Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết 59 đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tóm Tắt: Sau 40 năm đổi mới đất nước (1986-2026), Việt Nam đã có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng cao và đang bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong công cuộc đối mới toàn diện đất nước, có sự đổi mới vô cùng to lớn về tư duy đối ngoại từ đại hội VI đến đại hội XIV vừa qua của Đảng ta. Lần đầu tiên trong lịch sử các kỳ đại hội Đảng, Đối ngoại được xác định vai trò “trọng yếu, thường xuyên” ngang tầm với an ninh - quốc phòng, thể hiện nhận thức sâu sắc và quyết tâm mạnh mẽ của Đảng ta đối với công tác đối ngoại nhằm mục tiêu đưa đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới. Một trong những mục tiêu then chốt của công cuộc đối ngoại hiện nay đó là đáp ứng yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Bài viết này phân tích tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam từ khi Đổi mới tới nay, những điểm nhấn quan trọng gắn liền với xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN theo tinh thần Nghị quyết 59-NQ/TW và đề xuất một số giải pháp thúc đẩy Hội nhập quốc tế đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong bối cảnh mới.

Từ khóa: Hội nhập quốc tế, Độc lập, tự chủ; Nhà nước pháp quyền; Sức mạnh dân tộc.
1. Những dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển nhận thức của Đảng ta về hội nhập quốc tế
“Hội nhập quốc tế” (Interational integration) là một thuật ngữ được dùng khá phổ biến ở Việt Nam hiện nay. Trên thực tế, có rất nhiều cách hiểu và khái niệm khác nhau về thuật ngữ hội nhập quốc tế. Dù chưa có một khái niệm nhận được sự nhất trí hoàn toàn trong giới học thuật và giới làm chính sách, song, hội nhập quốc tế thường được hiểu là một quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn bó với nhau, qua việc tham gia vào các mối quan hệ phân công, hợp tác, hoạt động kinh tế giữa các nước, thông qua các tổ chức quốc tế và khu vực, dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, nguồn lực, quyền lực, giá trị… Tuy nhiên, phải tuân thủ các nguyên tắc, luật chơi chung trong khuôn khổ của tổ chức khu vực và quốc tế đó. Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội (chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh - quốc phòng, giáo dục...), hoặc diễn ra trên nhiều lĩnh vực với tính chất, phạm vi, hình thức khác nhau. Chủ thể chính của hội nhập quốc tế là các quốc gia có đủ năng lực và thẩm quyền đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế khi đã ký tham gia. Hội nhập quốc tế là một xu thế lớn, tất yếu và là đặc trưng quan trọng của thế giới hiện nay. Hội nhập quốc tế đem tới cho các quốc gia không chỉ những lợi ích về mọi mặt, mà còn đặt các quốc gia trước những thách thức, bất lợi. Song, con đường phát triển không thể nào khác đối với các nước trong thời đại toàn cầu hóa là tham gia quá trình hội nhập quốc tế.
Đối với Việt Nam, Đại hội VI (1986) của Đảng đã mở đầu cho thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước. Cũng từ đây, bước đầu nhận thức về hội nhập quốc tế được hình thành. Đảng ta cho rằng, “muốn kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, nước ta phải tham gia sự phân công lao động quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1987, tr.81) và “một đặc điểm nổi bật của thời đại là cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tạo thành bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa các lực lượng sản xuất” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1987, tr.34).
Tiếp đến Đại hội VII, tư duy về hội nhập quốc tế tiếp tục được Đảng ta khẳng định, đó là, “cần nhạy bén nhận thức và dự báo được những diễn biến phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xu hướng quốc tế hóa của nền kinh tế thế giới để có những chủ trương đối ngoại phù hợp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1991, tr.88).
