Đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng
Ngày 07/4, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng.
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
Cổng Thông tin điện tử
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết
số 05-NQ/TW:
Sau gần 20 năm thực
hiện Nghị quyết số 14-NQ/TW, ngày 30/7/2007 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá X, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng đã
được tăng cường, đổi mới mạnh mẽ, đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện;
chất lượng, hiệu lực, hiệu quả ngày càng được nâng cao. Việc triển khai, thực
hiện Nghị quyết tạo được sự chuyển biến rõ nét về tư tưởng, nhận thức, hành
động trong Đảng và hệ thống chính trị đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ
luật đảng; ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương của cán bộ, đảng viên được nâng
lên rõ rệt; vai trò, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu cấp uỷ, cơ quan,
đơn vị được phát huy. Hệ thống văn bản, quy định về công tác kiểm tra, giám sát
cơ bản đồng bộ, chặt chẽ, khoa học, bám sát thực tiễn. Hoạt động kiểm tra, giám
sát của cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp đạt kết quả khá toàn diện; kỷ luật, kỷ
cương được thực hiện nghiêm minh với phương châm "không có vùng cấm, không
có ngoại lệ", tạo bước đột phá mới trong phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng
phí, tiêu cực. Phương pháp, quy trình kiểm tra, giám sát có nhiều đổi mới, được
tổ chức thực hiện ngay từ khi ban hành để chấn chỉnh và nâng cao chất lượng,
hiệu quả của các nghị quyết, kết luận của Đảng. Tổ chức bộ máy cơ quan uỷ ban
kiểm tra các cấp được sắp xếp, kiện toàn, tinh gọn. Đội ngũ cán bộ làm công tác
kiểm tra Đảng ngày càng có bản lĩnh, liêm chính và chuyên nghiệp.
Những kết quả nêu trên
góp phần quan trọng trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính
trị ngày càng trong sạch, vững mạnh; giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường sự
đoàn kết, thống nhất, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
Tuy nhiên, vẫn còn một
số cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu chưa quan tâm đúng mức đến công tác
kiểm tra, giám sát; việc tự kiểm tra, giám sát, tự phê bình và phê bình còn
chưa được thực hiện tốt; công tác kiểm tra ở một số nơi thiếu quyết liệt, thiếu
trọng tâm, trọng điểm, chất lượng, hiệu quả ở các cấp không đồng đều, chưa đáp
ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, nhất là cấp xã; giám sát thường
xuyên còn là khâu yếu, không ít vi phạm chậm được phát hiện; thi hành kỷ luật
đảng có nơi chưa nghiêm, còn hiện tượng nể nang, ngại va chạm; việc theo dõi,
đôn đốc thực hiện kết luận kiểm tra, giám sát một số nơi còn thiếu quyết liệt,
nhiều vi phạm chậm được khắc phục.
Nguyên nhân của những
hạn chế trên là do:
- Nhận thức của một số
cấp uỷ, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu về ý nghĩa và tầm quan trọng của
công tác kiểm tra, giám sát chưa sâu sắc, toàn diện; công tác lãnh đạo, chỉ
đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của một số cấp uỷ, tổ chức
đảng còn thiếu chủ động, quyết liệt. Ý thức chấp hành kỷ luật ở một số tổ chức
đảng và đảng viên chưa nghiêm, nhất là trong việc chấp hành nguyên tắc tập
trung dân chủ và quy chế làm việc. Tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình
tại một số cấp uỷ, tổ chức đảng chưa cao, còn tình trạng nể nang, né tránh,
thậm chí bao che cho cán bộ, đảng viên vi phạm; ý thức tự giác nhận khuyết
điểm, vi phạm của một số cán bộ, đảng viên còn yếu, có trường hợp che giấu, đối
phó khi bị phát hiện, kiểm tra.
