Quyền của người lao động theo pháp luật quốc tế và giá trị tham khảo cho Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Tóm tắt: Quyền của người lao động luôn được xem là một bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống các quyền con người. Trong các văn kiện pháp lý quan trọng của Liên Hiệp quốc (UN) và công ước, khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về nhân quyền, quyền của người lao động được đề cập rất sớm và rõ nét. Từ việc thống kê và phân tích các quy định của pháp luật quốc tế về quyền của người lao động, bài viết đề xuất một số khuyến nghị cho Việt Nam trong việc hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan nhằm bảo đảm quyền của người lao động trong bối cảnh hiện nay.
Từ khóa: Người lao động; quyền của người lao
động; pháp luật quốc tế.
Abstract:
The rights of laborers are widely recognized as an essential component of the
broader human rights system. In key legal documents issused by the United
Nations as well as in conventions and recommendations of the International
Labor Organization (ILO) concerning human rights, worker’s rights have been
clearly mentioned from an early stage. By examining and analyzing international
legal provisions related to these rights, this article proposes some
recommendations for Vietnam to refine its legal framework and ensure the
protection of workers’ right in the current context..
Keywords: Laborers; laborers’ rights;
international laws.
Ngày
nhận bài:15/12/2024; Ngày sửa bài: 20/02/2025; Ngày duyệt đăng bài: 22/03/2025.
1.
Khái niệm quyền của người lao động
Hiện
nay, tuy chưa có một định nghĩa chính thức về khái niệm “quyền của người lao động”,
tuy nhiên, khái niệm này đã được đề cập và bảo đảm trong một số văn kiện pháp
lý quốc tế quan trọng của Liên Hợp quốc (UN) như: Tuyên ngôn về quyền con người
(UDHR, 1948), Công ước các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR, 1976);
Công ước về các quyền dân sự và chính trị (1976); Công ước Quyền trẻ em; Công ước
Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW); Công ước Quyền người
khuyết tật; các công ước, khuyến nghị của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) về
nhân quyền.
Theo
nghĩa chung nhất, quyền của người lao động
(NLĐ) là những quyền con người liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử
dụng lao động, bao gồm việc làm, tiền lương, an toàn lao động, hoạt động công
đoàn, an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm nói riêng. Các quyền này là những
chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và bảo đảm tuân thủ trong các điều ước
đa phương. Đến lượt nó, các chuẩn mực này lại được các quốc gia thành viên, chủ
thể của các điều ước quốc tế “chuyển hóa” vào pháp luật và bảo đảm thực hiện
trên thực tế ở quốc gia mình. Mặc dù quyền của NLĐ có thể được diễn giải ít
nhiều khác nhau ở các quốc gia, song trên bình diện quốc tế, về cơ bản, bao gồm
các nhóm quyền chính sau: (1) Quyền được làm việc trong đó bao gồm quyền tự do
không bị lao động cưỡng bức (LĐCB),
quyền tự do chấp nhận và lựa chọn công việc; (2) Quyền được hưởng mức lương
công bằng và được trả bằng nhau cho những công việc như nhau; (3) Quyền được
làm việc trong điều kiện bảo đảm vệ sinh và an toàn lao động; (4) Quyền được có
thời gian làm việc và thời gian nghỉ ngơi hợp lý; (5) Quyền được thành lập, gia
nhập và hoạt động công đoàn, trong đó bao gồm cả quyền được thương lượng tập thể
và đình công; (6) Quyền được hưởng an sinh xã hội.
2.
Quy định về quyền của người lao động trong pháp luật quốc tế
2.1. Quyền được làm việc,
quyền tự do không bị lao động cưỡng bức
Quyền
được làm việc: Quyền được làm việc (right to work), hay
còn gọi là quyền về việc làm, hiểu theo nghĩa rộng, là một nhóm quyền cơ bản
trong lao động. Quyền được làm việc có vị trí rất quan trọng, vì “Quyền được
làm việc là cốt lõi để thực hiện các quyền con người khác và tạo nên một phần
quan trọng, không thể tách rời và tự nhiên của nhân phẩm”. Điều 23, khoản 1
Tuyên ngôn về quyền con người (UDHR) quy định: “Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được
hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn
thất nghiệp”. Công ước các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) đã cụ
thể hóa các quyền về làm việc trong UDHR tại Điều 6, khoản 1, 2.
Ở
cấp độ toàn cầu, quyền được làm việc còn được quy định tại Điều 8, khoản 3 điểm
(a) của Công ước các quyền dân sự, chính trị (ICCPR); Điều 5 Công ước về xóa bỏ
mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965; Điều 11, khoản 1, điểm a Công ước
xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979; Điều 32 Công ước
về quyền trẻ em năm 1989 và các Điều 11, 25, 26, 40, 52 và 54 Công ước bảo vệ
quyền của của những người lao động nhập cư và các thành viên gia đình họ năm
1990,... Một số văn kiện có tính chất khu vực cũng đã thừa nhận quyền được làm
việc theo khía cạnh chung, bao gồm: Hiến chương xã hội châu Âu năm 1961, sửa đổi
năm 1996 (Phần II, Điều.1); Hiến chương châu Phi về nhân quyền và quyền của các
dân tộc năm 1981 (Điều 15); Nghị định thư bổ sung của Công ước châu Mỹ về nhân
quyền trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1988 (Điều 6)...
