Dưới cờ Đảng quang vinh: Việt Nam vững tin bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc
Đảng Cộng sản
Việt Nam chính thức được thành lập vào mùa Xuân năm 1930. Từ đây, cách
mạng nước ta có đường lối đúng đắn, mở ra con đường phát triển mới cho dân tộc
Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt to lớn trong lịch sử cách
mạng nước ta, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân
tộc Việt Nam.
Đảng Cộng sản
Việt Nam thực sự trở thành người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách
mạng nước ta. Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong suốt 96 năm qua
đã chứng minh rằng sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng
đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của
Đảng, đã lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX, mà đỉnh cao là thắng lợi của
Cách mạng Tháng Tám năm 1945; thắng lợi của các cuộc kháng chiến giải phóng dân
tộc, bảo vệ Tổ quốc; thắng lợi của công cuộc đổi mới, vững bước đi lên chủ
nghĩa xã hội.
Đặc biệt, qua 40
năm tiến hành công cuộc Đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển toàn diện hơn so
với những năm trước đổi mới. Nền kinh tế đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ
từ một nền kinh tế lạc hậu, bao cấp sang một nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã vươn lên trở thành một điểm sáng về tăng trưởng kinh
tế và đạt thành tích nổi bật về xoá đói giảm nghèo. Nhìn lại chặng đường đổi
mới với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhất là trong việc thực
hiện xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân trong suốt thời kỳ đổi
mới, Việt Nam có quyền tự hào để khẳng định rằng: “Đất nước ta chưa bao
giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay"[1].
Sau chiến tranh, nền
kinh tế Việt Nam chìm trong khủng hoảng. Đất nước đối mặt với tình trạng thiếu
lương thực trầm trọng, sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân khó khăn, cơ
sở hạ tầng yếu kém. Tỷ lệ người nghèo, người đói rất cao. Tỷ lệ
dân số bị đói gay gắt kinh niên trong cả nước vào khoảng 6% - 8%. Năm có thiên
tai và gặp các rủi ro khác, ở những vùng này, dân cư nông nghiệp bị đói gay gắt
chiếm tới 27%, đói gay gắt cấp tính lên tới 19%-21%, số tuyệt đối là 3,7 triệu
người. Tổng số dân nông nghiệp bị đói ở 36 địa phương trong cả nước là 4,81
triệu người, đói gay gắt là 1,9 triệu người[2]. Với
mức thu nhập mỗi người từ 8-15kg gạo/tháng được coi là hộ đói, từ 8-22 kg
gạo/tháng là hộ nghèo (ở đồng bằng, trung du); 15 kg gạo/tháng là hộ nghèo ở
miền núi, nông thôn và 20-25 kg gạo/tháng là hộ nghèo ở đô thị, thì số hộ nghèo
ở Việt Nam trong các năm 1986 đã là 45%, năm 1992 là 26-28%. Đó là hiện
tượng đói nghèo xét theo biểu hiện trực tiếp là đói ăn, thiếu ăn và không có
lương thực để ăn, chưa xét đến các tiêu chí khác như tình trạng nhà ở, đồ
dùng sinh hoạt của các hộ gia đình và các dịch vụ xã hội cơ bản.
Công cuộc đổi mới được
Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay đã mang lại
những thay đổi sâu sắc, nhiều mặt trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội. Từ
một nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh,
lại bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã vượt lên phát triển kinh tế khá nhanh theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, tích cực chủ động hội nhập quốc tế.