Tại Đại hội VIII (1996), lần đầu tiên thuật ngữ “Hội nhập” chính thức được đề cập trong Văn kiện của Đảng, đó là: “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018, tr.84-85). Tiếp theo đến Đại hội IX, tư duy về hội nhập được Đảng ta chỉ rõ và nhấn mạnh hơn “Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001, tr.166). Để cụ thể hóa chủ trương này, ngày 27/11/2001 Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW “Về hội nhập kinh tế quốc tế”. Đến Đại hội X, tinh thần hội nhập từ “Chủ động” được Đảng ta phát triển và nâng lên một bước cao hơn, đó là “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001, tr.166). Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đối ngoại trong thời kỳ phát triển mới, trong đó có chủ trương rất quan trọng là “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, tr.112). Từ “hội nhập kinh tế quốc tế” của các kỳ đại hội trước, chuyển sang “hội nhập quốc tế” một cách toàn diện là sự phát triển quan trọng về tư duy đối ngoại của Đảng ta tại Đại hội XI. Ngày 10-4 - 2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế. Đây là văn kiện quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, làm rõ và thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Nghị quyết đã khẳng định: Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng có quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước. Tiếp tục quan điểm này, Đại hội XII, Đảng ta không những tiếp tục khẳng định: “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”, mà còn lần đầu tiên khẳng định “Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và hệ thống chính trị” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.236). Đây là bước đột phá mang tính chiến lược của Đảng ta về hội nhập quốc tế. Chỉ thị số 25-CT/TW ngày 18/2/2019 của Ban Bí thư về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đến năm 2030, chủ trương Việt Nam nâng cao vai trò “nòng cốt, dẫn dắt, hòa giải” trên trường quốc tế. Trên cơ sở đánh giá toàn diện thành tựu, bài học, thế và lực của đất nước sau gần 40 năm đổi mới, bối cảnh quốc tế và trong nước, thời cơ chiến lược cũng như thách thức đặt ra đối với đất nước, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục kế thừa những nội dung xuyên suốt quan điểm hội nhập của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới, trong đó khẳng định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở các nguên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhấp quốc tế toàn diện, sâu rộng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.161-162).
Trong tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa nhấn mạnh: “Trong thế giới toàn cầu hóa như hiện nay, sự phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc không thể biệt lập, đứng bên ngoài những tác động của thế giới và thời đại, của thời cuộc và cục diện của nó. Chính vì vậy, chúng ta phải chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi” ( Nguyễn Phú Trọng, 2022).
Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới” là “quyết sách đột phá,” đánh dấu “bước ngoặt có tính lịch sử trong quá trình hội nhập để Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình tới thịnh vượng, hùng cường, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”
Nghị quyết xác định rõ giải pháp “Hội nhập quốc tế phải phát huy hiệu quả mạng lưới các quan hệ đối tác đã được xác lập để gia tăng tin cậy chính trị, tranh thủ nguồn lực cho phát triển, giải quyết các vấn đề còn tồn tại bằng biện pháp hòa bình, tăng cường hợp tác trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế”. Trong bài viết “Vươn mình trong hội nhập quốc tế,” Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: "Đất nước đang đứng trước yêu cầu phải có một cuộc cách mạng với những cải cách mạnh mẽ, toàn diện cho phát triển." Nghị quyết 59 được xác định là một trụ cột trong “Bộ tứ Chiến lược” phát triển quốc gia hiện nay, đây chính là "cẩm nang hành động" của Bộ Chính trị về "hội nhập quốc tế trong tình hình mới" và là "kim chỉ nam" để đất nước vươn mình trên trường quốc tế.
2. Những nội dung thúc đẩy xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam theo tinh thần nghị quyết 59-NQ/TW
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trở thành một yêu cầu tất yếu, khách quan và gắn với nhiều mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng trong đó có mục tiêu hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc tế trong tình hình mới đã xác định rõ hội nhập quốc tế không chỉ là động lực phát triển kinh tế mà còn là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, trong đó có việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Mặc dù không dành riêng một mục độc lập về Nhà nước pháp quyền, song Nghị quyết 59 đã thể hiện sâu sắc các quan điểm về hội nhập gắn với hoàn thiện pháp luật, cải cách thể chế và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Những quan điểm này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, góp phần làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam trong bối cảnh tình hình mới.
Thứ nhất, Hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch.