Quyền
được làm việc, theo tinh thần các văn kiện của UN rất rộng
rãi và khá toàn diện. Đó là quyền của mỗi người được quyết định tự do chấp nhận
và lựa chọn việc làm. Việc làm phải là công việc chính đáng, trong đó NLĐ được
tôn trọng các quyền cơ bản của con người. Công việc phải tạo ra thu nhập cho
phép NLĐ nuôi sống bản thân và gia đình họ. Bất cứ một sự phân biệt đối xử nào
trong việc tiếp cận và duy trì công việc dựa trên cơ sở chủng tộc, màu da, giới
tính, ngôn ngữ, tôn giáo... đều bị nghiêm cấm. Các quốc gia thành viên có nghĩa
vụ tôn trọng quyền làm việc, tức là phải đưa ra các biện pháp, trong đó có các
biện pháp pháp lý nhằm thực hiện quyền này một cách đầy đủ và hiệu quả. Ngoài
ra, các văn kiện của UN cũng quan tâm đến các đối tượng đặc biệt trong việc thực
hiện quyền làm việc như phụ nữ, trẻ em, người tàn tật, lao động nhập cư...
Tổ
chức Lao động quốc tế (ILO) ngay từ buổi đầu thành lập (năm 1919), đã tuyên bố trong
Lời nói đầu bản Điều lệ của mình: “Chống
nạn thất nghiệp, bảo đảm tiền công đủ sống”. Tuyên ngôn Phi-la-đen-phi-a
(năm 1944) cũng đã ghi tuyên bố: (a) Toàn dụng lao động và nâng cao mức sống;
(b) Sử dụng NLĐ vào những công việc mà họ có thể hết lòng cống hiến tay nghề và
tri thức của mình và góp phần tốt nhất cho phúc lợi chung; (c) Cung cấp mọi điều
kiện thuận lợi trong việc đào tạo và chuyển dịch lao động, kể cả việc di trú để
có việc làm và định cư...;
Quyền
tự do không bị lao động cưỡng bức (LĐCB): Trong UDHR, vấn đề cấm LĐCB được bao
hàm trong Điều 4 “Không ai bị giữ làm nô
lệ, hoặc bị nô dịch; chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới tất cả các hình thức đều
bị cấm”. ICCPR tái ghi nhận lại điều này và khẳng định thêm tại Điều 8 Khoản
1 điểm (a) “Không được đòi hỏi bất kỳ người
nào phải lao động bắt buộc hoặc cưỡng bức”. UN không có một công ước riêng
nào về LĐCB hoặc bắt buộc. Tinh thần này được thể hiện ở một số công ước như
Công ước về “nô lệ” năm 1926 của Hội quốc liên mà UN đã chấp nhận việc kế thừa
vào năm 1953, Công ước về trấn áp buôn người và bóc lột mại dâm người khác năm
1949. Năm 1956, UN có Công ước bổ sung về xóa bỏ chế độ nô lệ, việc buôn bán nô
lệ và các hình thức thực tiễn tương tự như nô lệ. Xóa bỏ LĐCB dưới mọi hình thức
còn
được
thể hiện ở Điều 6 Công ước về “Xóa bỏ
phân biệt đối xử chống lại phụ nữ” năm 1979 (CEDAW), các Điều 32, 34 Công ước
về “Quyền trẻ em” năm 1989 (CRC). Xóa
bỏ LĐCB hoặc bắt buộc là một trong những nguyên tắc quan trọng bảo đảm thực hiện
các quyền cơ bản của con người, thuộc chức năng của ILO. Để thực thi chức năng
này, ILO đã thông qua 2 Công ước cơ bản là Công ước số 29 (1930) về “LĐCB hoặc bắt buộc” và Công ước số 105
(1957) về “Xóa bỏ LĐCB”. Tuy mục tiêu
của 2 công ước đều giống nhau là xóa bỏ LĐCB dưới mọi hình thức nhưng mức độ,
yêu cầu của mỗi công ước là rất khác nhau: Công ước 29 cho phép các quốc gia
thành viên có một lộ trình phù hợp để tiến tới thực hiện một cách đầy đủ nhất
Công ước. Song Công ước 105 lại yêu cầu các quốc gia thành viên phê chuẩn Công
ước 105 phải tìm mọi biện pháp để loại bỏ ngay việc sử dụng LĐCB... hoặc bắt buộc
dưới mọi hình thức và cam kết không sử dụng bất kỳ hình thức nào của LĐCB.
