cũng như thuật ngữ Na, Á. Chưa kể sự phân ra dạng
Anh-đô-nê-diêng hiện nay và dạng Anh-đô-nê-diêng cổ, dạng Nam Á hiện nay và
dạng Nam Á cổ, xét kỹ ra phải chăng có gì là vừa gượng ép, vừa là mơ hồ, đối
chiếu với thực tế? Bởi giữa những người cùng một loại hình, cùng một địa điểm,
mà khác thời đại, e rằng là nói vội nếu chúng ta đã dám, trong tình hình nghiên
cứu hiện nay, khẳng định rằng đã nhận ra rõ được sự khác nhau có ý nghĩa lịch
sử so với sự khác nhau, nhất định cũng có, giữa những người cùng một loại hình,
cùng một thời đại, mà khác địa điểm…
Chính vì sự nghiên cứu
người cổ ở Đông Nam Á nói chung, ở Việt Nam ta nói riêng, chưa đủ rộng, đủ sâu,
cho nên, thấy được những thuật ngữ đang dùng là chưa thỏa đáng, nhưng chưa đề
xuất được những cách gọi khác thu phục được sự đồng tình chung. Cũng chính vì
thế mà có những tác giả đã chủ trương không cần đổi, hoặc chưa cần đổi, rồi lại
nghĩ nên đổi, phải đổi, và cũng có những tác giả, ngược lại, đã đề ra phải đổi,
rồi lại nghĩ lại cho rằng không nên, hoặc ít ra chưa cần…Bài này cố gắng ghi
chú đủ những ý kiến khác nhau về sự tồn tại của các loại hình nhân chủng, về sự
biến diễn của các loại hình, ý nào là của ai và ý nào là của ai khác (kể cả
những gợi ý miệng), để tiện đường tranh luận. Song không ghi ai chủ trương
không thay, ai chủ trương thay – và nếu thay thì thay thế nào, chính cũng là do
thế: để tiện đường tranh luận…Biết có những ý kiến khác nhau, nhưng không khuôn
những ý đó lại đã thành những kết luận, - về thực tế, sự thật là các tác giả
chưa kết luận.
3. Trong tình hình hiện
nay, nói là nên giữ hay nên thay những thuật ngữ đang dùng, đều là chưa được,
theo chúng tôi nghĩ. Và nếu thay, thì thay bằng những thuật ngữ nào, cũng là
chưa nên có ý kiến khẳng định. Người Việt cổ, người Đông Nam Á cổ, hoặc (cũng
có ý kiến như thế) người miền núi cổ, người đồng bằng cổ, người vùng cao cổ,
người vùng biển cổ…những cách gọi đó đã được đề ra, chúng ta đều cũng có thể
xét, hơn nữa đều nên xét. Song, riêng tôi nghĩ, đã đến lúc chúng ta có thể thảo
luận, cần thảo luận vấn đề người Việt cổ, mà chưa đến lúc đã hy vọng được rằng
có thể giải quyết được vấn đề ngay.
Bởi tài liệu đã có còn
quá ít, và những tài liệu đó, một số đã thất lạc, số còn lại chưa được nghiên
cứu sâu sắc, nhất là chưa được nghiên cứu có hệ thống. Nay một loạt tài liệu
mới đang được phát hiện trong quá trình tiếp tục nghiên cứu thời các vua Hùng,
tìm hiểu cư dân đất Việt thời các vua Hùng, và ngược dòng quá khứ, tìm hiểu
ngọn nguồn cư dân đó, tìm hiểu con người từ hái trái, bới củ, bước sang trồng
bầu bí, lúa khoai, từ bắt ốc, nhặt sò, tiền đến chăn nuôi chó gà, trâu bò, lợn
voi…Ở Quỳ Chử, Núi Nấp, Cồn Cổ Ngựa, đều thuộc Thanh Hóa, hàng trăm di hài cổ
ít nhiều nguyên vẹn, hàng chục sọ cổ còn nghiên cứu được, mới được phát hiện.
Chúng ta đứng ở ngưỡng cửa của một thời kỳ nghiên cứu mới đầy triển vọng.
Tôi đề nghị chúng ta tập
trung sức bắt tay đi sâu nghiên cứu vấn đề người cổ Việt Nam, mặc dầu chúng ta
có thể lường trước rằng chưa chắc đã đáp ứng ngay được một yêu cầu hình như sơ
đẳng nhất: tìm thuật ngữ thích đáng để gọi người cổ ở ta.