- Cơ chế, chính sách,
pháp luật trên một số lĩnh vực chưa đồng bộ và chặt chẽ, nhất là trong lĩnh vực
quản lý, sử dụng đất, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, ngân hàng, đầu tư,
quản lý doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước tại các doanh nghiệp... Phương
pháp công tác, cách thức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát chậm được đổi
mới. Năng lực, trình độ, bản lĩnh, kinh nghiệm của một số cán bộ kiểm tra chưa
đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Thời gian tới, tình
hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Trong nước,
cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị cùng với những
quyết sách mang tính chiến lược đang tạo ra cơ hội lịch sử, bước ngoặt cho sự
phát triển đột phá của đất nước song cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách
thức. Nhiều vi phạm mới xuất hiện ngày càng tinh vi, khó dự đoán. Những vấn đề
phức tạp có thể phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế tri thức, kinh tế
số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực để
đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế đứng trước những thách thức mới. Suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và
tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trên một số lĩnh vực còn diễn biến
phức tạp. Bối cảnh trên đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu cao hơn đối với cả hệ
thống chính trị nói chung và ngành Kiểm tra Đảng nói riêng.
I- QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU
1. Quan điểm chỉ đạo
- Kiểm tra, giám sát
phải là một trong những phương thức, chức năng lãnh đạo quan trọng nhất, là cơ
chế để Đảng tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện và nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm
quyền; là công cụ để kiểm soát quyền lực, giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng; là
yếu tố bảo đảm đường lối của Đảng được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả trong
thực tiễn; là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của toàn Đảng, của mỗi cấp uỷ, tổ
chức đảng và uỷ ban kiểm tra các cấp mà trực tiếp, trước hết là người đứng đầu
cấp uỷ. Đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát luôn phải gắn
chặt với công tác chính trị, tư tưởng, công tác tổ chức, cán bộ và đổi mới
phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.
- Công tác kiểm tra,
giám sát, kỷ luật đảng phải được tiến hành chủ động, kịp thời, toàn diện, đồng
bộ, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh
theo đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền, phương pháp công tác
đảng. Tăng cường giám sát thường xuyên, giám sát ngay từ đầu góp phần bảo đảm
triển khai thực hiện các chủ trương, quyết sách... Kiểm tra, giám sát phải góp
phần kiến tạo, thúc đẩy phát triển, phát hiện và bảo vệ những nhân tố mới tích
cực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
- Mọi tổ chức đảng và
đảng viên phải thường xuyên tự soi, tự sửa, tự phê bình và phê bình, tự kiểm
tra, giám sát và chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng, bình đẳng trước kỷ luật
của Đảng, bảo đảm phương châm "không có vùng cấm", "không có
ngoại lệ". Đề cao trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên; phát huy vai
trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của Nhân dân trong
công tác kiểm tra, giám sát.
- Kiên quyết kiểm tra,
xử lý nghiêm minh, kịp thời vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước,
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống.
2. Mục tiêu
Nâng cao chất lượng,
hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát gắn với kiểm soát quyền lực;
ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "lợi ích nhóm", sự
suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến",
"tự chuyển hoá" trong nội bộ; giữ vững kỷ luật, kỷ cương, góp phần
xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao
năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu, sự đoàn kết, thống nhất trong
Đảng, năng lực quản lý, quản trị quốc gia vì sự phát triển của đất nước.
II- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI
PHÁP
1. Tạo sự chuyển biến
mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên đối với
công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng
- Nâng cao nhận thức
về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát ngay từ
cấp cơ sở. Đổi mới, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, quán
triệt, hướng dẫn và phổ biến các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác
kiểm tra, giám sát và kỷ luật. Cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp, nhất là người đứng
đầu phải coi kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ thường xuyên, gương mẫu, quyết
liệt, thể hiện trách nhiệm cao trong tổ chức thực hiện. Mỗi đảng viên phải coi
tự kiểm tra là trách nhiệm chính trị trước Đảng.
- Nâng cao nhận thức,
trách nhiệm trong thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng gắn với
kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Công khai kết
quả kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng, góp phần đấu tranh, ngăn
chặn, giáo dục, răn đe, đẩy lùi các hành vi vi phạm.
