Hồ Chí Minh với việc xây dựng nền giáo dục phục vụ kháng chiến (1945 - 1954)

Trong giai đoạn 1945-1954, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống giáo dục khá hoàn chỉnh, khác hoàn toàn về bản chất và thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc. Từ chỗ việc học được coi là đặc quyền của những tầng lớp trên trong xã hội, của con em thực dân và tay sai thân Pháp, dưới chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa, toàn dân được đi học. Học tập trở thành quyền lợi và nhiệm vụ của mỗi công dân. 

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa ra đời đã gặp muôn vàn khó khăn. Chính quyền cách mạng mới thành lập đã phải đối mặt với nền kinh tế, tài chính kiệt quệ, xơ xác. Thêm vào đó là thiên tai và nạn đói đe dọa khắp nơi trong khi tâm lý của quần chúng nhân dân chưa hết bàng hoàng vì nạn đói đầu năm Ất Dậu (1945). Lực lượng vũ trang của ta vẫn còn non yếu, tổ chức, trang bị và kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều nhưng phải đối mặt với hơn 30 vạn quân nước ngoài thuộc nhiều thế lực đối địch. Vì thế, cán cân lực lượng chênh lệch rất lớn, hết sức bất lợi cho cách mạng nước ta. Các đế quốc tuy có mâu thuẫn về quyền lợi nhưng lại thống nhất với nhau về mưu đồ đối với cách mạng. Tính chất nguy hiểm vì thế càng tăng lên gấp bội, Cách mạng thực sự ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc". 

Trước tình hình mới, chính quyền cách mạng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã có những chỉ đạo kịp thời để củng cố chính quyền, chống giặc ngoại xâm, giặc đói và giặc dốt. Về giáo dục, di hại lớn nhất mà thực dân Pháp để lại là hơn 90% dân số Việt Nam mù chữ. Do đó, Người đặt giáo dục là một trong những vấn đề cần kíp lúc bấy giờ. Hơn ai hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu được tác dụng của giáo dục đối với một dân tộc mà dốt nát, tối tăm đang ngự trị mấy chục năm qua. Người hằng mong mỏi: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(2). Câu nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” của Người thể hiện quan điểm giáo dục không là việc của riêng cá nhân nào mà trở thành vấn đề của quốc gia. Giáo dục không chỉ khai thông trí tuệ con người mà còn là động lực thúc đẩy sự phát triển của cả dân tộc. Giáo dục thời kỳ này phải góp phần làm cho nước mạnh mới có thể đương đầu được với họa xâm lăng và giúp cho quốc dân đồng bào thoát khỏi thế hiểm nghèo. 
Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo dục không chỉ có tính chất phổ cập đơn thuần mà phục vụ cho cuộc đấu tranh cách mạng, là phương tiện để thực hiện cuộc đấu tranh rộng lớn đó. Học tập trở thành một nhiệm vụ góp phần vào công công kháng chiến của nước nhà. Trong bài “Toàn dân kháng chiến”, Hồ Chí Minh khẳng định: “Cậu bé chăm chỉ học hành trong nhà trường cũng là kháng chiến" (2). Người dặn dò những em học sinh lớn: ngoài việc học ở trường nên tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện cho quen với đời sống chiến sỹ và giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước. 
Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến. Cả dân tộc bước vào cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện. Giáo dục trở thành một bộ phận không tách rời của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Giáo dục đồng hành với kháng chiến và phục vụ cho công cuộc kháng chiến kiến quốc của nước nhà. Những bài nói và viết trong thời kỳ này của Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ là sự tiếp tục và phát triển cao hơn, hoàn chỉnh, sâu sắc hơn quan điểm của Người đã có từ trước năm 1945: “Cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ. Phải dùng những lời lẽ giản đơn, những thí dụ thiết thực mà giải thích: Dân chủ là gì, tự do là gì, thuộc địa là gì. Vì sao ta phải kháng chiến. Họ có thể làm những việc gì để giúp đỡ kháng chiến. Nên giữ bí mật thế nào, đề phòng Việt gian thế nào. Nên giúp đồng bào tản cư thế nào. Nên giúp bình dân học vụ thế nào, v.v.. (3)”. Giáo dục kháng chiến hướng tới phát triển con người toàn diện, có tài, có đức, vừa có chí khí, vừa có tâm hồn. Nền giáo dục ấy làm khơi gợi lên trong học trò lòng yêu nước, thương nòi đúng đắn, giúp học trò xác định được nhiệm vụ của mình trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh. 
Thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ năm 1945, giáo dục Việt Nam không ngừng xây dựng, phát triển để đi đến mục đích cuối cùng là phục vụ công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ chính để giảng dạy trong nhà trường thay cho tiếng Pháp. Cả nước dấy lên phong trào Bình dân học vụ, bổ túc văn hóa với những khẩu hiệu có tính thiết thực: “Đi học là kháng chiến”, “Mỗi lớp học là một ổ tuyên truyền kháng chiến”, “Có biết chữ kháng chiến mới thắng lợi” (4)... tạo tiền đề quan trọng cho sự phát triển giáo dục trong toàn quốc. 
Sắc lệnh 146/SL và 147/SL ngày 10-8-1946 đặt những nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục mới là đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học hóa và theo tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ (5). Hệ thống giáo dục trong cả nước đã được xác định rõ ràng, phân chia các cấp từ thấp đến cao, bao gồm cả giáo dục theo chiều rộng và chiều sâu. Trên cơ sở kế thừa những giá trị khoa học của giáo dục Pháp để lại, các trường cũ được cải tổ và thành lập thêm nhiều trường mới ở Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Bắc Giang... đáp ứng kịp thời nhu cầu học tập của quần chúng nhân dân trong thời đại mới. Hồ Chí Minh phê duyệt quyết định lấy tên của các danh nhân trong quốc sử làm tên mới cho một số trường trung học ở Bắc Bộ. Đây vừa là hình thức nêu gương sáng nhân tài dân tộc, khẳng định tính dân tộc của nền giáo dục Việt Nam, vừa là nguồn động viên lớn đối với những học trò đang được học tập và rèn luyện dưới những mái trường của đất nước độc lập, tự do. 
Bản chất và mục đích giáo dục đã thay đổi, các ngành học cần được cải tổ và xây dựng cho phù hợp nhằm đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc lúc này bởi cuộc cách mạng đó chưa hoàn thành, nước ta chưa hoàn toàn độc lập (6). Ngày 10-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 46/SL thiết lập Hội đồng Cố vấn học chính để giúp Chính phủ chỉ đạo sắp xếp lại bộ máy học chính các cấp và các trường theo đúng tinh thần mới. 
Kết quả là những năm 1945-1946, giáo dục Việt Nam đạt được những thành tựu đáng tự hào. Theo thống kê của Bộ Quốc gia Giáo dục, đến cuối năm 1946, hơn 2,5 triệu người được xóa mù chữ (7). Hệ thống trường sở phát triển vượt bậc so với thời kỳ trước. Bậc tiểu học: 4.952 trường (kể cả trường sơ cấp); bậc trung học: 29 trường (8); các trường đại học Việt Nam, đại học Văn khoa được mở hoàn toàn mới, trường cao đẳng được cải tổ. Ngành Sư phạm đáp ứng nhu cầu đào tạo giáo viên, phục vụ cho sự nghiệp giáo dục-đào tạo của nước nhà. Chúng ta đã đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn trong việc xây dựng hệ thống giáo dục, tạo nền tảng cho sự phát triển nền giáo dục dân tộc dân chủ trong những năm tiếp theo. 
Bước vào cuộc kháng chiến, nền giáo dục phải từng bước thích nghi với điều kiện đất nước có chiến tranh và thực hiện đúng chủ trương “Kháng chiến bằng Văn hóa”, “Văn hóa của Kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cùng toàn dân thực hiện “tiêu thổ kháng chiến”, nhiều trường lớp được sơ tán về vùng tự do, vùng du kích. Những điều kiện cho sự phát triển giáo dục tất yếu bị ảnh hưởng nên thầy và trò phải cùng nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh. Giáo viên và học sinh gia nhập Vệ quốc quân hoặc rút về hậu phương, ăn ở, sinh hoạt cùng với dân. Việc học được tổ chức ngay trong nhà dân hoặc các đình, chùa, các lán liếp tự dựng. 