III
1. Cuộc tranh luận mà,
mở đầu năm 1981 này tôi đề nghị tạp chí Khảo cổ học mở màn, đã
được mong đợi từ một thời gian. Nhất là từ khi xảy ra cuộc trao đổi ý kiến, có
khi không khỏi gay gắt, quanh Người Châu Can, từ đã nhiều năm, trên báo Nhân
dân, rồi ở những hội nghị thông báo khoa học hàng năm của ngành khảo cổ
học, ở mấy cuộc tọa đàm, do Hội Hình thái người, do các khoa Sinh của các
trường đại học tổ chức, những năm sau đí.
Nhưng tranh cãi vấn đề
người cổ ở Việt Nam như thế lúc bấy giờ, tôi cho là chưa thích hợp, chưa đi đến
kết quả được, Hơn nữa, chưa nên. Vì hai lý do: vì tình hình quan điểm nghiên
cứu khao học (lý luận, nhận thức và ý thức) của chúng ta lúc bấy giờ, và vì
tình hình tư liệu nghiên cứu của chúng ta lúc bấy giờ.
Về quan điểm, một số
thông tin khảo cổ học chung quanh phát hiện Châu Can, tỏ ra có những chiều
hướng suy nghĩ e rằng chưa chín chắn trong một số nhà khoa học, khách quan chủ
nghĩa kiểu khoa học vì khoa học, đòi hỏi tự do đề xuất giả thuyết dù giả thuyết
về Người Châu Can nhấn mạnh Người Châu Can “đậm nét Ô-xtơ-ra-lô-ít”, ở cuối
thời kỳ các vua Hùng, lại được coi như tiêu biểu, như phổ biến lúc bấy giờ. Như
thế phải từ đó suy ra gì, dù “đậm nét Ô-xtơ-ra-lô-ít” không nhất thiết có nghĩa
là rõ ràng Ô-xtơ-ra-lô-ít, mà cũng có thể hiểu là đã chuyển sang loại hình
Anh-đô-nê-diêng rồi, nhưng còn gần gụi cội nguồn mà thôi (nếu như ta chấp nhận
vậy, và bấy giờ nói chung dư luận chấp nhận, rằng người Anh-đô-nê-diêng xuất
phát từ gốc Ô-xtơ-ra-lô-ít)? Không thể không từ đó suy ra là: vấn đề thừa tự di
sản văn minh dân tộc của chúng ta phải được đặt lại.
Nói cách khác cho rõ
hơn, thì vấn đề là: khảo cổ học, đã vừa chứng minh rành rọt rằng văn minh sông
Hồng là rạng rỡ và thời kỳ các vua Hùng là có thật trong lịch sử: thế nhưng,
với Người Châu Can, người thời kỳ các vua Hùng “đậm nét Ô-xtơ-ra-lô-ít”, nhân
dân Việt Nam ta ngày nay có chắc gì là con cháu những người đã xây dựng và bảo
vệ đầu tiên bằng xương máu văn hóa Đông Sơn đối với chúng ta nay thân thiết? Có
chắc gì chúng ta ngày nay là con cháu cư dân đất nước này thời các vua Hùng và
thời Hai Bà Trưng? Vì người Nam Á chúng ta ngày nay trên đất nước này liệu có
liên quan gì không với người Anh-đô-nê-diêng (hay Ô-xtơ-ra-lô-ít) thuở trước?
Luận điểm mới mẻ mà phát
hiện ở Châu Can hứa hẹn, có nhiều khả năng gợi ý rằng: xét về huyết thống,
chủng tộc, người thời các vua Hùng khác chúng ta nhiều. Con người thời đó phải
pha trộn nhiều với loại hình người khác mới thành được chúng ta ngày nay - nếu
không phải là tổ tiên chúng ta đã từ đâu đến đây thay thế cư dân nước Văn Lang
xưa. Như vậy chúng ta đi ngược con đường nhận thức về giống nòi mà người
Ru-ma-ni những năm vừa quan, nhờ khảo cổ học, đã đi. Người Ru-ma-ni, trước đây
tự cho mình là con cháu những quân đoàn La Mã (“Romani”) theo La Mã hoàng
Traianus (tức Trajan) đến chinh phục vùng Đa-xơ, những người đã hy sinh xương
máu chống lại La Mã, cũng là tổ tiên mình, nếu không phải chính đây mới là tổ
tiên mình…Chẳng lẽ cũng do khảo cổ học, chúng ta đi ngược một lịch trình nhận thức
và tình cảm như thế. đặt ra trước dư luận dân tộc vấn đề bàn xem chúng ta là
con cháu Hai Bà Trưng hay …Mã Viện!
