Giáo dục Đại học đối với đào tạo nguồn nhân lực số chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay
Tóm tắt: Bài viết nhấn mạnh vai trò tiên quyết của nguồn nhân lực số chất lượng cao trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia. Vai trò của giáo dục đại học đối với quá trình đào tạo nguồn nhân lực số chất lượng cao đa dạng. Tuy vậy, nguồn nhân lực số Việt Nam hiện nay vẫn còn hạn chế về chất lượng và kỹ năng so với nhu cầu thị trường, bài viết đề xuất cần có sự nâng cấp về chương trình đào tạo, phương thức giảng dạy cũng như hợp tác quốc tế đối với các cơ sở giáo dục đại học toàn cầu.
Từ
khóa: Giáo dục đại học; đào tạo nhân lực số chất lượng cao; chuyển đổi số.
Abstract:
This article highlights the critical role of a high-quality digital workforce
in advancing the national digital transformation process. Higher education
plays a multifaceted role in developing this workforce by. Despite ongoing
efforts, Vietnam’s current digital workforce still faces limitations in quality
and skill sets compared to market demands. To address this gap, the paper
proposes improvements in training curricula, pedagogical approaches, and
international collaboration among global higher education institutions.
Keywords:
Higher education; high-quality digital workforce training; digital
transformation.
Ngày
nhận bài: 15/12/2024; Ngày sửa bài: 15/01/2025; Ngày duyệt đăng bài: 28/3/2025.
Đây là
một quan điểm quan trọng trong bối cảnh phát triển công nghệ hiện nay, với 3
yếu tố chính được đề cập: sự kết hợp giữa con người và trí tuệ nhân tạo, dữ
liệu đóng vai trò như một nguồn tài nguyên và những biến đổi trong quan hệ sản
xuất. Để con người có thể kết hợp hài hòa với trí tuệ nhân tạo, trong đó trí
tuệ nhân tạo là công cụ phục vụ quá trình sản xuất, hỗ trợ con người, con người
là chủ thể sở hữu tư duy và công nghệ, liên tục sáng tạo và đổi mới quy trình
sản xuất. Hai yếu tố trên có quan hệ biện chứng lẫn nhau, con người sáng tạo,
phát triển trí tuệ nhân tạo như một công cụ để hỗ trợ sản xuất, đổi mới quy
trình, và nâng cao hiệu suất lao động. Mặt khác, trí tuệ nhân tạo trở thành một
yếu tố tác động ngược lại, thúc đẩy con người phát triển hơn nữa về tư duy, kỹ
năng và cách thức tổ chức sản xuất.
Trong
kỷ nguyên mới của quốc gia, kỷ nguyên “vươn mình” của dân tộc, xác lập một
phương thức mới, hiện đại, tiên tiến cần có nguồn nhân lực chất lượng cao, tiên
tiến về cả chất và lượng, thỏa mãn yếu tố “hòa hợp” giữa con người và trí tuệ
nhân tạo. Nguồn nhân lực không chỉ bao gồm số lượng lao động mà còn bao gồm
chất lượng, kỹ năng, trình độ học vấn, kinh nghiệm và năng lực của họ, những
đặc điểm trên chỉ có thể được cung cấp một cách bền vững thông qua giáo dục đại
học. Vai trò của giáo dục đại học bao gồm: Thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, cung
cấp nguồn nhân lực. Đáp ứng những nhu cầu trên, đã được nêu rõ tại Điều 39 Luật
Giáo dục như sau: “Đào tạo nhân lực trình độ cao, nâng cao dân trí, bồi dưỡng
nhân tài; nghiên cứu khoa học và công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục
vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, hội nhập
quốc tế.
Từ góc
độ lý luận, việc nghiên cứu vai trò của giáo dục đại học trong đào tạo nguồn
nhân lực số chất lượng cao là cần thiết để góp phần làm rõ thêm khái niệm
phương
thức sản xuất số, lực lượng sản xuất trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo, cũng như
những đặc điểm mới của quan hệ giữa con người - công nghệ - tri thức trong sản
xuất. Về phương diện thực tiễn, Việt Nam đang triển khai mạnh mẽ chiến lược
chuyển đổi số quốc gia, trong đó việc thiếu hụt nguồn nhân lực số chất lượng
cao là một trong những rào cản lớn nhất. Điều này đòi hỏi các cơ sở giáo dục
đại học không chỉ nâng cao năng lực nội tại, mà còn cần xây dựng các cơ chế
phối hợp hiệu quả với doanh nghiệp và Chính phủ trong đào tạo và sử dụng nguồn
nhân lực.