Dưới sự lãnh đạo sáng
suốt của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, nhân dân ta đã chung sức
đồng lòng vượt qua khó khăn thách thức, đạt được kết quả rất toàn diện. Trong
nhiều năm liên tiếp, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GDP ổn định. Tăng
trưởng kinh tế của nước ta giai đoạn 2021-2025 đạt bình quân khoảng 6,2%/năm,
thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới, đặc biệt tăng trưởng
kinh tế năm 2025 đạt 8,02%. Quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỉ USD, gấp 1,48
lần so với năm 2020, xếp thứ 32 trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt
5.026 USD. Thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người tăng từ 3.400 USD
năm 2020 lên 4.750 USD năm 2025, bước vào nhóm các nước có thu nhập trung
bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao. Chất lượng tăng
trưởng có bước chuyển biến tích cực, đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP)
vào tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 47%. Đầu tư công được phân bổ, sử dụng có
trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả hơn; chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) tiếp tục được cải thiện...[3].
Sự chuyển dịch
manh mẽ của cơ cấu kinh tế phản ánh sự chuyển đổi thành công sang mô hình
kinh tế năng động, sáng tạo, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường toàn
cầu. Việt Nam đã trở thành trung tâm sản xuất của nhiều tập đoàn lớn thế giới,
đặc biệt trong các ngành điện tử, dệt may, giày dép và thực phẩm chế biến
sẵn. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng khu vực
nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm; tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và
khu vực dịch vụ tăng[4].
Công nghiệp chế biến, chế tạo phát triển khá; tỷ lệ nội địa hóa được cải thiện.
Nông nghiệp từng bước phát triển theo hướng sinh thái, xanh, tuần hoàn, ứng
dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng, hiệu quả, tiếp tục phát huy vai trò
"trụ đỡ" trong nền kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Xây
dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả nổi bật, thay đổi cơ bản diện mạo nông
thôn và nâng cao đời sống người dân. Khu vực dịch vụ, du lịch phục hồi và phát
triển nhanh; kinh tế biển tiếp tục phát triển. Nhiều mô hình sản xuất kinh
doanh mới được hình thành, tạo tiền đề thuận lợi cho phát triển lực lượng sản
xuất mới[5].
Việt Nam cũng trở
thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Tính đến ngày
31/12/2024, cả nước có 42.002 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực,
với tổng vốn đăng ký gần 502,8 tỷ USD, trong đó, vốn thực hiện đạt
gần 322,5 tỷ USD, tương đương 64,1% tổng vốn đăng ký[6].
Những con số ấn tượng này cho thấy niềm tin của cộng đồng quốc tế vào môi
trường đầu tư ổn định, minh bạch và triển vọng phát triển bền vững của nền kinh
tế Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo
của Đảng, quốc phòng - an ninh tiếp tục củng cố, tăng cường; chủ quyền
quốc gia và ổn định chính trị được giữ vững. Quốc phòng, an ninh tiếp tục
được tăng cường vững mạnh cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận. Nền quốc phòng
toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh
nhân dân ngày càng được củng cố; gắn kết chặt chẽ với thế trận lòng dân vững
chắc, nhất là ở các địa bàn chiến lược trọng điểm, tuyến biên giới, hải đảo.
Việt Nam đã vươn lên
mạnh mẽ, từ một nước bị cấm vận trở thành quốc gia có uy tín cao trên trường
quốc tế. Quan hệ đối ngoại không ngừng mở rộng và đi vào chiều sâu, đặc biệt
với các đối tác quan trọng và láng giềng. Việt Nam đã có quan hệ ngoại
giao với 194 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác
toàn diện với 38 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác
chiến lược toàn diện với cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp
quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) và 17/20 nền kinh tế
lớn nhất thế giới (G20). Đảng ta có quan hệ với 253 chính đảng ở 115 quốc gia
trên thế giới, trong đó bao gồm 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng
tham gia liên minh cầm quyền, tham chính. Quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị
viện của hơn 140 quốc gia. Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tổ chức nhân
dân cũng đã triển khai đối ngoại thiết thực với 1.200 tổ chức nhân dân và đối
tác nước ngoài[7].