“Xóa
bỏ mọi hình thức LĐCB và bắt buộc” còn được nhắc đến
trong Tuyên bố về Các nguyên tắc và Quyền cơ bản tại nơi làm việc, năm 1998 của
ILO. Ngoài ra, trong lĩnh vực xóa bỏ LĐCB không thể không kể đến Công ước số
138 (1973) về “tuổi lao động tối thiểu” và Công ước số 182 (1999) về “nghiêm cấm
và hành động khẩn cấp xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất”. Theo
hai công ước này thì thuật ngữ “lao động trẻ em” được hiểu là người lao động dưới
18 tuổi. Trong khi yêu cầu các quốc gia thành viên phê chuẩn công ước “sẽ tiến
hành những biện pháp khẩn cấp và hiệu quả để bảo đảm việc nghiêm cấm và xóa bỏ
các hình thức trẻ em tồi tệ nhất”, Công ước số 182 đã xác định rõ những hình thức
lao động trẻ em tồi tệ nhất.
2.2. Quyền được hưởng mức
lương công bằng, hợp lý và được trả lương bằng nhau cho những công việc như
nhau.
Trong
pháp luật quốc tế, nguyên tắc trả lương công bằng, hợp lý, trả công ngang nhau
cho những công việc như nhau được đề cao. Đồng thời, vấn đề tiền lương tổi thiểu
cũng được quan tâm điều chỉnh bảo đảm để thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của NLĐ và
gia đình họ. Tại Điều 23, khoản 2 UDHR quy định: “2. Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho những công việc
như nhau mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào; 3. Mọi NLĐ đều có quyền được
hưởng chế độ thù lao công bằng và hợp lý nhằm bảo đảm sự tồn tại của bản thân
và gia đình xứng đáng với nhân phẩm, và được trợ cấp khi cần thiết bằng các biện
pháp bảo trợ xã hội;...” Điều 7, ICESCR khẳng định về quyền của mọi người
được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt là được đảm
bảo: “Thù lao cho tất cả mọi người làm
công tối thiểu phải đảm bảo thoả đáng và công bằng, đảm bảo cuộc sống tương đối
đầy đủ cho họ và gia đình họ”. Trong Hiến chương và Tuyên ngôn Phi-la
den-phi-a, ILO đều tuyên bố bảo đảm “mức lương tối thiểu đủ sống” và “thừa nhận nguyên tắc trả công bằng nhau cho
những công việc như nhau”. Để bảo đảm nguyên tắc mức lương tối thiểu đủ sống,
ILO đã có các Công ước số 95 (1949) về “bảo vệ tiền lương”, Công ước số 131
(1970) về “ấn định lương tối thiểu, đặc
biệt đối với các nước đang phát triển”. Cùng với việc bảo đảm nguyên tắc “mức
lương tối thiểu đủ sống”, vào năm 1951, ILO đã thông qua Công ước số 100 về “trả
công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị
ngang nhau”, trong đó, yêu cầu “mỗi nước
thành viên, bằng những biện pháp thích hợp với các phương pháp hiện hành trong
việc ấn định mức trả công, phải khuyến khích và trong chừng mực phù hợp với các
phương pháp ấy, bảo đảm việc áp dụng cho mọi NLĐ nguyên tắc trả công bình đẳng
giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau”
(Điều 2, Khoản 1). Tuy nhiên, Công ước cũng coi “những mức trả công chênh lệch giữa những NLĐ không xét theo giới tính
mà là tương ứng với những khác biệt trong công việc phải làm đã được xác định bằng
việc đánh giá khách quan nói trên thì sẽ không được coi là trái với nguyên tắc
trả công bình đẳng...”.
2.3 Quyền được đảm bảo
điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh
Quyền
được bảo đảm điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh nằm trong quyền làm việc nói
chung được tuyên bố tại Điều 23 Khoản 1, UDHR: “Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được
hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn
thất nghiệp”. ICESCR tại Điều 7 khẳng định “các quốc gia thành viên công nhận các quyền của mọi người được hưởng
các điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi, đặc biệt;... những điều kiện làm
việc an toàn và vệ sinh”. ILO đã ghi nhận tại “Lời nói đầu” Điều lệ: “bảo vệ
công nhân đối với những bệnh tật thông thường, bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao
động, bảo hộ thiếu niên, thanh niên và phụ nữ”. Tuyên ngôn Phi-la-del-phi-a năm
1944 cũng tái tuyên bố “bảo vệ thích đáng cuộc sống và sức khoẻ của NLĐ trong mọi
loại công việc”. Trong số các công ước ILO đã thông qua thì số có liên quan đến
điều kiện lao động chiếm phần quá nửa, tiêu biểu như các Công ước số 119 (1963)
về “che chắn máy móc”, số 148 (1977) về “bảo vệ người lao động chống những rủi
ro nghề nghiệp do ô nhiễm không khí, ồn và rung tại nơi làm việc”, số 155
(1981) về “an toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường làm việc”, số 161
(1985) về “dịch vụ y tế lao động”, số 167 (1988) về “an toàn sức khoẻ trong xây
dựng”, số 174 (1993) về “phòng ngừa những tai nạn công nghiệp nghiêm trọng”, số
176 (1995) về “an toàn và sức khoẻ trong hầm mỏ”, số 184 (2001) về “an toàn - vệ
sinh lao động trong nông nghiệp”... Đáng chú ý hơn cả là Công ước số 155 (1981)
về “An toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường làm việc”. Trước đó, vào
năm 1947, ILO cũng thông qua Công ước số 81 về “Thanh tra lao động trong công
nghiệp và thương mại”.