2. Nâng cao chất lượng
nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; hoàn thiện hệ thống quy định của Đảng
về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng
Đổi mới, nâng cao chất
lượng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; kết hợp chặt chẽ việc
hoàn thiện các quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng
với việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống quy định pháp luật của Nhà nước,
bảo đảm đồng bộ, thống nhất, liên thông trong công tác kiểm tra, giám sát, kiểm
soát quyền lực và xử lý vi phạm. Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong định
hướng hoàn thiện thể chế, kịp thời khắc phục tình trạng chồng chéo, khoảng
trống, bất cập giữa kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
3. Đổi mới tư duy,
phương pháp công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, gắn kiểm tra, giám sát với
các phương thức kiểm soát quyền lực bảo đảm giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng
- Căn cứ yêu cầu nhiệm
vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng và tình hình thực tiễn, cấp uỷ, tổ chức
đảng và uỷ ban kiểm tra các cấp chủ động xây dựng chương trình kiểm tra, giám
sát toàn khoá và hằng năm:
(1) Cấp uỷ, tổ chức
đảng tăng cường kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên, nhất là cấp uỷ
viên, cán bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý trong việc thực hiện nghị quyết, chỉ
thị, kết luận của cấp uỷ cấp trên và cấp mình; trách nhiệm của cán bộ, đảng
viên, người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, giữ gìn phẩm chất
chính trị, đạo đức, lối sống và trách nhiệm nêu gương. Chú trọng công tác tự
kiểm tra, tự giám sát của tổ chức đảng, đảng viên; chủ động và phát huy vai trò
của chi bộ; trách nhiệm của đảng viên trong giám sát tổ chức đảng trên tinh
thần "toàn Đảng thực hiện công tác kiểm tra, giám sát". Xây dựng cơ
chế giám sát thường xuyên, coi đây là khâu đột phá để uỷ ban kiểm tra các cấp
có đủ thẩm quyền và điều kiện tiếp cận đầy đủ, toàn diện thông tin, hoạt động
của tổ chức đảng, đảng viên. Tăng cường giám sát chuyên đề, giám sát ngay từ
đầu, góp phần bảo đảm thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương, quyết sách
của Đảng; kịp thời phát hiện, uốn nắn, chấn chỉnh, khắc phục, ngăn ngừa vi
phạm, không để vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng hơn, phức tạp hơn.
(2) Uỷ ban kiểm tra
các cấp tiếp tục thực hiện toàn diện, hiệu quả các nhiệm vụ theo quy định của
Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp uỷ giao, trọng tâm là kiểm tra khi có dấu hiệu vi
phạm. Tập trung kiểm tra các vấn đề cấp bách theo yêu cầu nhiệm vụ và thực tiễn
đặt ra; các lĩnh vực trọng yếu, nhạy cảm, phức tạp, dễ phát sinh tham nhũng,
lãng phí, tiêu cực; các nhiệm vụ, thẩm quyền mới như kiểm soát tài sản, thu
nhập và thu hồi tài sản do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực… Thông qua công tác
kiểm tra, giám sát đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định
của pháp luật.
Đổi mới phương pháp,
cách thức tiến hành công tác kiểm tra, giám sát, chuyển trọng tâm sang công tác
phòng ngừa, cảnh báo vi phạm để phát hiện các nguy cơ có thể dẫn đến sai phạm.
Mở rộng, tăng cường giám sát, chuyển từ thụ động sang chủ động, nắm chắc tình
hình thông qua giám sát thường xuyên, giám sát trên dữ liệu; kịp thời phát
hiện, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm ngay từ khi mới manh nha, cùng với việc
phát hiện các nhân tố mới tích cực, mang tính đột phá, hiệu quả để nhân rộng,
hình thành và lan toả văn hoá chính trị trách nhiệm trong Đảng. Xây dựng cơ chế
bảo vệ, khuyến khích cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm
vì sự phát triển của đất nước. Theo dõi, đôn đốc thực hiện nghiêm các kết luận
sau kiểm tra, giám sát. Kiên quyết xử lý vi phạm, kỷ luật các trường hợp gây
trì trệ, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm trong thực hiện chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
4. Chuyển đổi số toàn
diện trong ngành Kiểm tra Đảng; đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ, trang thiết
bị, phương tiện làm việc đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới
Chuyển đổi số toàn
diện, thực chất, hiệu quả; từng bước ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý,
khai thác dữ liệu, liên thông thông tin giữa cơ quan uỷ ban kiểm tra và các cơ
quan có liên quan; kiểm tra, giám sát trên dữ liệu để bảo đảm khách quan, rút
ngắn thời gian, nâng cao chất lượng, hiệu quả; từng bước kiểm soát đúng, đầy đủ
tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ diện cấp uỷ quản lý.