Tháng 4-1947, Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ IV đã ra nghị quyết chỉ rõ những nhiệm vụ của ngành giáo dục nhằm mục đích đào tạo nhân tài cho kháng chiến, trước nhất về các ngành Y tế, Canh nông, Quân giới, cũng như Thương mại, Ngoại giao... (9). Tháng 8-1947, Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Bộ thành lập Sở Giáo dục Nam Bộ. Sự ra đời của hai cơ quan chức năng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tác động trực tiếp đến tình hình văn hóa, giáo dục của Nam Bộ trong kháng chiến. Ngay từ khi mới thành lập, Sở và Viện đã lấy nhiệm vụ chống thất học, nâng cao trình độ văn hóa cho nhân dân, phát triển giáo dục làm nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Do đó, 4 lớp đào tạo cán bộ Bình dân học vụ được mở, đào tạo được 306 cán bộ, tạo tiền đề cho sự phát triển giáo dục ở Nam Bộ (10). 

Anh-tin-bai
Bác Hồ thăm lớp học vỡ lòng ở Hàng Than, Hà Nội (Nguồn: Trang tin điện tử Ban Quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh)

Thắng lợi của chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông 1947 đã đập tan âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp. Yêu cầu về một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và lâu dài được nâng lên một bước. Trước tình hình đó, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng mở rộng, họp tháng 1-1948, đã vạch rõ biện pháp cải tiến, đổi mới cách dạy và học. 
Năm học 1948 - 1949, nền giáo dục gặp nhiều khó khăn do tình hình chiến sự. Việc dạy và học không đồng đều giữa các Liên khu bởi có nơi tình hình yên ổn, có nơi lại bị địch bắn phá. Một số trường học Liên khu 3, Liên khu 4 phải đình giảng. 
Để đảm bảo sự phát triển của giáo dục nước nhà, ngày 4-1-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 102/SL lập Hội đồng Giáo dục, giúp cho Bộ Quốc gia Giáo dục ấn định chính sách và kế hoạch giáo dục. “Biên bản Hội đồng giáo dục đặc biệt của Bộ Quốc gia Giáo dục” viết: “Chính phủ nhận định trong năm vừa qua, mọi khả năng về nhân lực, vật lực đã đặt vào các ngành khác nhiều hơn là cho giáo dục vì vậy giáo dục đã đi chậm, nên cần phải định cho giáo dục một kế hoạch phát triển cho kịp thời” (11). Vì vậy, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 102/SL lập Hội đồng Giáo dục là rất kịp thời và sáng suốt, đồng thời thể hiện sự quan tâm đối với giáo dục của Người. 
Ngày 2-3-1949, Bộ Quốc gia Giáo dục triệu tập Hội nghị Giáo dục tại Việt Bắc, định hướng giáo dục cũng như các ngành khác phải hoạt động mạnh hơn nữa cả về số lượng cũng như về chất lượng để tham gia vào công cuộc kháng chiến, động viên tinh thần của toàn thể nhân viên giáo giới và học sinh, để có thể tham gia vào công cuộc kháng chiến một cách thiết thực hơn. 
Riêng với Nam Bộ, để thuận tiện cho việc quản lý và đảm bảo sự phát triển của giáo dục, Bộ Quốc gia Giáo dục ra Nghị định số 13-NĐ ngày 6-1-1949 lập tại Nam Bộ một Nha Giám đốc Giáo dục. Nha có nhiệm vụ tổ chức giáo dục tại Nam Bộ ở tất cả các cấp học (12). Theo số liệu báo cáo của Sở Giáo dục Nam Bộ, ngày 3-8-1949, Nam Bộ có 2.873 trường công, 2.680 giáo viên, 105.000 học sinh. Bên cạnh đó còn có 2.500 học sinh của hàng trăm lớp tư nhân và đoàn thể tôn giáo tổ chức (13). 