Trong
phạm vi bài viết này, chúng tôi làm rõ vai trò của giáo dục đại học trong việc
đào tạo nguồn nhân lực số chất lượng cao cho Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi
số. Nghiên cứu tập trung phân tích những đặc điểm của nguồn nhân lực số, vai
trò của giáo dục đại học và đề xuất một số giải pháp đổi mới giáo dục đại học
phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Nguồn nhân lực số chất lượng cao đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số
Hiện
nay, có nhiều khái niệm và quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Ngân hàng Thế
giới: “Nguồn nhân lực là toàn bộ phẩm chất, năng lực của toàn bộ cuộc sống con
người trong thực tế, hoặc là tiềm lực của họ để phát triển kinh tế xã hội trong
cộng đồng”. Ngoài ra, theo giáo trình Nguồn nhân lực của Nhà xuất bản Lao động
xã hội: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân
biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể
coi đây là nguồn nhân lực xã hội”. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận và cách
hiểu khác nhau, nhưng tựu chung lại, ta có thể định nghĩa khái niệm nguồn nhân
lực như sau: Nguồn nhân lực là toàn bộ dân số trong độ tuổi lao động, có khả
năng tham gia vào quá trình sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm cả
sức khỏe thể chất, tinh thần, trình độ chuyên môn, kỹ năng, đạo đức và các phẩm
chất khác.
Nguồn
nhân lực chất lượng cao là bộ phận tinh túy nhất, có chất lượng nhất của nguồn
nhân lực. Đây là lực lượng lao động được đặc trưng bởi trình độ học vấn, năng
lực chuyên môn cao; kỹ năng nghề nghiệp giỏi; có khả năng vận dụng sáng tạo,
hiệu quả những thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại trong quá trình lao
động; có phương pháp làm việc khoa học, hiệu quả cao; có sức khỏe; có phẩm chất
đạo đức và nghề nghiệp tốt. Đây là lực lượng đóng vai trò nòng cốt, dẫn dắt,
định hướng sự phát triển đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Có hai
loại nhân lực số: (i) Lực lượng chuyên nghiệp về công nghệ số qua đó tạo ra
những công cụ và phương pháp đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế số, chính quyền
số và xã hội số; (ii) Lực lượng người lao động sử dụng các sản phẩm và phương
pháp là kết quả của công nghệ thực hiện chuyển đổi số.
Nguồn
nhân lực số chất lượng cao, đồng thời cần có đầy đủ phẩm chất, năng lực, đặc
điểm vốn có của nguồn nhân lực chất lượng cao. Ngoài ra, trong thời tại trí tuệ
nhân tạo đồng thời là cơ hội nhưng cũng mang lại nhiều thách thức, nguồn nhân
lực số chất lượng cao cần có những đặc điểm sau: (1) Có tư duy liên tục đổi
mới, cập nhật cùng khả năng thích nghi với thay đổi của bối
cảnh
công nghệ - kinh tế - xã hội; (2) Có động lực và khả năng học tập suốt đời; (3)
Có khả năng sáng tạo, phản biện và kiểm định thông tin thực - số.
2.2. Vai trò của giáo dục đại học đối với đào tạo nguồn nhân lực số
chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay
Thứ
nhất, giáo dục đại học cung cấp nguồn nhân lực số chất lượng cao đáp ứng nhu
cầu số.
Theo
chủ trương của Đảng về phát triển giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, Chiến
lược Phát triển Giáo dục giai đoạn 20012010 của Chính phủ nhấn mạnh rằng giáo
dục là nền tảng và nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò là một trong
những động lực quan trọng để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
đồng thời là yếu tố thiết yếu cho sự phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế
nhanh, bền vững.