Một trong những quan điểm nổi bật của Nghị quyết 59 là nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng các cam kết quốc tế và chuẩn mực toàn cầu. Nghị quyết nêu rõ nhiệm vụ “hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, phù hợp với các cam kết quốc tế”. Quan điểm này phản ánh bản chất cốt lõi của Nhà nước pháp quyền, đó là quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm tính tối thượng của pháp luật. Trong điều kiện hội nhập sâu rộng, hệ thống pháp luật quốc gia không thể tồn tại biệt lập mà phải tương thích với luật pháp quốc tế và các điều ước mà Việt Nam tham gia. Điều này đòi hỏi quá trình xây dựng pháp luật phải chuyển từ tư duy “nội hướng” sang “mở”, tiếp thu có chọn lọc các chuẩn mực tiến bộ của thế giới.
Hội nhập quốc tế cũng tạo áp lực tích cực buộc Việt Nam phải nâng cao chất lượng lập pháp, bảo đảm tính dự báo, ổn định và minh bạch của pháp luật. Đây chính là nền tảng quan trọng để xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi, bình đẳng, qua đó củng cố niềm tin của người dân và cộng đồng doanh nghiệp – một tiêu chí quan trọng của Nhà nước pháp quyền hiện đại.
Thứ hai, Hội nhập thúc đẩy nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và kỷ cương pháp lý
Nếu xây dựng pháp luật là điều kiện cần, thì thực thi pháp luật hiệu quả là điều kiện đủ để hình thành Nhà nước pháp quyền. Nghị quyết 59 đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu “nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các cam kết quốc tế” và “bảo đảm thực thi đầy đủ, nghiêm túc các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên”. Điều này cho thấy, trong bối cảnh hội nhập, uy tín quốc gia không chỉ được đánh giá qua việc ký kết các cam kết, mà quan trọng hơn là ở năng lực thực thi. Việc không tuân thủ hoặc thực thi không đầy đủ các cam kết quốc tế có thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và pháp lý. Do đó, hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao kỷ luật, kỷ cương pháp luật trong bộ máy nhà nước. Nghị quyết yêu cầu “tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong tổ chức thực hiện”, “đề cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức”. Đây chính là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc mọi chủ thể, kể cả cơ quan công quyền, đều phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật – nguyên tắc nền tảng của Nhà nước pháp quyền.
Thứ ba, Hội nhập là động lực thúc đẩy cải cách thể chế và xây dựng Nhà nước hiện đại
Nghị quyết 59 xác định rõ: hội nhập quốc tế phải gắn với “đẩy mạnh cải cách thể chế, hoàn thiện môi trường pháp lý”, “xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả”. Đây là một bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về mối quan hệ giữa hội nhập và cải cách trong nước.
Trong thực tiễn, hội nhập quốc tế đã và đang tạo ra những áp lực và động lực mạnh mẽ thúc đẩy cải cách thể chế ở Việt Nam. Việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP, EVFTA…) đòi hỏi Việt Nam phải điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng minh bạch, cạnh tranh và phù hợp với thông lệ quốc tế. Từ góc độ lý luận, đây chính là quá trình “hội nhập thể chế”, trong đó Nhà nước pháp quyền được xây dựng không chỉ để quản lý trong nước mà còn để tương tác hiệu quả với môi trường quốc tế. Một nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch chính là biểu hiện sinh động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ hội nhập.
Thứ tư, Bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo chuẩn mực quốc tế
Một nội dung quan trọng khác được Nghị quyết 59 đề cập là “bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân, phù hợp với Hiến pháp và các cam kết quốc tế về quyền con người”. Đây là một trong những trụ cột của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hội nhập quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực nhân quyền, đòi hỏi Việt Nam không ngừng hoàn thiện pháp luật và chính sách nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người theo các chuẩn mực chung của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được thực hiện trên cơ sở hài hòa giữa các giá trị phổ quát và điều kiện cụ thể của đất nước. Nghị quyết 59 thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Đảng: vừa chủ động hội nhập, tiếp thu các giá trị tiến bộ, vừa giữ vững bản sắc, chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa. Như vậy, hội nhập quốc tế không làm suy giảm vai trò của Nhà nước, mà ngược lại, góp phần nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền con người, qua đó củng cố bản chất pháp quyền của chế độ.