2.4 Quyền nghỉ ngơi và
thư giãn
Quyền
nghỉ ngơi và thư giãn có quan hệ mật thiết với quyền về sức khỏe (right to
health) - một quyền cơ bản của con người - được đề cập tại Điều 25, khoản 1
UDHR và Điều 12, khoản 1, 2 ICCPR. Trong lĩnh vực lao động, quyền nghỉ ngơi và
thư giãn thuộc về điều kiện lao động và sử dụng lao động, liên quan trực tiếp đến
quyền làm việc và được hưởng thù lao. Trước hết, Điều 24 UDHR tuyên bố “mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và thư
giãn, kể cả quyền được giới hạn hợp lý số giờ làm việc và được hưởng những ngày
nghỉ định kỳ có hưởng lương”. Điều 7 ICESCR cũng tái khẳng định quyền nghỉ
ngơi và có thời gian rảnh rỗi của mọi người, theo đó, các quốc gia thành viên của
công ước, ngoài việc công nhận quyền của mọi người hưởng những điều kiện làm việc
công bằng và thuận lợi, còn đặc biệt đảm bảo sự nghỉ ngơi, thời gian rảnh rỗi,
giới hạn hợp lý số giờ làm việc, những ngày nghỉ thường kỳ được hưởng lương
cũng như thù lao cho những ngày nghỉ lễ. Trong Điều lệ của mình, ngay từ năm
1919, ILO đã chủ trương “điều tiết thời
giờ làm việc, bao gồm cả việc quy định thời giờ làm việc tối đa trong một ngày
và trong một tuần”. Công ước số 1 (1919) về “thời giờ làm việc trong công
nghiệp” đã quy định ngày làm việc 8 hoặc 9 giờ và tuần làm việc 48 giờ. Trong
các Công ước ban hành vào thời kỳ đầu, ngày làm việc thường được quy định là 8
giờ và tuần làm việc là trong khoảng từ 40 đến 48 giờ. Bắt đầu từ năm 1934,
trong các Công ước số 43, 47, 51, 61, 63... ILO đã liên tục đưa ra các định mức
về tuần lễ 40 giờ làm việc. Năm 1962, ILO lại đưa ra Khuyến nghị số 116 về “giảm
thời giờ làm việc”. Ngày nay, do tiến bộ của khoa học - kỹ thuật, năng suất lao
động tăng cao, cộng với sức ép về thất nghiệp nên việc rút ngắn thời giờ làm việc,
tăng thời giờ nghỉ ngơi đã trở thành xu hướng phổ biến của các quốc gia trên thế
giới. Pháp luật của một số quốc gia phát triển đã quy định tuần làm việc 40 hoặc
36 giờ, với tuần lễ có 02 ngày nghỉ. Vấn đề nghỉ ngơi hàng ngày, hàng tuần,
hàng năm cũng như việc làm đêm, làm thêm giờ... cũng được ILO quan tâm, đáng
chú ý là các Công ước số 14 (1921) về “Áp dụng nghỉ hàng tuần cho các cơ sở
công nghiệp, số 106 (1957) về “Nghỉ hàng tuần trong thương mại và văn phòng”; số
171 (1990) về “Làm việc ban đêm”. Theo Công ước số 132 (1976) về “những ngày
nghỉ có hưởng lương” thì độ dài tối thiểu của số ngày nghỉ cơ bản là 3 tuần làm
việc cho một năm làm việc. Nhìn chung, các nước công nghiệp cũng như các nước
đang phát triển có xu hướng ủng hộ việc kéo dài thời gian nghỉ.