Dựa
trên những thành tựu đã đạt được từ giai đoạn 2001-2010, Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành Quyết định số 771/QĐ- TTg vào ngày 13/6/2012, phê duyệt Chiến lược
Phát triển Giáo dục 2011-2020. Chiến lược này xác định mục tiêu của giáo dục
đại học là: “thực hiện đổi mới toàn diện và triệt để theo hướng chuẩn hóa, hiện
đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; hoàn thiện hệ thống giáo
dục nghề nghiệp và đại học, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề cùng các cấp bậc đào
tạo, nâng cao chất lượng giáo dục để đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ sự phát
triển kinh tế - xã hội”. Gần đây hơn, Chính phủ đã ban hành Quyết định số
69/QĐ-TTg vào ngày 15/01/2019, phê duyệt Đề án Nâng cao Chất lượng Giáo dục Đại
học cho giai đoạn 2019-2025.
Theo
báo cáo của Công ty Cổ phần Itviec, 86% chuyên gia công nghệ thông tin (CNTT)
tại Việt Nam có bằng cấp từ các trường đại học hoặc cao đẳng, trong đó 7,5% sở
hữu bằng thạc sĩ. Đáng chú ý, 83,7% tốt nghiệp từ các chương trình đào tạo CNTT
hệ chính quy tại Việt Nam, đặc biệt tập trung ở nhóm lập trình viên và kỹ sư.
Nền tảng giáo dục vững chắc này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng
nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần thúc đẩy sự phát triển công nghệ.
Thứ
hai, giáo dục đại học thúc đẩy nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp và đổi mới sáng
tạo.
Giáo
dục đại học giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nghiên cứu khoa học và
đổi mới sáng tạo, được khẳng định qua các chính sách cụ thể như Nghị định số
99/2014/NĐ-CP ban hành ngày 25/10/2014 của Chính phủ. Cụ thể, các trường đại
học được yêu cầu trích tối thiểu 5% kinh phí từ nguồn thu hợp pháp để phát
triển tiềm lực và hỗ trợ các hoạt động khoa học, công nghệ, đồng thời dành ít
nhất 3% từ nguồn thu học phí để hỗ trợ sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học.
Những quy định này cho thấy giáo dục đại học không chỉ là nơi cung cấp tri thức
mà còn là môi trường quan trọng để nuôi dưỡng nghiên cứu và thúc đẩy sự đổi
mới.
Theo Bộ
Giáo dục và Đào tạo, trong những năm gần đây, giáo dục khởi nghiệp tại các
trường đại học đã có những bước tiến đáng ghi nhận. Cụ thể, tỷ lệ cơ sở giáo
dục đại học đưa môn học khởi nghiệp vào chương trình đào tạo tăng từ 30% vào
năm 2020 lên 48% vào năm 2022. Đặc biệt,
75% các
trường đã tổ chức các lớp kỹ năng khởi nghiệp, trong khi 100% triển khai các
chương trình truyền cảm hứng khởi nghiệp cho sinh viên.
Thứ ba,
giáo dục đại học phát triển tư duy số hóa và sử dụng dữ liệu.
Trong
kỷ nguyên số, giáo dục đại học không chỉ là nơi cung cấp kiến thức truyền thống
mà còn đóng vai trò tiên phong trong việc phát triển tư duy số hóa và kỹ năng
sử dụng dữ liệu cho sinh viên. Điển hình, các trường đại học trên toàn cầu, từ
MIT, Stanford cho đến Đại học Quốc gia Hà Nội, đều đang tích cực tích hợp các
môn học như khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu vào chương
trình giảng dạy. Đây là giải pháp quan trọng nhằm giúp sinh viên làm quen với
các công cụ và công nghệ hiện đại - yếu tố cốt lõi trong các ngành nghề tương lai.
2.3. Bối cảnh của giáo dục đại học đối với đào tạo nguồn nhân lực
số chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay
Thứ
nhất, các chương trình đào tạo liên tục được cập nhật, bổ sung, làm mới và tăng
cường.
Với nhu
cầu về nguồn nhân lực số chất lượng cao về cả 2 phương diện lượng và chất như
hiện nay. Các trường Đại học có truyền thống kỹ thuật như: Đại học Bách khoa Hà
Nội, Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội, Đại học Công nghệ - Đại học
Quốc gia Hà Nội, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Đại học Công nghệ
Thông tin - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Bách khoa - Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh,... liên tục tăng cường chỉ tiêu tuyển sinh, mở các
ngành mới đáp ứng với nhu cầu thị trường, liên kết hợp tác với các cơ sở giáo
dục đại học trong nước và quốc tế nhằm phát triển các chương trình đào
tạo, chuẩn đầu ra, kinh nghiệm đào tạo,...