Đành rằng, nếu khách
quan là như thế, thì ta có cách nào khác là phải chấp nhận chân lý lịch sử?
Nhưng để đề xuất ra một vấn đề tranh luận có tầm cỡ như vậy, đụng chạm tình cảm
dân tộc, không dễ được sự đồng tình của mọi người, thì cơ sở khoa học lại rất
mỏng manh. Hai sọ người tìm được ở hai mộ thuyền Châu Can là rất quý: tới đó,
chưa bao giờ tìm được một sọ cổ nào ở một thời đại tương đương lại nguyên vẹn
như thế, do được ngâm trong bùn, và đây lại gồm một sọ nam, một sọ nữ. Thế
nhưng, nếu những sọ thu thập được từ trước về thời đai này và cả về thời đại đá
mới trước đó, mới được sắp xếp và đo đạc sơ bộ, đối chiếu và nghiên cứu sơ
lược, thì hai sọ này, dù có giá trị khoa học không nhỏ, dù rõ ràng là có mang
những nét Ô-xtơ-ra-lô-ít, nhưng lại chưa được giám định, chưa được so sánh kỹ
lưỡng. Mặt khác, thật ra đã khá rõ ràng là những người cổ Châu Can mang những
nét Ô-xtơ-ra-lô-ít chỉ ở mức độ loại hình Anh-đô-nê-diêng, mà người
Anh-đô-nê-diêng thì lại vẫn tồn tại chính ngày nay trên đất nước ra, đặc biệt ở
miền núi; đồng thời chưa có chứng cớ gì nói rằng người thời đại kim khí phổ
biến ở đồng bằng, tuy tục làm nhà sàn, giã cối đôi, chôn người trong thân cây
khoét rỗng v.v. lúc bấy giờ có thể là phổ biến ở mọi địa hình, kể cả ở đồng
bằng.
2. Giờ đây, tình hình có
khác. Về sử liệu cũng như về nhận thức và phương pháp nhận thức khoa học, đều
có khác.
Về sử liệu, những năm
gần đây chúng ta phát hiện được sọ cổ nhiều hơn, tập trung hơn bao giờ hết. Ở
Quỳ Chử, rồi Núi Nấp, rồi Cồn Cổ Ngựa, đều ở Thanh Hóa, hàng trăm di tích xương
cốt, hàng chục sọ thuộc cuối thời đại đá mới, và thuộc thời đại kim khí đã được
phát hiện. Tuy sọ cổ còn nghiên cứu được không đồng đều ở các nơi, các giai
đoạn phát triển lịch sử, nhưng đó cũng là một vốn tài liệu hiếm có.
Tiến bộ về quan điểm,
đặc biệt quan điểm lịch sử trong khoa học, lại càng rõ. Khoa học lịch sử, đặc
biệt về khảo cổ học, được thâm nhập quần chúng, đã giáo dục sâu sắc hơn những
nhà nghiên cứu sử học, cũng như dư luận rộng rãi về “quy luật phát triển lịch
sử” đã làm thấm nhuần hơn nhận thức rằng những phạm trù chủng tộc và dân tộc,
cũng như những tiếng nói, những nền văn hóa, đều mang tính lịch sử, điều diễn
biến. Ta lập luận, suy diễn lô gich, dễ nói: những điều sơ đẳng nhất
đó, làm gì mà phải cần chờ đợi cho thấm sâu? Nhưng đó là sự thật thường xảy ra,
ở ta cũng như nhiều nơi kacs: thường khi, có một khoảng cách giữa biết và nhận
thức thật sự.