Sau 40 năm đổi
mới, Việt Nam có quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với 224 thị trường tại tất
cả châu lục; đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tham gia hơn 500 hiệp định song phương
và đa phương trên nhiều lĩnh vực, thu hút một lượng lớn vốn FDI. Đối ngoại đã
góp phần mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác với nhiều quốc gia, tổ chức
quốc tế, tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế với nhiều đối tác, góp phần bảo đảm
kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xuất
nhập khẩu, thu hút nhiều nguồn lực mới, bao gồm cả FDI, ODA, khoa học công
nghệ… đưa Việt Nam vào nhóm 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới và 20 nền kinh tế
hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài[8].
Trên bình diện đa
phương, Việt Nam hiện là thành viên của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan
trọng, như: Liên hợp quốc, ASEAN, APEC và WTO… Việc tham gia vào các tổ chức
này không chỉ giúp Việt Nam tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế mà còn tạo điều
kiện để Việt Nam đóng góp vào việc định hình các chính sách toàn cầu, đặc biệt
là trong các lĩnh vực như hòa bình, an ninh, phát triển bền vững, và biến đổi
khí hậu. Qua đó, từng bước tạo dựng nên hình ảnh một quốc gia chủ động, tích
cực và có trách nhiệm cao trong cộng đồng quốc tế.
Những thành công nổi
bật trong việc tổ chức các hội nghị quốc tế lớn như APEC, ASEM và hoàn thành
nhiều trọng trách quốc tế quan trọng như: Ủy viên không thường trực Hội đồng
Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch luân phiên ASEAN, chủ nhà Hội nghị cấp cao ASEM,
Hội nghị thượng đỉnh APEC, Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN… đã chứng
minh cho vai trò chủ động, tích cực, có trách nhiệm của Việt Nam đối với các
vấn đề chung của khu vực và thế giới; đồng thời khẳng định vị thế, uy tín ngày
càng được nâng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.
Đặc biệt, hình ảnh đất
nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, nhân văn đã được lan tỏa mạnh mẽ thông qua
việc cử hơn 1.100 cán bộ, chiến sĩ tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của
Liên hợp quốc tại nhiều điểm nóng trên thế giới. Sự hiện diện và đóng góp trách
nhiệm, hiệu quả của lực lượng mũ nồi xanh Việt Nam không chỉ thể hiện năng lực,
bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần đoàn kết của dân tộc ta, mà còn cho thấy quyết
tâm đồng hành, chia sẻ với cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giải quyết các thách
thức toàn cầu.
Trong lĩnh vực văn
hóa, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật trong việc gìn giữ và phát
huy các giá trị truyền thống. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể như
đền chùa, lễ hội dân gian, hát quan họ, ca trù, cải lương, múa rối nước… đã
được bảo tồn, phục dựng và quảng bá rộng rãi. Không ít di sản đã được UNESCO
công nhận, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và trở thành nguồn lực phát
triển du lịch bền vững.
Nhận thức đầy đủ hơn
về vai trò và tầm quan trọng của văn hóa trong phát triển bền vững. Thể chế,
chính sách và nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hóa được tăng cường. Hệ thống
thiết chế văn hóa được quan tâm xây dựng và phát huy. Các hoạt động văn hóa,
sản phẩm văn hóa, nghệ thuật ngày càng đa dạng, phong phú. Công nghiệp văn hóa,
dịch vụ văn hóa và thị trường văn hóa từng bước được phát triển. Hội nhập quốc
tế về văn hóa ngày càng được mở rộng. Đã xây dựng và triển khai thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035.
Các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước về phát triển toàn diện con người ngày càng đầy đủ,
trọng tâm và thực chất. Việc phát hiện, thu hút, đào tạo, trọng dụng nhân tài
bước đầu có chuyển biến tích cực. Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện
rõ rệt, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao.
Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021[9].
Song hành với tăng
trưởng kinh tế, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trong phát triển
con người và đảm bảo an sinh xã hội. Các chính sách của Đảng và Nhà nước đã
giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo công bằng và tạo cơ hội phát triển
cho mọi tầng lớp Nhân dân.