Bảng 1: Một số chương trình đào tạo mới của các cơ sở giáo dục đại học trong năm 2024 - 2025

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Internet
Ngoài
các trường có truyền thống về khoa học - công nghệ, trong xu hướng đa ngành,
nhận thức được nhu cầu về khoa học dữ liệu và phân tích dữ liệu trong ngành
kinh tế và kinh doanh, theo dự báo của Báo VnExpress: nhiều trường đại học Kinh
tế mở thêm các nhóm ngành Công nghệ như: Trường Đại học Ngoại thương,
Đại học
Kinh tế quốc dân, Dữ liệu tại Đại học Kinh tế TP.HCM.
Ngoài
ra, các chương trình hợp tác quốc tế, liên kết giữa các trường đại học và doanh
nghiệp, đã giúp tăng cường khả năng ứng dụng thực tiễn và mở rộng cơ hội nghề
nghiệp cho sinh viên. Qua đó, theo
Báo
giáo dục: “giáo dục đại học không chỉ góp phần đào tạo chuyên gia đáp ứng nhu
cầu thị trường mà còn thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế số, hướng tới một
hệ thống sản xuất số hiệu quả và bền vững”.
Thứ
hai, đầu ra nguồn nhân lực của các cơ sở giáo dục đại học liên tục phát triển
song hành về lượng và chất.
Theo số
liệu thống kê, số lượng sinh viên tốt nghiệp từ các cơ sở đại học ngành CNTT đã
tăng dần qua các năm. Cụ thể, năm 2021 có khoảng 55.000 cử nhân tốt nghiệp, con
số này tăng nhẹ lên 57.000 vào năm 2022 và 2023. Dự kiến đến năm 2024, số lượng
tốt nghiệp sẽ đạt 60.000, thể hiện xu hướng tăng trưởng đều đặn trong đào tạo
nhân lực CNTT.
Bảng 2. Tổng quan thị trường nguồn nhân lực IT 2018 - 2024.

Nguồn: Tác giả tổng hợp
từ TopDev
Ngoài
ra, nền tảng học vấn của nhân lực ngành CNTT cũng có sự thay đổi tích cực. Các
chương trình đào tạo đại học vẫn chiếm ưu thế, tăng từ 45% (2021) lên 52%
(2024), khẳng định tầm quan trọng của giáo dục đại học trong việc cung cấp nhân
lực có kiến thức và kỹ năng bài bản. Trong khi đó, các chương trình đào tạo
ngắn hạn như khóa học lập trình chuyên sâu dưới 24 tháng hay khóa học online
duy trì tỷ lệ nhỏ hơn, lần lượt ở mức 16% và 1% vào năm 2024.
Sự phát
triển này không chỉ phản ánh sự mở rộng quy mô đào tạo của các cơ sở giáo dục
đại học mà còn cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng của sinh viên đối với ngành
CNTT, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ chuyển đổi số.
Hình 2. Nền tảng học vấn của các lập trình viên.

Nguồn: TopDev
Thứ ba,
đào tạo nguồn nhân lực số vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường và chu
trình phát triển quốc gia.
Sự
thiếu hụt nhân sự CNTT luôn là vấn đề khó khăn nhất đối với thị trường CNTT.