Nhưng nay, sau khi luận
điểm dân tộc Việt Nam đã có từ lâu đời được đặt ra và tranh luận, chúng ta đã
nhận thức được càng rõ mối tương quan biện chứng, đa dạng, giữa diễn biến và
truyền thống. Chúng ta thấy: nếu trên thế giới có những cộng đồng người bị
chinh phục rồi tiêu diệt, như ở châu Mý, châu Úc; có những cộng đồng người đi
xâm lược nhưng rồi hóa bị hòa tan, trong khối người bị thống trị, như người Mãn
Châu trong khối Hán, - thì thường nhiều cộng đồng người khác hiện nay không
phải thiên di từ đâu đến, mà vốn nảy sinh và trưởng thành tại chỗ. Những dân
tộc hiện nay, dù trải qua những biến thiên, vẫn biến diễn và phát triển trên cơ
sở một nền nhân chủng cố định là chủ yếu. Tộc người Ghéc-man xưa, dân tộc Đức
ngày nay, là như thế. Nước Nga Kiev, hay Rus, quốc gia đầu tiên của tộc Đông
Xlao, tổ chung của ba dân tộc hiện đại: Nga, U-cren và Biê-lô-ru-xi (Đại Nga,
Tiểu Nga, Bạch Nga), đã phải đụng độ nhiều phen với những tộc xâm lược từ phía
bắc, từ phía tây, từ phía đông. Nếu dân tộc Rus rồi sau chia ba, đó là do những
yếu tố nội tại, và người ba dân tộc anh em này vẫn chung một dòng máu, chung
một di sản lịch sử và văn minh. Một dân tộc như dân tộc Pháp, mang chan hòa máu
La Mã, máu Ghéc-man, không kể những đợt xâm lược của người Hoong, người A-ráp,
người Vi-kinh nhưng vẫn không lãng quên gốc Xen-tơ khi nhận người Gô-loa là tổ
tiên xa xưa mà vẫn là chủ yế. Người Việt Nam ta, dù phải chịu đựng cả nghìn năm
Hán thuộc với một chính sách đồng hóa liên tục về văn hóa, về chủng tộc, nhưng
trân trọng và trìu mến giữ gìn truyền thống Đông Sơn của các vua Hùng. Giống
như người Đông Sơn đã tiếp nhận Hòa Bình – Bắc Sơn – Phùng Nguyên như di sản
của ông cha. Như vậy có quyền và có nhiệm vụ tình cảm coi người thời Văn Lang –
Âu lạc là tổ tiên mình, mặc dầu về chủng tộc đó đã là người Nam Á hay còn là
người Anh-đô-nê-diêng, coi cả người còn mang dấu ấn Ô-xtơ-ra-lô-ít thời Hòa
Bình - Bắc Sơn nữa cũng là tổ tiên, vì là tổ tiên của tổ tiên mình.
****
Tài liệu gốc mới thu
thập được thêm, quan điểm và phương pháp nghiên cứu vững vàng hơn, cho phép,
hơn nữa đòi hỏi chúng ta mở những cuộc tranh luận mới nhằm khám phá hình dáng,
diện mạo con người thời Hùng Vương. Và cùng với dáng dấp, nét mặt, phải tìm gốc
gác con người đó, sự biến chuyển trước sau, quan hệ bà con gần xa với những
loại hình người láng giếng ít nhiều gần gụi Đông Nam Á.
Vấn đề thuật
ngữ, tên gọi, tưởng đâu như dễ giải quyết, như nêu và có thể tách ra
mà giải quyết trước cho gọn, nhất là hai thuật ngữ cơ bản nhất đều rõ ràng là
không hợp lý. Thật ra không phải thế. Đặt lại tên từ trước dễ là áp đặt sẵn từ
trước những kết luận chưa thể có ngay. Và lại tai sao hai thuật ngữ? Tìm hai
thuật ngữ đã là khẳng định ngay từ trước một quá trình có hai giai đoạn phát
triển, được đánh dấu bằng hai mẫu người. Có thật thế không? Và nếu có thể phân biệt
hai mẫu chính thì người ở thời đại kim khí, người thời các vua Hùng, thuộc mẫu
nào?
Vấn đề cơ bản đầu tiên
phải được nhận xét và khẳng định có thể phải là phân định rõ – xác định hay
phản bác – trong khoảng một vạn năm qua, có thể nhận ra chăng mẫu hay những mẫu
người nào trung gian tiến đến mẫu người ngày nay, nếu tạm gọi mẫu người hiện
đại phổ biến ở Việt Nam là “Nam Á hiện đại”? Một mẫu thôi với một số dạng biến
diễn, hai mẫu như tạm chấp nhận cho tới nay, hoặc mấy mẫu ít nhiều khác nhau?