2.5. Quyền công đoàn
Quyền
công đoàn là quyền có tính chất tập thể của NLĐ. Theo nghĩa chung nhất, quyền
công đoàn bao gồm quyền được thành lập, tham gia công đoàn, được thương lượng tập
thể và được đình công. Quyền tự do công đoàn của NLĐ, xét về tổng thể, chỉ là một
khía cạnh của quyền tự do lập hội của con người nói chung được tuyên bố tại Điều
20 của UDHR. Quyền công đoàn được UDHR nêu khái quát tại Điều 23 Khoản 4 “Mọi người đều có quyền thành lập hoặc gia
nhập công đoàn (right to form and join trade union) để bảo vệ các quyền lợi của
mình”. ICCPR ghi nhận tại Điều 22 Khoản 1: “Mọi người đều có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền
lập và gia nhập các công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”. Tại Khoản 3 của
Điều này còn nhấn mạnh: “Không một quy định
nào của điều này cho phép các nước tham gia công ước năm 1948 của ILO về tự do
lập hội và bảo vệ quyền lập hội tiến hành những biện pháp lập pháp hoặc hành
pháp làm phương hại đến những đảm bảo nêu trong Công ước đó”. Quyền công
đoàn còn được khẳng định và cụ thể hóa tại Điều 8 ICESCR. Trong Lời nói đầu Điều
lệ ILO đã tuyên bố “thừa nhận nguyên tắc tự do liên kết (hiệp hội)”. Tuyên ngôn
Phi-la-del-phi-a (1944) khẳng định: “tự do ngôn luận và tự do liên kết là điều
kiện thiết yếu của tiến bộ lâu dài”. Một lần nữa, nguyên tắc này được nhắc đến
trong Tuyên bố về Các nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc năm 1998.
Năm
1948, ILO đã thông qua Công ước số 87 về “quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ
quyền được tổ chức”, theo đó, những NLĐ và những người sử dụng lao động, không
hề phân biệt, đều không phải xin phép trước mà vẫn có quyền hợp thành những tổ
chức theo sự lựa chọn của mình, có quyền gia nhập tổ chức đó với một điều kiện
duy nhất là theo đúng điều lệ của tổ chức hữu quan. Cùng với quyền tự do liên kết
theo Công ước số 87, Công ước số 98 (1949) về “về quyền tổ chức và thương lượng tập thể” còn yêu cầu các Chính phủ
phải bảo đảm rằng quyền liên kết phải được thực hiện bằng các biện pháp thích hợp.
Tuy xem đình công là một biện pháp quan trọng để NLĐ và các tổ chức của họ bảo
vệ những lợi ích kinh tế và xã hội của mình, song cho đến nay, do nhiều nguyên
nhân, ILO chưa có công ước hoặc một khuyến nghị nào dành riêng cho vấn đề đình
công. Về nguyên tắc, ILO thừa nhận những quy định tại ICESCR về quyền đình công
của NLĐ và yêu cầu các quốc gia thành viên tôn trọng và bảo đảm thực thi “Quyền đình công với điều kiện là quyền này
phải được thực hiện phù hợp với pháp luật của mỗi nước”.
2.6. Quyền được hưởng
an sinh xã hội
Quyền
được hưởng an sinh xã hội (right to social security) được đề cập trong Điều 22
UDHR, theo đó: “Với tư cách là thành viên của xã hội, mọi người đều có quyền được
hưởng an sinh xã hội cũng như được thực hiện các quyền về kinh tế, xã hội và
văn hóa không thể thiếu đối với nhân phẩm và tự do phát triển nhân cách của
mình, thông qua nỗ lực quốc gia, hợp tác quốc tế và phù hợp với hệ thống tổ chức
và nguồn lực của mỗi quốc gia”. Quyền này sau đó được tái khẳng định trong Điều
9 ICESCR, trong đó nêu một cách ngắn gọn rằng, các quốc gia thành viên Công ước
này thừa nhận quyền của mọi người được hưởng an sinh xã hội, kể cả bảo hiểm xã
hội. Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa chưa có bình luận chung nào cụ
thể về điều này. Tuy nhiên, trong hướng dẫn thiết lập báo cáo quốc gia về việc thực
hiện Công ước, Ủy ban xác định khái niệm an sinh xã hội bao gồm các chương
trình cụ thể về: (i) chăm sóc y tế; (ii) trợ cấp tàn tật; (iii) trợ cấp tuổi
già; (iv) trợ cấp tai nạn lao động; (v) trợ cấp đau ốm bằng tiền; (vi) trợ cấp
thất nghiệp; (vii) trợ cấp gia đình; (viii) trợ cấp làm mẹ; (ix) trợ cấp cho
người còn sống. Cũng tại hướng
dẫn này, Ủy ban nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập các chương trình an
sinh xã hội cụ thể cũng như việc dành một tỷ lệ thích đáng ngân sách quốc gia
cho việc bảo đảm quyền an sinh xã hội. Kể từ khi thành lập, ILO đã tham gia vào
nhiều hoạt động trong lĩnh vực an sinh xã hội, với hơn 20 công ước và nhiều
khuyến nghị đã được thông qua. Đáng chú ý là vào năm 1952, ILO đã thông qua
Công ước số 102 về “Quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội”, trong đó đã đưa ra
chín dạng trợ cấp, bao gồm: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp,
trợ cấp tuổi già (hưu bổng), trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, trợ
cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tiền tuất. Ngoài ra,
trong lĩnh vực an sinh xã hội, ILO còn có các công ước đáng chú ý khác như: số
117 (1962) về “Chính sách xã hội (mục tiêu và mức cơ bản)”, số 118 (1962) về “Đối
xử công bằng” (an sinh xã hội), số 121 (1964) về “trợ cấp tai nạn lao động”, số
128 (1967) về “trợ cấp tàn tật, tuổi già và tiền tuất”, số 157 (1982) về “thiết
lập một hệ thống quốc tế để duy trì các quyền về an toàn xã hội”.