Thứ năm, Hài hòa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế
Một điểm nhấn quan trọng trong Nghị quyết 59 là yêu cầu “chủ động nội luật hóa các cam kết quốc tế”, “bảo đảm tính tương thích giữa pháp luật trong nước và điều ước quốc tế”. Đây là biểu hiện rõ nét của quá trình “quốc tế hóa pháp luật” trong bối cảnh toàn cầu hóa. Việc nội luật hóa các cam kết quốc tế không chỉ nhằm thực hiện nghĩa vụ của một quốc gia thành viên, mà còn góp phần nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật quốc gia.
Từ góc độ Nhà nước pháp quyền, điều này thể hiện nguyên tắc tôn trọng pháp luật quốc tế, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật quốc gia và quốc tế. Một hệ thống pháp luật hài hòa, tương thích sẽ giúp giảm thiểu xung đột pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu, hợp tác quốc tế. Đồng thời, đây cũng là bước chuyển quan trọng từ tư duy “tuân thủ” sang “chủ động tham gia xây dựng luật chơi”, phù hợp với định hướng mà Nghị quyết 59 đã đề ra.
Thứ sáu, Gắn hội nhập với kiểm soát quyền lực nhà nước
Mặc dù không nêu trực tiếp, nhưng thông qua các yêu cầu về minh bạch, trách nhiệm giải trình và kỷ luật công vụ, Nghị quyết 59 đã gián tiếp đề cập đến vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước – một yếu tố cốt lõi của Nhà nước pháp quyền. Trong bối cảnh hội nhập, các tiêu chuẩn quốc tế về quản trị tốt (good governance) như minh bạch, trách nhiệm giải trình, chống tham nhũng ngày càng được đề cao. Điều này buộc các quốc gia, trong đó có Việt Nam, phải hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi đúng mục đích, không bị lạm dụng.
Việc nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính chính là những biểu hiện cụ thể của quá trình này. Đây cũng là điều kiện quan trọng để xây dựng một Nhà nước pháp quyền “của dân, do dân, vì dân”.
Nhìn chung, Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đã thể hiện một bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nhập quốc tế không chỉ là quá trình mở cửa, hợp tác với bên ngoài, mà còn là động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoàn thiện thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Các quan điểm của Nghị quyết về hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, cải cách thể chế, bảo đảm quyền con người và hài hòa pháp luật quốc gia với quốc tế đã góp phần định hình rõ nét mô hình Nhà nước pháp quyền Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Trong thời gian tới, việc triển khai hiệu quả Nghị quyết 59 sẽ không chỉ nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, mà còn góp phần xây dựng một Nhà nước pháp quyền hiện đại, minh bạch, hiệu lực và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
3. Một số giải pháp đẩy mạnh hội nhập quốc tế đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp khó dự báo. Vì vậy, để hội nhập quốc tế đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cần tập trung quán triệt và thực hiện đồng bộ các giải pháp sau đây:
Một là, thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị về sự cần thiết hội nhập quốc tế trong điều kiện mới. Cần chủ động, tích cực trong nắm bắt thời cơ, nhận rõ những thách thức, chủ động, tích cực trong xác định lộ trình hội nhập quốc tế, lựa chọn hình thức, mức độ và tốc độ tham gia, thậm chí khởi xướng các liên kết khu vực và quốc tế phù hợp với lợi ích của Việt Nam, tăng cường năng lực mọi mặt để nắm bắt, tạo dựng và tận dụng thời cơ cũng như xử lý hiệu quả các thách thức trong quá tình hội nhập. Không ngừng nâng cao sức mạnh tổng hợp của quốc gia, tạo điều kiện thiết yếu để bảo đảm cho quá trình hội nhập quốc tế thành công.
Hai là, Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước; phát huy sức mạnh của toàn dân tộc và cả hệ thống chính trị trong quá trình hội nhập quốc tế. Bên cạnh việc tăng cường sức mạnh vật chất, kinh tế thì việc tăng cường sức mạnh chính trị, củng cố sự đồng thuận của xã hội, phát triển khối đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, đường lối chiến lược quan trọng, xuyên suốt của Đảng, nguồn sức mạnh to lớn, là một trong những nhân tố mang tính quyết định đối với xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sự vận hành thông suốt, hiệu quả và hiệu lực cao của hệ thống chính trị là yếu tố cơ bản, then chốt để tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh chính trị của đất nước, đủ năng lực xử lý linh hoạt, hiệu quả những vấn đề phát triển của đất nước nói chung, cũng như những vấn đề liên quan đến bảo vệ độc lập dân tộc và con đường đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Hệ thống chính trị vững mạnh sẽ tạo sức đề kháng cao, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, đồng thời đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong.