Nhận định mới sẽ phải không như trước nữa mang nặng tính phân loại cảm tính, mà
phải được thể hiện bằng những số liệu nhân trắc trung bình, hay linh hoạt giữa
hai ranh giới. Dĩ nhiên, mỗi đơn vị không nhất thiết phải mang đầy đủ những
tiêu chuẩn mẫu: những đặc điểm cá biệt luôn luôn xảy ra trong thiên nhiên, cần
được loại trừ xác đáng, khi định mẫu điển hình.
Xét trình tự biến đổi
trong mẫu điển hình và từ mẫu điển hình này sang mẫu điển hình khác, cũng đồng
thời là nhận định nhịp độ biến diễn, và đặc biệt là nhận định tình
trạng diễn biến ở thời các vua Hùng trong toàn bộ quá trình biến diễn
nhân chủng.
Động lực nào đã tạo ra, đã thúc đẩy, nhanh hay chậm chạp quá trình biến
diễn được nhìn thấy? Do biến diễn tự nhiên, hoặc có hoặc không có tác dụng xúc
tác của môi trường hay của sự đổi thay khí hậu? Hay do lai giống? Và nếu do lai
giống là chính, với hiện tượng “vàng hóa” dần dần mầu da, yếu tố vàng ngày càng
đậm so với yếu tố đen xuất phát, - thì phải tìm ở đâu nguồn gốc yếu tố vàng
này?
Một câu hỏi cuối cùng
được đặt ra là, ở lãnh thổ Việt Nam ngày nay nói riêng và ở toàn bộ Đông Nam Á
nói chung (trong đó kể cả Hoa Nam), trong chừng mực nào văn hóa có
chủng tộc, chủng tộc và tình cảm cộng đồng khớp nhau hay không khớp?
Và nếu có khớp hay không khớp nơi đây, thì vì sao như thế?
***
Những câu hỏi trên đây,
trong chừng mực nào được giải đáp, cho phép hình dung được phần nào nụ cười
khóe mắt của con người sống cùng thời với các vua Hùng, Hai Bà Trưng…đồng thời
góp phần soi sáng cả vạn năm tiến hóa của tổ tiên ta ở thời bắt đầu xây dựng
văn minh, chớm nỏ ý thức dân tộc, dựng nước đầu tiên.
Song những câu hỏi đó
không phải đơn thuần do suy diễn và tranh luận mà có thể được giải đáp. Minh
chứng về kiểu người, về khổ mặt của những con người thời đó còn đây. Nhưng
chúng ta bàn luận, suy nghĩ, mà cũng cần tiếp tục đo đạc những sọ cổ vừa phát
hiện được, đo đạc lại những sọ cổ đã có sẵn, đối chiếu so với những hiểu biết
gần đây nhất về hình thái học, nhân chủng học, di truyền học…Chúng ta sẽ vừa
nghiên cứu khoa học, vừa giám định và xây dựng hệ thống tư liệu khảo cổ và lý
luận cho khoa học tương lai, còn có những khả năng và những triển vọng dồi dào
hơn, một sức khám phá to lớn hơn trong những năm sắp tới.
ABOUT THE DEBATE OF PREHISTORIC MEN OF TODAY’S VIET
NAM OUR ANCESTORS AT THE TIME OF THE FIRST STATE FOUNDING
PHAM HUY THONG
A thesis on men at the
time of our first State founding (in a broader sense, on the origins of the
Vietnamese nation) claborated in the late 60s when we studied Vietnamese
protohistory. Le, i.e, the Hung Kings period is now brought under disscussuons.
That is: from of Mongoloidization to gradually become “Indonesians” then “South
Asians”. The Hung Kings period was precisels the time of Indonesians becoming
South Aseans. Most? Vietnamese today belong to South Asian type while a small
number still bear Indonesian traits.
Some counter-arguments
have been reported. No one has put up a new schema, but there have been views
against the above thesis on numerous particular points. Now it is high time to
sum up this anthropology – study for further work, since along with new ideas,
fresh materials have also come.
Three principal problems
deserve attention: various types of ancient men, the reasons for typological
variations and the tyoplogical terminology. We don’t think any final conclusion
will be soon reached yet, but we hope the problem can defined, and at least the
collection, survey and preparation of documents for a more thorough scientific
study in future will have started.