Tăng trưởng kinh tế
gắn kết chặt chẽ hơn với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội; đã ưu tiên bố trí
nguồn lực cho an sinh xã hội, phát triển con người. Đời sống vật chất và tinh
thần của người dân được nâng lên rõ rệt. Chính sách xã hội, chính sách dân tộc,
tôn giáo, chính sách đối với người có công, chính sách đối với người Việt Nam ở
nước ngoài... tiếp tục được hoàn thiện và thực hiện có nhiều tiến bộ. An sinh
xã hội ngày càng được bảo đảm; phúc lợi xã hội ngày càng được cải thiện. Các
chính sách, giải pháp giảm nghèo bền vững được triển khai đồng bộ, hiệu quả
trên tinh thần "không để ai bị bỏ lại phía sau". Tỷ lệ hộ nghèo đa
chiều giảm từ 4,2% năm 2022 xuống còn 1,3% năm 2025. Đẩy mạnh thực hiện Đề án
đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội; thành lập Quỹ nhà ở quốc
gia. Đến tháng 9/2025, hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả
nước. Số người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên được mở rộng, đạt trên
3,5 triệu người năm 2025, trong đó 55% là người cao tuổi[10]. Việt
Nam đã thực hiện thành công các chương trình giảm nghèo bền vững. Đây là kết
quả của hàng loạt chính sách hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, tạo sinh kế bền
vững và nâng cao thu nhập cho người dân.
Cùng với đó, hệ thống
bảo hiểm xã hội, chế độ chính sách hỗ trợ người khuyết tật, phụ nữ, trẻ em,
người cao tuổi cũng được triển khai mạnh mẽ, góp phần tạo ra một xã hội công
bằng hơn, với những cơ hội phát triển cho tất cả mọi người. Một trong những
trọng tâm của chính sách an sinh là chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát và
phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp. Những dự án này đã giúp hàng
triệu người, nhất là những người yếu thế, có chỗ ở ổn định, vươn lên thoát
nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Trong lĩnh vực y tế,
Việt Nam đã thực hiện nhiều chiến lược để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, giảm thiểu
tỷ lệ tử vong và bệnh tật, cũng như đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh.
Những năm gần đây, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng đã giảm mạnh, tuổi thọ trung
bình của người Việt Nam tăng đáng kể. Hệ thống bảo hiểm y tế toàn dân ngày càng
được mở rộng, với hơn 94,2% dân số tham gia. Ngành y tế Việt Nam đã đạt được
nhiều thành tựu đáng kể với những kỹ thuật y khoa tiên tiến như ghép tạng, điều
trị ung thư bằng liệu pháp miễn dịch, phẫu thuật nội soi từ xa... Những tiến bộ
này không chỉ giúp cứu chữa cho hàng triệu bệnh nhân mà còn giúp y tế Việt Nam
tiệm cận với trình độ y học khu vực và thế giới.
Hệ thống y tế, chăm
sóc sức khỏe nhân dân có bước phát triển tích cực, chất lượng được nâng lên,
kiểm soát tốt các loại dịch bệnh, làm chủ nhiều công nghệ, kỹ thuật y học tiên
tiến. Đã chú trọng thực hiện chế độ thông tuyến khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y
tế. Y tế tư nhân tiếp tục phát triển. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,9%
năm 2020 lên 95,2% năm 2025. Tuổi thọ và chỉ số sức khỏe người dân bình quân
của cả nước được cải thiện, năm 2025 tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh là
74,8 năm, số năm sống khỏe khoảng 67 năm[11].
Những thành tựu trong
giảm nghèo, y tế, giáo dục và bảo đảm quyền lợi cho các nhóm yếu thế là minh
chứng cho sự nỗ lực không ngừng của Đảng ta trong việc xây dựng một
xã hội phát triển toàn diện, nhân văn và bền vững.
Đặc biệt, cuộc cách
mạng về tổ chức lại bộ máy, sắp xếp lại các đơn vị hành chính, bảo đảm tinh
gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đã mở ra không gian và động lực phát triển
mới; niềm tin vào Đảng và tương lai đất nước lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội.