Hoàn thiện các hệ thống phần mềm quản lý hồ sơ công tác kiểm tra, giám sát;
phân quyền khai thác, tra cứu thông tin, thống nhất thực hiện giám sát thường
xuyên và kiểm tra trên dữ liệu. Tập trung đầu tư, hiện đại hoá trang thiết bị,
trụ sở, phương tiện làm việc cho ngành Kiểm tra Đảng.
5. Kiện toàn tổ chức
bộ máy; nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của uỷ ban kiểm tra các cấp. Xây
dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra bản lĩnh, liêm chính
- Kiện toàn tổ chức bộ
máy của cơ quan uỷ ban kiểm tra; xây dựng mô hình tổ chức bộ máy cơ quan uỷ ban
kiểm tra từ Trung ương đến xã, phường, đặc khu và tương đương bảo đảm đồng bộ,
tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
- Nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ kiểm tra Đảng, nhất là cấp cơ sở; xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn,
khung năng lực của cán bộ làm công tác kiểm tra đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong
tình hình mới. Chú trọng đào tạo cán bộ kiểm tra có chuyên môn sâu trong một số
lĩnh vực trọng yếu, có nhiều nguy cơ xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực như:
Công tác cán bộ, quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường, tài chính, ngân hàng,
xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản công... Nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán
bộ kiểm tra các cấp. Có chính sách thoả đáng, chế độ đãi ngộ phù hợp để thu hút
cán bộ có phẩm chất, năng lực, tâm huyết, bản lĩnh, trách nhiệm về làm công tác
kiểm tra của Đảng.
6. Phối hợp chặt chẽ
giữa cơ quan kiểm tra của Đảng với các cơ quan có liên quan
- Tăng cường, nâng cao
hơn nữa hiệu quả phối hợp và liên thông thông tin giữa cơ quan kiểm tra với các
cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ và cơ quan liên quan.
- Ban hành và chỉ đạo
thực hiện các quy định, quy chế phối hợp giữa uỷ ban kiểm tra với các cơ quan
tham mưu, giúp việc của cấp uỷ; giữa các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp uỷ
với các cơ quan liên quan trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Tăng cường công tác phối hợp trong kiểm tra, giám sát đối với việc thực hiện
các kết luận kiểm tra, thanh tra, kiểm toán.
III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Ban Tuyên giáo và
Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Uỷ ban Kiểm tra Trung ương tổ chức
tuyên truyền, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết trong toàn Đảng.
2. Các tỉnh uỷ, thành
uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương tổ chức nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong cán bộ, đảng viên; kịp thời xây dựng Chương
trình hành động thực hiện Nghị quyết một cách cụ thể, hiệu quả, phù hợp với
điều kiện của địa phương, cơ quan, đơn vị.
3. Đảng uỷ Quốc hội,
Đảng uỷ Chính phủ, các đảng uỷ bộ, ngành Trung ương chỉ đạo rà soát, sửa đổi,
bổ sung chính sách, pháp luật đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
4. Ban Tổ chức Trung
ương chủ trì, phối hợp với Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và các cơ quan có liên
quan bổ sung, hoàn thiện các quy định, hướng dẫn về vị trí chức danh, tiêu
chuẩn, chế độ, chính sách đối với cán bộ kiểm tra và cơ quan uỷ ban kiểm tra
các cấp.
5. Đảng uỷ Mặt trận Tổ
quốc, các đoàn thể Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận
Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và các tổ chức
đảng liên quan nghiên cứu xây dựng quy chế và biện pháp thực hiện sự giám sát
của Nhân dân đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên; chỉ đạo các tổ chức
chính trị - xã hội ở Trung ương ban hành quy định của tổ chức mình trong việc
phối hợp thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng.
6. Uỷ ban Kiểm tra
Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn, theo dõi, đôn
đốc, kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết; định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo Ban
Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Nghị quyết này phổ biến đến chi bộ.
Toàn bộ Nghị quyết số 05-NQ/TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV
nqtw05_signed_dd160.pdf