Ba là, đẩy mạnh hội nhập quốc tế với trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với đó thúc đẩy và nâng cao chất lượng hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực xã hội, môi trường, văn hóa, du lịch…gắn kết chặt chẽ với kiên định độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, khôn khéo, mưu lược, kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Thông qua đó để thu hút thêm các nguồn lực đáp ứng cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững hơn. Trong bối cảnh mới chúng ta cần phải chủ động tham gia tích cực đóng góp, nâng cao vai trò của Việt Nam trong xây dựng, định hình các thể chế đa phương và trật tự chính trị - kinh tế quốc tế; phát huy tốt hơn thế và lực, vị trí quan trọng của địa – chiến lược của đất nước để chủ động vươn lên, đóng vai trò xứng đáng ở những lĩnh vực mà chúng ta có lợi ích và thế mạnh; chủ động hỗ trợ các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp mở rộng hợp tác với bên ngoài, tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý…góp phần cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.
Bốn là, Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia. Thiết lập một nền kinh tế thị trường đầy đủ, minh bạch và hiện đại vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu của hội nhập quốc tế. Để thực hiện tốt vấn đề này, cần có những chính sách củng cố quyền sở hữu nhằm thúc đẩy đầu tư dài hạn; thực hiện hiệu quả cải cách hành chính công theo hướng xây dựng bộ máy hành chính có trách nhiệm giải trình dựa trên 3 trụ cột: Tăng cường tính minh bạch trong chu trình chính sách; bảo đảm có các nhóm chủ thể khác biệt chịu trách nhiệm trong việc xây dựng, thực thi và đánh giá chính sách; tăng cường vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Cần cải cách mô hình cung ứng dịch vụ công theo hướng tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân và cộng đồng. Áp dung mạnh mẽ chính phủ số ở các lĩnh vực; thiết lập các cơ chế đối thoại liên tục nhằm giám sát nền hành chính công và dỡ bỏ các rào cản, bất cập xuất hiện trong quá trình hội nhập.
Năm là, quá trình hội nhập quốc tế kết hợp chặt chẽ với an ninh - quốc phòng, để tạo thế chân kiềng vững chắc, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đây được xác định là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên mà trong quá trình hội nhập cần phải làm tốt để góp phần giữ vững môi trường hòa bình cho phát triển đất nước. Muốn vậy, quá trình hội nhập phải phát huy được thế mạnh để hóa giải, xử lý từ sớm, từ xa các nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia, nhất là thông qua thúc đẩy đối thoại, xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa, tận dụng hiệu quả các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Sáu là, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ toàn diện cả về tu tưởng chính trị, đạo đức lối sống, bản lĩnh và trí tuệ, chuyên sâu về chuyên môn, hiện đại chuyên nghiệp về phong cách, phương pháp làm việc, có tinh thần đổi mới sáng tạo, sẵn sàng đột phá, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Tiếp tục đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, lãnh đạo, quản lý, xây dựng, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ chuyên gia có trình độ đạt tầm khu vực và quốc tế trong các lĩnh vực trọng yếu khi tham gia hội nhập quốc tế.
Kết luận
Hội nhập quốc tế là xu thế khách quan, lôi cuốn nhiều nước tham gia và tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nước ta tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế cần có sự chủ động, tích cực, giữ vững nguyên tắc đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên hàng đầu, giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; giữ vững môi trường hòa bình, tranh thủ các thời cơ để phát triển đất nước. Điều đó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị phải nhận thức sâu sắc về cơ hội và thách thức, phân tích và giải quyết một cách khoa học các nhân tố trong điều kiện hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, đưa đất nước vào vị trí có lợi nhất trước mọi diễn biến của tình hình và các xu thế của thời đại, góp phần xây dựng, hoàn hiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.34, 81.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự Thật, Hà Nội, tr.88.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.84-85.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.166.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (200), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.112.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.236.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.161-162.
8. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, H, 2022, tr.34,37.
9. Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24 tháng 01 năm 2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Hà Nội: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.