Ngày 2-2-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 20/SL quyết định tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực của toàn thể nhân dân để tiến tới tổng phản công. Do đó, giáo dục càng chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc kháng chiến. Theo tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lớp lớp thanh niên rời mái trường, tự nguyện tham gia chiến trường. Thời gian này, vấn đề cải cách giáo dục một lần nữa được đặt ra. Ngay từ tháng 7 năm 1948, trong thư gửi Hội nghị giáo dục toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có định hướng về cải cách giáo dục cho phù hợp với tình hình mới: “Chúng ta cần phải có một nền giáo dục kháng chiến và kiến quốc nên cần triệt để sửa đổi chương trình, cần có sách theo tinh thần mới, thay đổi cách dạy, đào tạo cán bộ theo tôn chỉ kháng chiến và kiến quốc” (14). Quán triệt tư tưởng của Người, từ năm 1950, cuộc cải cách giáo dục được tiến hành mạnh mẽ. Nếu như nhà trường thuộc địa và “nhà trường cũ” theo quan điểm của Lênin là “một nhà trường chỉ biết có sách vở... biến thế hệ trẻ thành những người quan liêu đúc cùng một khuôn” (15), thì mục tiêu của nhà trường mới là giáo dục, bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người “công dân lao động tương lai có tinh thần dân tộc, đủ năng lực và phẩm chất để phục vụ kháng chiến, kiến quốc”. Có thể nói, cải cách giáo dục tuy chỉ được chuẩn bị trong thời gian rất ngắn trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng đã giải quyết được những vấn đề cơ bản của cuộc đổi mới giáo dục cho phù hợp với tình hình đất nước lúc bấy giờ. 
Chiến thắng Biên giới năm 1950 đã tạo ra bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhiệm vụ và phương hướng của văn hóa giáo dục trong thời kỳ mới là: “Để đào tạo con người mới, cán bộ mới và để đẩy mạnh kháng chiến kiến quốc, phải bài trừ những di tích văn hóa giáo dục thực dân và phong kiến, phát triển nền văn hóa, giáo dục có tính chất: về hình thức thì dân tộc, về nội dung thì khoa học, về đối tượng thì đại chúng” (16). 
Tháng 7-1951, trong thư gửi Hội nghị giáo dục toàn quốc lần thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định mục tiêu giáo dục là phải “chú ý làm thế nào cho việc giáo dục liên kết với đời sống của nhân dân, với công cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc. Làm thế nào để phối hợp việc giáo dục của trường học với việc tuyên truyền và giáo dục chính trị chung của nhân dân” (17). Hội nghị giáo dục lần này cũng đề ra phương châm giáo dục phục vụ kháng chiến chủ yếu là tiền tuyến, giáo dục phục vụ nhân dân chủ yếu là công nông binh, giáo dục phục vụ sản xuất chủ yếu là nông nghiệp (18). Trường học cần phải hòa mình vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc, phải tích cực tham gia vào hoạt động giáo dục và tuyên truyền cách mạng. Với tính chất đó, nhà trường không đứng ngoài mà trực tiếp tham gia vào đời sống chính trị chung của nhân dân. 
Năm 1952, phương châm giáo dục là làm cho nhà trường thành một đơn vị sản xuất và chương trình học cũng phải là một chương trình sản xuất. Các trường phải góp phần vào việc nâng cao kỹ thuật (19). Phương châm hoạt động trên của ngành giáo dục nhằm phù hợp với phương châm của các lĩnh vực khác như: về quân sự - tiêu diệt sinh lực địch; về chính trị - phá âm mưu lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt trị người Việt của thực dân Pháp; về kinh tế, tài chính - sản xuất và tiết kiệm. Với mục tiêu này, nhà trường thực sự hòa nhập và tập trung cao độ cho cuộc kháng chiến cùng cả nước. 