Mặc dù mức lương và tiền thưởng của ngành này đang tăng lên đáng kể nhưng dự
đoán từ năm 2023 - 2026, Việt Nam vẫn sẽ thiếu hụt từ 150.000 đến 200.000 lập
trình viên/kỹ sư hàng năm. Theo báo cáo mới nhất của TopDev, sự thiếu hụt nhân
lực công nghệ thông tin (CNTT) đến nay vẫn là một trong những vấn đề nan giải
của thị trường lao động. Mặc dù nhu cầu nhân sự ngành CNTT tăng cao và được dự
báo sẽ tiếp tục tăng mạnh trong những năm tới, từ năm 2022 - 2026, Việt Nam sẽ
thiếu hụt từ 150.000 - 220.000 nhân sự mỗi năm. Đặc biệt, đến năm 2026, nhu cầu
nhân lực ngành CNTT dự kiến đạt 750.000 người, trong khi nguồn cung hiện tại
vẫn chưa đáp ứng đủ.Cụ thể, vào năm 2022, nhu cầu nhân lực CNTT là 530.000
người nhưng đã thiếu hụt 150.000. Đến năm 2025, con số này tăng lên 700.000
người với mức thiếu hụt 200.000. Tình trạng này không chỉ tạo áp lực lớn lên
thị trường lao động mà còn đặt ra thách thức cho các cơ sở đào tạo trong việc
cải tiến chương trình giảng dạy và mở rộng quy mô đào tạo. Thực vậy, số lượng
sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành IT vẫn tăng cao mỗi năm (Theo số liệu từ bảng
2). Tuy nhiên, thiếu hụt chủ yếu do trình độ của lập trình viên và yêu cầu
doanh nghiệp đặt ra không cân đối. Theo thống kê, từ năm 2021 đến năm 2024
trong số 50-60 nghìn sinh viên chuyên ngành IT mỗi năm thì tới 70%-75% không
đáp ứng được những nhu cầu tuyển dụng của thị trường, cần được đào tạo lại hoặc
không được tuyển dụng.
Bảng 3: Cung cầu nguồn nhân lực CNTT.
|
Năm
|
Nhu
cầu nguồn
nhân
lực
|
Thiếu hụt
|
Tỷ lệ đáp ứng nhu
cầu
thị trường (%)
|
|
2022
|
530,000
|
150,000
|
71.7
|
|
2023
|
550,000
|
150,000
|
72.73
|
|
2024
|
650,000
|
170,000
|
73.85
|
|
2025
|
700,000
|
200,000
|
71.43
|
|
2026
|
750,000
|
220,000
|
70.67
|
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ TopDev
Theo
Báo Dân Trí: “một trong những lý do khiến sinh viên đại học ngành CNTT không
đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng bao gồm chương trình học quá nặng về lý
thuyết, ít ứng dụng thực tiễn. Theo khảo sát từ 96 sinh viên đại học có chuyên
ngành IT hoặc liên quan của công ty Cổ phần ITviec, có tới 53,1% không cảm thấy
hứng thú với chương trình học, hầu hết trong số đó nhận xét rằng chương trình
giảng dạy thiếu các dự án thực tế hoặc bài tập mang tính ứng dụng cao, khiến họ
không được rèn luyện các kỹ năng cần thiết để áp dụng vào công việc thực tế.
Chương
trình lỗi thời, xa rời thực tiễn khiến sinh viên cảm thấy học để đối phó.
Phương pháp giảng dạy một chiều, ít tương tác cũng làm giảm hứng thú. Bên cạnh
đó, sinh viên thiếu định hướng nghề nghiệp rõ ràng, ít cơ hội tiếp xúc doanh
nghiệp, dẫn đến thái độ học tập thụ động, thiếu kết nối với ngành nghề tương
lai.
Hình 3. Một số lý do khiến sinh viên thiếu quan tâm đến chương trình học.

Nguồn:Công ty Cổ phần Itviec
Việc
chỉ tập trung vào lý thuyết làm hạn chế khả năng phát triển tư duy giải quyết
vấn đề và kỹ năng thực hành, vốn là những yếu tố quan trọng mà nhà tuyển dụng
yêu cầu. Điều này dẫn đến khoảng cách lớn giữa kiến thức học được trên ghế nhà
trường và nhu cầu thực tế của thị trường lao động.
3. Một số giải pháp đổi mới giáo dục đại học nhằm đáp ứng yêu cầu
nguồn nhân lực số có chất lượng cao
Trong
bối cảnh chuyển đổi số và cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, giáo dục đại học giữ
vai trò trung tâm trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ
phương thức sản xuất số. Để hiện thực hóa vai trò này, chúng tôi đề xuất một số
giải pháp sau.