Dưới sự lãnh đạo của
Đảng, Việt Nam đã ghi dấu ấn mạnh mẽ trên hành trình phát triển với những thành
tựu vượt bậc. Những đổi thay từ một đất nước bị chiến tranh tàn phá đến một nền
kinh tế năng động, một quốc gia có uy tín trên trường quốc tế chính là minh
chứng rõ rệt cho ý chí và nghị lực của dân tộc Việt Nam. Đó cũng là
những minh chứng rõ nét cho tính đúng đắn của đường lối đổi mới phát triển đất
nước theo con đường XHCN mà Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đã lựa
chọn. Đây cũng là nền tảng vững chắc để đất nước tự tin bước vào giai
đoạn phát triển mới bứt phá, trước những biến đổi sâu sắc của tình hình trong
nước, khu vực và thế giới hiện nay.
Tuy chặng đường phía
trước vẫn còn nhiều thách thức, nhưng với tinh thần đoàn kết, sáng tạo và quyết
tâm, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Việt Nam sẽ tiếp tục vươn xa trên con
đường phát triển bền vững. Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chúng ta tin
tưởng vững chắc rằng với bản lĩnh, trí tuệ của Đảng kết tinh qua 96 năm lãnh
đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ hoàn thành sứ mệnh
đất nước trong giai đoạn lịch sử mới, nhằm hiện thực hóa thành công hai mục
tiêu 100 năm: Đến năm 2030 kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng trở thành nước đang
phát triển công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; năm 2045 kỷ niệm 100
năm thành lập nước trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, thu nhập cao./.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia
Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.25
[2] Nguyễn Thị Hằng, Vấn đề xóa đói
giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1997, tr.75
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Đánh
giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nguồn:
https://bcp.cdnchinhphu.vn/334894974524682240/2026/2/6/phu-luc-danh-gia-5-nam-1770388196146892212318.pdf,
truy cập ngày 03-03-2026
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo
tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc Đổi mới theo định
hướng Xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nguồn:
https://bcp.cdnchinhphu.vn/334894974524682240/2026/2/6/bao-cao-tong-ket-40-nam-17703880527452025545925.pdf,
truy cập ngày 03-03-2026
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo
cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nguồn:
https://bcp.cdnchinhphu.vn/334894974524682240/2026/2/6/bao-cao-ctri-17703880212842123567259.pdf,
truy cập ngày 03-03-2026
[6] Minh Ngọc, Năm 2024, vốn FDI
giải ngân cao kỷ lục, Nguồn: https://baochinhphu.vn/nam-2024-von-fdi-giai-ngan-cao-ky-luc-102250106101728669.htm,
truy cập ngày 03-03-2026
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo
tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc Đổi mới theo định
hướng Xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nguồn:
https://bcp.cdnchinhphu.vn/334894974524682240/2026/2/6/bao-cao-tong-ket-40-nam-17703880527452025545925.pdf,
truy cập ngày 03-03-2026
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo
tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc Đổi mới theo định
hướng Xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nguồn: https://bcp.cdnchinhphu.vn/334894974524682240/2026/2/6/bao-cao-tong-ket-40-nam-17703880527452025545925.pdf,
truy cập ngày 03-03-2026
[9] Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo
cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nguồn:
https://bcp.cdnchinhphu.vn/334894974524682240/2026/2/6/bao-cao-ctri-17703880212842123567259.pdf,
truy cập ngày 03-03-2026
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo
cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nguồn:
https://bcp.cdnchinhphu.vn/334894974524682240/2026/2/6/bao-cao-ctri-17703880212842123567259.pdf,
truy cập ngày 03-03-2026
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo
cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nguồn:
https://bcp.cdnchinhphu.vn/334894974524682240/2026/2/6/bao-cao-ctri-17703880212842123567259.pdf,
truy cập ngày 03-03-2026