Trong giai đoạn 1950-1954, theo tinh thần cải cách, giáo dục có những chuyển hướng cho phù hợp tình hình mới. Do chiến tranh nên việc tổ chức dạy và học vô cùng khó khăn. Các trường lớp, nhất là những trường lớn, hầu hết đều được tổ chức học vào ban đêm để tránh phi cơ oanh tạc. Tuy vậy, tinh thần học tập của học sinh rất cao, ham học hỏi và tích cực tham gia các hoạt động kháng chiến. Từ tháng 9 năm 1951, Đoàn sinh viên, học sinh Việt Nam phát động phong trào “Cải tạo học tập” tại tất cả các trường cấp II, III, chuyên nghiệp và đại học. Phong trào đạt được kết quả khả quan: tinh thần học tập của học sinh nâng lên đáng kể, ý thức học tập để phục vụ nhân dân, phục vụ kháng chiến và các mối quan hệ với thầy cô giáo, với bạn bè của học sinh đều được nâng cao. 
Giáo dục trong những năm 1950-1954 tuy chịu nhiều tác động của chiến tranh nhưng đã đạt được nhiều thành tựu, đóng góp cho cuộc chiến cả về sức người, sức của và những hoạt động tuyên truyền chính trị quan trọng khác. Giáo dục đã thực sự gắn với công cuộc kháng chiến và kiến quốc của nước nhà. 
Có thể thấy, điểm khác biệt nổi trội giữa giáo dục giai đoạn 1945-1950 và giáo dục giai đoạn 1950-1954 là ở giai đoạn sau, hoạt động chỉnh huấn giáo viên, rèn luyện học sinh được nâng lên ở mức cao hơn. Thực tế trên xuất phát từ nhu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến, cần phải có những con người có đầy đủ sức khỏe, có lòng yêu nước, dám hy sinh, có tinh thần trách nhiệm, không sợ khó, không sợ khổ. 
Bên cạnh đó, giáo dục ở miền núi được Nhà nước đặc biệt quan tâm nhằm phát triển văn hóa, đào tạo cán bộ và củng cố tinh thần đại đoàn kết giữa miền xuôi với miền ngược (20). Nhìn chung, giáo dục miền núi có những bước tiến mạnh so với thời kỳ trước. Đến năm 1953, số học sinh phổ thông là 38.000 (cấp I: 35.500; cấp II: 2.700; cấp III: 19) (21). Tuy nhiên, sự phát triển này còn nhỏ bé so với yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội miền núi cũng như những nhu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến chống Pháp - một cuộc kháng chiến lấy địa bàn miền núi làm căn cứ địa là chủ yếu. 
Giai đoạn 1950-1954, giáo dục trong vùng địch chiếm, vùng địch hậu có những nét độc đáo. Chúng ta kết hợp giáo dục với việc chống phá địch, tích cực phổ biến tài liệu, tranh thủ và trung lập được các giáo viên, học sinh. Các phong trào phản đối học tập quân sự, chống bắt lính, giải thích những chính sách giáo dục của Chính phủ... được đông đảo học sinh tham gia. 
Song song với việc phát triển số lượng và nâng cao chất lượng trường lớp, trong kháng chiến chống Pháp, việc đào tạo cán bộ giáo dục, chăm lo đời sống giáo viên, học sinh và vấn đề sách giáo khoa cũng hết sức được coi trọng, góp phần cho sự phát triển của giáo dục nước nhà. 
Với nỗ lực của toàn dân, hơn 10 triệu người dân được xóa nạn mù chữ. Tuy nhiên, Cách mạng Tháng Tám thành công không có nghĩa là quét sạch được mọi tàn tích của chế độ thực dân, phong kiến trên dải đất Việt Nam. “Một trong những lĩnh vực mà ảnh hưởng nô dịch của thực dân Pháp bám chặt và ăn sâu hơn hết, là lĩnh vực tư tưởng ý thức” (22). Điều quan trọng mà ngành giáo dục đã làm được trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp là cải tạo tư tưởng cho quần chúng nhân dân, làm cho họ ý thức được bổn phận, trách nhiệm và quyền lợi của mình, nâng cao tinh thần làm chủ và ý thức tự cường dân tộc. Trong giáo dục, chúng ta tạo được phương pháp học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội và vì mục tiêu cao nhất là phục vụ kháng chiến, kiến quốc. 