Như
vậy, theo các công ước quốc tế, quyền của NLĐ được ghi nhận, tôn trọng, bảo đảm
và bảo vệ toàn diện dưới nhiều khía cạnh, trong đó trọng tâm là quyền được làm
việc, quyền tự do không bị LĐCB; quyền được hưởng mức lương công bằng, hợp lý
và được trả lương bằng nhau cho những công việc như nhau; quyền được đảm bảo điều
kiện làm việc an toàn và vệ sinh; quyền nghỉ ngơi và thư giãn; quyền công đoàn;
quyền được hưởng an sinh xã hội. Trên cơ sở các quy định này, pháp luật của các
quốc gia thành viên có trách nhiệm nội luật hóa, bảo đảm quyền cơ bản của NLĐ
trong phạm vi quốc gia mình.
3.
Một số giá trị tham khảo cho Việt Nam trong việc bảo đảm quyền của người lao động
trong kỷ nguyên mới
Từ
quy định pháp luật quốc tế về quyền của NLĐ, với nỗ lực thực hiện các nghĩa vụ
của một thành viên, đến nay, Việt Nam đã tham gia 25 công ước về quyền lao động
của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Đồng thời,
Việt Nam đã nỗ lực triển khai việc thực thi các công ước, trong đó bao gồm việc
nội luật hóa các quy định của công ước trong hệ thống pháp luật quốc gia, đặc
biệt là Bộ luật Lao động năm 2019; Luật Việc làm năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm
2024); Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2024), Luật Công
đoàn năm 2024..., nhằm bảo đảm tốt hơn quyền của NLĐ theo đúng các cam kết quốc
tế về lao động mà Việt Nam tham gia.
Trong
bối cảnh hiện nay, đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên xây dựng đất
nước giàu mạnh, phát triển thịnh vượng và hội nhập quốc tế sâu rộng. Để tăng cường
hơn nữa cơ sở pháp lý bảo vệ quyền của NLĐ Việt Nam, tiếp tục nội luật hóa pháp
luật quốc tế về quyền của NLĐ mà Việt Nam là thành viên, có thể đúc rút một số
kinh nghiệm tham khảo và đề xuất các giải pháp hoàn thiện như sau:
Thứ
nhất, tiếp tục rà soát các quy định pháp luật liên quan đến
quyền của NLĐ, bảo đảm sự tương thích giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc
tế về liên quan đến bảo đảm quyền của NLĐ. Cụ thể là:
Một
là, hoàn thiện các quy định về tăng cường bảo đảm quyền làm việc của NLĐ.
Pháp luật cần hoàn thiện theo hướng cho phép tạo nhiều việc làm cho NLĐ kết hợp
với nâng cao chất lượng nhân lực; phát triển thị trường lao động và phát triển
quan hệ lao động bền vững. Để tạo nhiều việc làm cho NLĐ, pháp luật cần có những
quy định tạo điều kiện phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân cả về số lượng,
chất lượng, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng trong
phát triển kinh tế. Xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới
sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất
lao động. Khuyến khích hình thành, phát triển những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn,
tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế.
Hai
là, hoàn thiện các quy định về bảo đảm quyền công đoàn của NLĐ. Theo
quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, công đoàn và tổ chức của NLĐ tại doanh
nghiệp bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc đại diện bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ trong quan hệ lao động. Điểm mới này có thể
coi là bước tiến về công nhận quyền của NLĐ tại cơ sở trong quá trình cử đại diện
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của họ. Tuy nhiên, hiện nay chưa
có văn bản hướng dẫn cho việc thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ
chức của NLĐ tại doanh nghiệp (bên cạnh tổ chức công đoàn). Có ý kiến cho rằng
“quy chế pháp lý của các tổ chức này chưa được quy định rõ ràng và chưa có hướng
dẫn thi hành của các cơ quan có thẩm quyền”[3]. Do đó, vấn đề
này cần tiếp tục được hoàn thiện trong thời gian tới để tăng cường hơn nữa việc
bảo đảm quyền của NLĐ tại doanh nghiệp.