Thứ
nhất, các trường đại học cần đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tích hợp
công nghệ số. Việc cập nhật nội dung đào tạo để đáp ứng các xu hướng công nghệ
mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT) và chuỗi khối
(blockchain) là hết sức cần thiết. Việc hợp tác với các doanh nghiệp cũng là
một giải pháp quan trọng nhằm tích hợp nhu cầu của thị trường lao động vào
chương trình đào tạo, từ đó giúp sinh viên thích nghi với môi trường làm việc
thực tế.
Thứ
hai, phát triển đội ngũ giảng viên chất lượng cao là yếu tố then chốt. Các
trường cần tổ chức các khóa đào tạo và bồi dưỡng giảng viên về công nghệ và
phương pháp giảng dạy hiện đại. Thu hút các chuyên gia quốc tế tham gia giảng
dạy và chia sẻ kinh nghiệm cũng là một cách hiệu quả để nâng cao chất
lượng giảng viên.
Thứ ba,
cần tăng cường ứng dụng công nghệ số trong quá trình dạy và học. Đầu tư vào cơ
sở hạ tầng CNTT, xây dựng hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS), phòng thí
nghiệm ảo và nền tảng học tập kết hợp (blended learning) là những bước cần
thiết. Bên cạnh đó, phát triển tài nguyên học liệu mở như thư viện số và tài
liệu học tập trực tuyến sẽ giúp sinh viên dễ dàng tiếp cận tri thức.
Thứ tư,
thúc đẩy hợp tác và hội nhập. Các trường đại học cần học hỏi kinh nghiệm từ các
mô hình giáo dục thành công trên thế giới, mở rộng các chương trình trao đổi
sinh viên và giảng viên, cũng như triển khai các dự án nghiên cứu chung.
Thứ
năm, gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục đại học và thị trường lao động là một yếu
tố quan trọng. Các trường cần thường xuyên thực hiện khảo sát để nắm bắt nhu
cầu tuyển dụng và các kỹ năng cần thiết trong thời đại số. Việc xây dựng các
trung tâm kết nối doanh nghiệp sẽ giúp sinh viên tìm kiếm cơ hội thực tập và
việc làm.
4. Kết luận
Nghiên
cứu chỉ ra rằng giáo dục đại học đóng vai trò thiết yếu trong việc đào tạo
nguồn nhân lực số chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia. Các
chương trình đào tạo đại học đang được các trường đại học điều chỉnh để phù hợp
với công nghệ mới, nhưng nguồn nhân lực số vẫn còn thiếu về số lượng và chưa
đáp ứng đầy đủ về chất lượng, đặc biệt là kỹ năng thực hành. Để giải quyết vấn
đề nan giải trên, Việt Nam, cần đổi mới giáo dục, ứng dụng công nghệ và tăng
cường hợp tác với doanh nghiệp, các trường đại học, các viện nghiên cứu trong
và ngoài nước. Những bước đi này sẽ giúp giáo dục đại học của Việt Nam xây dựng
nền tảng cho phương thức sản xuất số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
trong tương lai.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. World Bank (2000), World
development indicators, Oxford University Press.
2. Dương Thị Vân, “Phương
pháp luận phát triển nguồn nhân lực thư viện”, Tạp chí Thư viện
Việt Nam, 5(31)/2011.
3. Nguyễn Tiệp (2008), Giáo
trình Nguồn nhân lực, Nxb. Lao động xã hội.
4. Thân Thị Hạnh, “Đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học xã
hội Việt Nam, 1(110)/2017.
5. Hồ Tú Bảo và cộng sự
(2024), Hỏi đáp về chuyển đổi số, Nxb. Thông tin và Truyền thông.
6. IT Viec (2024), Lương IT
và thị trường tuyển dụng IT Việt Nam.
7. Nguyên Bảo (2023), Khởi
nghiệp là môn học bắt buộc hoặc tự chọn của 48 cơ sở giáo dục đại học,
Báo Tuổi Trẻ.
8. Phạm Huyền Trang
(2024), Vai trò của dữ liệu số và những vấn đề đặt ra đối với
dữ liệu số trong giáo dục, đào tạo, Quản lý nhà nước, (342).
9. VNUR (2025), Bảng
xếp hạng theo ngành năm 2025.
10. TopDev (2024), Báo
cáo Thị trường IT Việt Nam 2024 - 2025: Cơ hội, thách thức và động
lực mới cho ngành công nghệ.