Thay thế cho hệ thống giáo dục chắp vá, phản động, trong giai đoạn 1945-1954, chúng ta đã xây dựng được một hệ thống giáo dục khá hoàn chỉnh, khác hoàn toàn về bản chất và thể hiện tinh thần dân tộc sâu sắc. Từ chỗ việc học được coi là đặc quyền của những tầng lớp trên trong xã hội, của con em thực dân và tay sai thân Pháp, dưới chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa, toàn dân được đi học. Học tập trở thành quyền lợi và nhiệm vụ của mỗi công dân. 
Giáo dục giai đoạn 1945-1954 không tránh khỏi hạn chế như tính toàn diện của nền giáo dục chưa được thực hiện đầy đủ; thiếu cân đối giữa các mặt khoa học tự nhiên với khoa học xã hội, có khi nặng về giáo dục chính trị mà coi nhẹ giáo dục khoa học. Điều đó bị chi phối bởi những yêu cầu khắc nghiệt của cuộc kháng chiến. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn hết mà giáo dục đã làm được trong thời kỳ này là cung cấp được số lượng không nhỏ nhân tài, nhân lực cho cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, góp phần vào thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống Pháp, đưa dân tộc Việt Nam bước sang một trang sử mới. Những kết quả quan trọng này càng thể hiện sâu sắc “thắng lợi của quan điểm, đường lối giáo dục dân tộc và dân chủ của Đảng và Nhà nước ta dưới ánh sáng tư tưởng giáo dục Hồ Chí Minh” (23). 

Chú thích:
(1), (2) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb. CTQG, H, 2002, tr. 161; 84.
(3) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H, 2002, tr.102-103. 
(4) Ngô Văn Cát (chủ biên), Việt Nam chống nạn thất học, Nxb Giáo dục, H, 1980, tr. 65. 
(5) Việt Nam dân quốc công báo, số 34 ngày 24-8-1946, tr.443. 
(6) Lê Văn Giạng, Lịch sử Đại học và Trung học chuyên nghiệp Việt Nam, tập 1, Viện Nghiên cứu Đại học và Trung học chuyên nghiệp Hà Nội, 1985, tr. 120. 
(7) Việt Nam diệt giặc dốt, Nha Bình dân học vụ, 1951, tr.42.
(8) Số liệu từ Võ Thuần Nho, 35 năm phát triển sự nghiệp giáo dục phổ thông, Nxb Giáo dục, H, 1980, tr. 21 và Việt Nam diệt giặc dốt, Nha Bình dân học vụ, 1951, tr.42.
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb CTQG, H, 2000, tr.188. 
(10) Nhiều tác giả, Giáo dục Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Nxb Trẻ Tp Hồ Chí Minh, 2002, tr.39. 
(11) Nguyễn Văn Huyên toàn tập, tập III, tr.175. 
(12) Việt Nam dân quốc công báo, số 2 ngày 15-3-1949, tr. 21.
(13) Trần Hồng Quân (Chủ biên), 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo (1945-1995), Nxb. Giáo Dục, H, 1995, tr.66.
(14) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, tr. 462. 
(15) Chủ nghĩa Mác và vấn đề giáo dục, Nxb Sự Thật, H, 1959, tr. 21. 
(16) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H, 2001, tr. 440. 
(17) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, tr. 266. 
(18) Lê Văn Giạng (Chủ biên), Từ Bộ Quốc gia Giáo dục đến Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb. Giáo dục, H, 1995, tr. 101.
(19) Nguyễn Văn Huyên toàn tập, tập III, tr. 918-919.
(20), (21) Nguyễn Văn Huyên toàn tập, tập III, tr. 140; 1134. 
(22) Nguyễn Khánh Toàn, Giáo dục dân chủ mới, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Chiến khu, 1949, tr. 3.
(23) Lê Mậu Hãn, “Hồ Chí Minh với giáo dục trong kỷ nguyên độc lập tự do của dân tộc”, Hội thảo “Hồ Chí Minh với sự nghiệp giáo dục”, Hà Nội, 11-2003.

TS. Lê Thùy Linh,
Nguồn bài viết: Trang Thông tin Viện Sử học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1