Cùng
với quy định trên, hiện nay, Bộ luật Lao động năm 2019 quy định cho phép NLĐ là
người nước ngoài làm việc hợp pháp tại Việt Nam được quyền gia nhập tổ chức của
NLĐ tại doanh nghiệp và “tổ chức của NLĐ tại doanh nghiệp có quyền gia nhập hệ
thống Công đoàn Việt Nam”. Quy định này gián tiếp thừa nhận quyền gia nhập vào
hệ thống Công đoàn Việt Nam của NLĐ nước ngoài. Để bảo đảm tính thống nhất với
Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Công đoàn năm 2024 đã ghi nhận tại khoản 2, Điều
5: “NLĐ là công dân nước ngoài làm việc tại
Việt Nam theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên được gia nhập
và hoạt động công đoàn tại công đoàn cơ sở”. Tuy nhiên, cách thức, trình tự
thủ tục để NLĐ là công dân nước ngoài được gia nhập và hoạt động công đoàn tại
công đoàn cơ sở chưa được cụ thể hóa.
Theo
quy định tại khoản 3, Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019 thì ngoài tổ chức cơ sở
trực thuộc Công đoàn Việt Nam là người đại diện của NLĐ và đoàn viên công đoàn
tại cơ sở thì còn có tổ chức đại diện cho NLĐ tại cơ sở không thuộc tổ chức Công
đoàn Việt Nam. Kể từ ngày 01/01/2021, Bộ luật Lao động năm 2019 cho phép NLĐ
thành lập tổ chức đại diện của NLĐ tại doanh nghiệp ngoài công đoàn trên cơ sở
phù hợp với các quy định quốc tế về lao động và tuân thủ các hiệp định thương mại
tự do mới mà Việt Nam đã tham gia. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về
thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức này còn chưa cụ thể. Đây là một vấn
đề rất mới, chưa từng có tiền lệ trong pháp luật lao động Việt Nam. Do đó, cần
phải tiếp tục rà soát, cụ thể hóa các quy định này của Bộ Luật Lao động năm
2019, Luật Công đoàn năm 2024 về tổ chức đại diện của NLĐ tại DN. Qua đó góp phần
hiện thực hóa, bảo đảm quyền liên kết và tự do công đoàn của NLĐ tại doanh nghiệp
trên thực tế.
Ba
là, hoàn thiện quy định về bảo quyền có thu nhập của NLĐ.
Theo đó, hệ thống pháp luật cần có những quy định bước ngoặt, có tác dụng cải
cách tổng thể, hệ thống, đồng bộ chính sách tiền lương theo hướng tuân thủ
nguyên tắc phân phối theo lao động và quy luật khách quan của kinh tế thị trường,
lấy tăng năng suất lao động là cơ sở để tăng lương. Thêm vào đó, Nhà nước cũng
cần phải điều chỉnh quan hệ phân phối thu nhập; tiếp tục hoàn thiện chính sách
tiền lương, tiền công trong khu vực doanh nghiệp theo hướng Nhà nước quy định mức
lương tối thiểu, đồng thời tăng cường cơ chế thương lượng, thỏa thuận tiền
lương theo nguyên tắc thị trường. Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định,
tiến bộ.
Bốn
là, hoàn thiện quy định về đảm bảo quyền được làm việc trong môi trường an
toàn, vệ sinh lao động của NLĐ. Trong tương lai, cần
nghiên cứu, hoàn thiện quy định về đối tượng được hưởng quyền về an toàn, vệ
sinh lao động trong Hiến pháp năm 2013 theo hướng: Mọi người đều có quyền được
bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn, chế độ nghỉ ngơi, không chỉ
giới hạn là người làm công ăn lương như quy định hiện hành. Như vậy, tất cả mọi
người, dù là lao động làm công ăn lương hoặc lao động tự làm, lao động có quan
hệ lao động hay không có quan hệ lao động đều có quyền được bảo đảm các điều kiện
làm việc công bằng, an toàn, chế độ nghỉ ngơi. Quy định này là cơ sở để các Bộ
luật, luật có liên quan quy định về quyền được bảo đảm các điều kiện làm việc
công bằng, an toàn, chế độ nghỉ ngơi cho mọi người.
Nội
dung trên nên bổ sung tại Điều 35 Hiến pháp năm 2013. Bên cạnh đó, cần sửa đổi
khoản 6, Điều 3, BLLĐ năm 2019 và khoản 3, Điều 2 Luật An toàn vệ sinh lao động
năm 2015. Cả hai văn bản cần sử dụng cụ từ “NLĐ
không có quan hệ lao động” để bảo đảm thống nhất.
Năm
là, hoàn thiện quy định về bảo đảm quyền hưởng an sinh xã hội. Pháp
luật cần hoàn thiện theo hướng mở rộng độ bao phủ của các chính sách an sinh xã
hội và có những quy định thúc đẩy việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội.
