Khi thế giới đang chứng kiến những biến chuyển nhanh chóng và sâu sắc dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khoa học, công nghệ và ĐMST ngày càng khẳng định vai trò là động lực quan trọng đối với quá trình phát triển. Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ số, Internet và các nền tảng công nghệ mới đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, quản trị, nghiên cứu và đời sống xã hội [4]. Trong tiến trình đó, chuyển đổi số không chỉ là xu hướng tất yếu mà đã trở thành một phương thức quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo ra những giá trị mới và mở rộng không gian phát triển.
Khoa học, công nghệ, ĐMST và chuyển đổi số có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời góp phần nâng cao năng lực quản trị quốc gia và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đổi mới sáng tạo vì thế không chỉ là nhiệm vụ của các nhà khoa học, các viện nghiên cứu hay doanh nghiệp công nghệ, mà cần trở thành một động lực phát triển được lan tỏa trong toàn xã hội.
Bản chất và quy luật của Đổi mới sáng tạo
ĐMST là khái niệm được nhắc đến nhiều trong những năm gần đây, song cách hiểu trong thực tiễn vẫn còn chưa thật sự thống nhất và đầy đủ. Không ít quan điểm đồng nhất ĐMST với việc nảy sinh ý tưởng mới hoặc phát minh ra một công nghệ mới. Tuy nhiên, cách tiếp cận này mới chỉ phản ánh khía cạnh sáng tạo đơn thuần, trong khi về bản chất, ĐMST là một quá trình phát triển mang tính hệ thống và gắn chặt với thực tiễn. Theo nghĩa đầy đủ, đây là quá trình chuyển hóa các ý tưởng, tri thức hoặc kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, giải pháp, quy trình hay phương thức tổ chức mới có khả năng áp dụng vào thực tế và tạo ra giá trị cụ thể. Một ý tưởng mới chỉ thực sự tạo ra giá trị đổi mới sáng tạo khi được triển khai trong thực tiễn và có khả năng đem lại giá trị hoặc lợi ích xác định.
ĐMST không đơn thuần là việc hình thành ý tưởng mới, mà là sự kết hợp hữu cơ giữa hai yếu tố: sáng tạo và đổi mới. Sáng tạo là tiền đề, thể hiện ở quá trình nảy sinh tri thức, ý tưởng và giải pháp mới. Đổi mới gắn với quá trình triển khai, ứng dụng và hoàn thiện ý tưởng hoặc giải pháp mới nhằm tạo ra giá trị trong thực tiễn.
Xét về bản chất phát triển, ĐMST là quá trình tạo ra cái mới nhằm đáp ứng những yêu cầu nảy sinh từ thực tiễn, đồng thời là hiện tượng gắn liền với sự vận động và phát triển của xã hội loài người. Trong đời sống xã hội, ĐMST có thể bắt đầu từ những thay đổi rất cụ thể: một phương pháp nghiên cứu mới, một mô hình quản lý hiệu quả hơn, một cách thức cung cấp dịch vụ thuận tiện hơn, một cơ sở dữ liệu được tổ chức khoa học hơn hay một giải pháp giúp tiết kiệm thời gian và nguồn lực. Khi những sáng kiến đó được áp dụng, hoàn thiện và nhân rộng, chúng sẽ tạo ra những giá trị thiết thực, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức và thúc đẩy sự phát triển chung. Đặc biệt, trong lĩnh vực khoa học xã hội, ĐMST có những đặc thù riêng. Đổi mới không nhất thiết phải được đo đếm bằng một sản phẩm công nghệ hữu hình, mà còn thể hiện thông qua những cách tiếp cận mới, phương pháp nghiên cứu mới, nguồn dữ liệu mới, mô hình phân tích mới và những phát hiện khoa học có khả năng góp phần nhận diện, lý giải và giải quyết các vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển đất nước.
Đổi mới sáng tạo là yêu cầu khách quan trong giai đoạn hiện nay
Có thể thấy, khoa học là nền tảng của tri thức và là cơ sở quan trọng để xã hội nhận diện đúng các vấn đề, dự báo xu hướng và tìm kiếm giải pháp phù hợp. Trong mọi giai đoạn phát triển, những quyết sách đúng đắn đều cần được xây dựng trên cơ sở thông tin đáng tin cậy, bằng chứng khoa học phù hợp và sự đánh giá thận trọng về thực tiễn. Vì vậy, ĐMST chính là cầu nối đưa tri thức và công nghệ vào thực tiễn, tạo ra những giá trị mới cho xã hội [4].