Thứ
hai,
nghiên cứu sửa đổi, bổ sung theo lộ trình phù hợp với thực tiễn Việt Nam các
quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019 về: Về lao động cưỡng bức: Khoản 7 Điều
3 BLLĐ năm 2019 có quy định “Cưỡng bức lao động là việc dùng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác để ép buộc người lao động phải làm việc trái
ý muốn của họ”. Tuy nhiên, khái niệm “thủ đoạn khác” chưa được minh định rõ
ràng, cần được cụ thể hóa để bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn. Cần nghiên cứu,
sửa đổi định nghĩa về cưỡng bức lao động vào Bộ luật Lao động sửa đổi theo hướng
nhận diện rõ về cưỡng bức lao động, đặc biệt là đối với trẻ em, lao động gia
đình. Bổ sung quy định về nhận diện các công việc nguy hiểm hoặc ảnh hưởng đến
việc học hành của trẻ em, hoặc có hại đối với sức khỏe hay sự phát triển về thể
chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức hay xã hội của trẻ em.
Trong
chương trình hành động đặc biệt Phòng chống LĐCB của ILO đã đưa ra các dấu hiệu
nhận biết LĐCB. Theo đó có 11 dấu hiệu nhận biết LĐCB như sau: Lạm dụng tình trạng
khó khăn của NLĐ; Lừa gạt; Hạn chế đi lại; Bị cô lập; Bạo lực thân thể và tình
dục; Dọa nạt, đe dọa; Giữ giấy tờ tùy thân; Giữ tiền lương; Lệ thuộc vì nợ; Điều
kiện sống và làm việc bị lạm dụng; Làm thêm giờ quá quy định. Việt Nam có thể
tham khảo, sử dụng những dấu hiệu này để giải thích, cụ thể hoá về LĐCB trong
pháp luật quốc gia. Việt Nam có thể xác định LĐCB là bất kỳ ai bị ép buộc phải
làm việc mà không có sự tự nguyện, chứ không nhất thiết phải là NLĐ có quan hệ
lao động. Như vậy cũng có thể xác định lao động gia đình là LĐCB cần được pháp
luật lao động bảo vệ, bên cạnh pháp luật chống bạo lực gia đình. Đồng thời cũng
có cơ sở để bảo vệ NLĐ không có quan hệ lao động khi bị cưỡng bức lao động.
Cần
nghiên cứu, bổ sung quy định rõ thế nào là trẻ em lao động trái pháp luật, trẻ
em bị bóc lột sức lao động và các yếu tố để nhận diện (bao gồm việc nhận diện
các công việc nguy hiểm hoặc ảnh hưởng đến việc học hành của trẻ em, hoặc có hại
đối với sức khỏe hay sự phát triển về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức hay
xã hội của trẻ em) vào BLLĐ sửa đổi phù hợp với quy định của Công ước.
Kết
luận
Có
thể nói, so với các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, lĩnh
vực lao động - xã hội được xem là một trong những lĩnh vực mà Việt Nam có mức độ
hội nhập sâu, rộng nhất thông qua những cam kết quốc tế trong khuôn khổ tư cách
thành viên của Liên Hợp quốc, Tổ chức Lao động Quốc tế, trong khuôn khổ các hiệp
định thương mại tự do thế hệ mới. Do đó, việc tiếp tục rà soát để sửa đổi, bổ
sung hệ thống pháp luật trong nước, bảo đảm ngày càng phù hợp hơn với tiêu chuẩn
và thực tiễn pháp lý quốc tế về quyền của NLĐ là việc làm cần thiết trong bối cảnh
hiện nay.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1.
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948.
2.
Luật Công đoàn năm 2024.
3.
Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966.
4.
Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.
5.
Liên Hợp quốc (2010), Quyền con người (Tập hợp những bình luận/khuyến nghị
chung của Ủy ban Công ước Liên hợp quốc), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
6.
Natsu Nogami (2014), Tài liệu rà soát pháp luật lao động sửa đổi của Việt Nam
và những nghiên cứu điển hình có đối chiếu với tiêu chuẩn lao động quốc tế và
khuyến nghị hướng đi tiếp theo.
7.
ILO (2016), Tuyên bố năm 1998 và 8 Công ước cơ bản của Tổ chức Lao động quốc tế,
Nxb. Lao động.
8.
ILO (2010), Một Liên minh toàn cầu chống lao động cưỡng bức - Báo cáo toàn cầu
trong khuôn khổ các hoạt động tiếp theo của tuyên bố ILO về các nguyên tắc và
quyền cơ bản tại nơi làm việc.
9.
ILO (2018), Đấu tranh chống lao động cưỡng bức, Sổ tay dành cho NSDLĐ và doanh
nghiệp, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
10.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2019), Báo cáo đánh giá tương thích giữa Bộ
luật lao động năm 2012 với các tiêu chuẩn quốc tế và kiến nghị, H..