Ở Việt Nam, thúc đẩy ĐMST đã trở thành một định hướng quan trọng trong chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, ĐMST và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, tạo động lực phát triển lực lượng sản xuất, đổi mới quản trị và thúc đẩy kinh tế - xã hội. Nghị quyết cũng nhấn mạnh vai trò then chốt của đội ngũ nhà khoa học, đồng thời đề ra các mục tiêu đến năm 2030 như: Kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D) đạt 2% GDP, ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm dành cho khoa học, công nghệ, ĐMST và chuyển đổi số; số lượng công bố khoa học quốc tế tăng bình quân 10%/năm; nhân lực nghiên cứu, phát triển công nghệ và ĐMST đạt 12 người/10.000 dân; kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP và trên 40% doanh nghiệp có hoạt động ĐMST [1]. Vì vậy, những định hướng và mục tiêu của Nghị quyết đặt ra yêu cầu đối với các cơ quan nghiên cứu trong việc nâng cao chất lượng hoạt động khoa học, đổi mới phương pháp nghiên cứu và tăng cường khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu. Những biến động về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và quan hệ quốc tế đang đặt ra nhiều vấn đề mới đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải có khả năng tiếp cận đa chiều, liên ngành, kết hợp giữa nghiên cứu lý luận với phân tích thực tiễn. Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, ĐMST trước hết phải bắt đầu từ đổi mới tư duy. Nếu chỉ thay đổi công cụ, phương tiện làm việc mà không thay đổi cách tiếp cận vấn đề, phương pháp nghiên cứu và tư duy khoa học thì khó có thể tạo ra những chuyển biến thực chất về chất lượng và hiệu quả.
Hiện nay, chuyển đổi số được xem là một trong những phương thức quan trọng để hiện thực hóa ĐMST. Chuyển đổi số cũng đang tạo ra những thay đổi căn bản trong phương thức tổ chức hoạt động khoa học. Chuyển đổi số không đơn thuần là số hóa tài liệu hay đưa các quy trình truyền thống lên môi trường điện tử, mà sâu xa hơn là thay đổi phương thức tổ chức, quản lý, nghiên cứu, chia sẻ và khai thác tri thức dựa trên dữ liệu và công nghệ số. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và khai thác hiệu quả, nguồn lực tri thức được phát huy tốt hơn. Khi các nền tảng số được ứng dụng trong nghiên cứu và quản lý, khả năng kết nối giữa các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu và các đối tác trong và ngoài nước cũng được mở rộng. Đây chính là một trong những điều kiện quan trọng để hình thành môi trường thuận lợi cho ĐMST.
Phát huy sức mạnh Đổi mới sáng tạo trong nghiên cứu Khoa học xã hội
Con người luôn là chủ thể, đồng thời là nhân tố quyết định sự thành công của quá trình đổi mới sáng tạo. Dù công nghệ có phát triển đến đâu, hiệu quả đổi mới vẫn phụ thuộc vào năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng của đội ngũ cán bộ, viên chức. Là cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội quan trọng của đất nước, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm) có vị trí và vai trò quan trọng trong nghiên cứu những vấn đề cơ bản về khoa học xã hội; cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách; đồng thời góp phần nhận diện và giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình phát triển đất nước. Trước những vấn đề mới phát sinh trong quá trình phát triển đất nước, hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội của Viện Hàn lâm đang đứng trước những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, tính kịp thời và giá trị thực tiễn. Không chỉ cần tạo ra những công trình có giá trị về mặt học thuật, nghiên cứu khoa học còn phải gắn chặt hơn với thực tiễn, kịp thời nhận diện những vấn đề mới, những xu hướng mới và những thách thức mới đối với quá trình phát triển.
Có thể thấy, đổi mới tư duy, phương pháp nghiên cứu và phương thức tổ chức hoạt động khoa học là những yêu cầu quan trọng trong giai đoạn hiện nay. Các hướng nghiên cứu liên ngành, tiếp cận đa chiều, khai thác dữ liệu và ứng dụng các công cụ công nghệ mới ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Cùng với đó là việc tăng cường kết nối giữa các nhà khoa học, giữa các đơn vị nghiên cứu và giữa cơ quan nghiên cứu với các cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức trong xã hội.
ĐMST trong hoạt động của Viện Hàn lâm cần được chú trọng trên nhiều phương diện, cụ thể: đội ngũ nhà khoa học cần chủ động nâng cao chuyên môn, cập nhật phương pháp nghiên cứu, tăng cường năng lực số và ngoại ngữ để tiếp cận tri thức quốc tế. Học tập suốt đời, tự nghiên cứu và trao đổi học thuật cần trở thành hoạt động thường xuyên, gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng nhiệm vụ. Bên cạnh đó, cần xây dựng môi trường làm việc khuyến khích sáng tạo, tôn trọng sự khác biệt trong tư duy khoa học, tạo điều kiện để cán bộ, viên chức đề xuất sáng kiến và cải tiến phương pháp làm việc; những ý tưởng khả thi, hiệu quả cần được ghi nhận và nhân rộng. Ngoài ra, thúc đẩy đổi mới sáng tạo cần gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và điều hành. Người đứng đầu cần chú trọng định hướng phát triển, phân công nhiệm vụ cụ thể, tăng cường phối hợp giữa các bộ phận và phát huy quyền chủ động của đội ngũ thực hiện. Phương thức quản lý cần từng bước chuyển từ chú trọng quy trình, thủ tục sang đề cao mục tiêu, chất lượng và hiệu quả thực tế, đồng thời bảo đảm kỷ luật, kỷ cương hành chính và trách nhiệm giải trình trong quá trình thực hiện.
Một hướng đi có ý nghĩa quan trọng là đẩy mạnh xây dựng, quản lý và khai thác các nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu khoa học xã hội. Việc xây dựng các cơ sở dữ liệu khoa học có chất lượng, có khả năng kết nối và khai thác hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu, tạo điều kiện cho các nhà khoa học tiếp cận nguồn thông tin phong phú và hỗ trợ quá trình phân tích, dự báo. Ngoài ra, cần ứng dụng công nghệ số trong hoạt động nghiên cứu, quản lý và phổ biến tri thức để góp phần chia sẻ rộng rãi hơn những kết quả nghiên cứu và tri thức khoa học. Đặc biệt, giá trị của đổi mới không chỉ được đo bằng mức độ hiện đại của công nghệ được ứng dụng, mà quan trọng hơn là bằng chất lượng tri thức được tạo ra, hiệu quả công việc được nâng cao và những đóng góp cụ thể cho quá trình phát triển.
|
Trong giai đoạn phát triển mới, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo là yêu cầu khách quan, đồng thời là cơ hội để các cơ quan nhà nước và tổ chức nghiên cứu khoa học nâng cao năng lực, khẳng định vai trò và thích ứng với những thay đổi của thời đại. Để làm được điều đó, cần xây dựng môi trường khuyến khích sáng tạo, tôn trọng tri thức, thúc đẩy chia sẻ và hợp tác. Những ý tưởng mới cần có cơ hội được thử nghiệm, hoàn thiện và nhân rộng. Các nhà khoa học cần được tạo điều kiện phát huy năng lực; các tổ chức nghiên cứu cần tăng cường liên kết; kết quả nghiên cứu cần được kết nối tốt hơn với nhu cầu của thực tiễn. Với đội ngũ chuyên gia và kinh nghiệm nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khoa học xã hội, Viện Hàn lâm có cơ sở để tiếp tục nâng cao chất lượng nghiên cứu và tăng cường gắn kết kết quả khoa học với yêu cầu thực tiễn. Trong chặng đường phía trước, việc đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu đối với hoạt động chuyên môn mà còn là cơ hội để đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và tăng cường đóng góp của khoa học xã hội đối với sự phát triển đất nước.
|
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Toàn văn đăng trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-119241224180048642.htm.
2. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2024), Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đăng ngày 24/12/2024. https://cms.baochinhphu.vn/nghi-quyet-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-quoc-gia-102241224175800712.htm.
3. Trần Kim Bá (2026), Đổi mới sáng tạo – động lực nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học và hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. https://vass.gov.vn/nghien-cuu-khoa-hoc/doi-moi-sang-tao-dong-luc-nang-cao-chat-luong-nghien-cuu-khoa-hoc-va-hieu-qua-hoat-dong-cua-cac-co--582007
4. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=200163&pageid=27160&tagid=7&type=1