Nghị quyết đề ra thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới.
Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2026-2030. Trong ảnh: Cầu Nhật Tân, cây cầu thép dây văng lớn nhất Việt Nam và là biểu tượng độc đáo của thủ đô Hà Nội. Cây cầu này đóng góp một phần quan trọng trong nền kinh tế cũng như giao thông vận tải của thủ đô, rút ngắn quãng đường di chuyển từ trung tâm thành phố đến Sân bay Quốc tế Nội Bài. (Ảnh: Phạm Tuấn Anh/TTXVN)
Chủ tịch Quốc hội Trần
Thanh Mẫn đã ký chứng thực Nghị quyết số 25/2026/QH16 về Kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội 5 năm 2026-2030.
Theo đó, Quốc hội
quyết nghị: Mục tiêu tổng quát nhằm phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn
đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định
kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng
cao toàn diện đời sống nhân dân. Thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030, trở
thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao,
thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô GDP hàng đầu thế giới.
Tạo lập thể chế phát
triển hiện đại, bền vững; mạng lưới kết cấu hạ tầng đồng bộ; nâng cao tiềm lực,
trình độ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng
nguồn nhân lực; phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Việt Nam; bảo
vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; xã hội dân chủ, công bằng, kỷ
cương, an toàn; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; vị thế, uy tín của Việt Nam
trên trường quốc tế được nâng lên.
Các chỉ tiêu chủ yếu
về phát triển kinh tế-xã hội gồm: GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt
8.500 USD; tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp bình quân hằng năm (IIP) đạt
11-12%; tỷ lệ nội địa hóa một số ngành công nghiệp chủ lực đến năm 2030 đạt
40-45%; chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp (CIP) đến năm 2030 thuộc nhóm 3
nước dẫn đầu ASEAN; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đến năm
2030 đạt 28%; số lượt khách quốc tế đến Việt Nam đến năm 2030 đạt 45-50 triệu
lượt; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35-40%; giảm tỉ lệ
hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) 1-1,5 điểm%/năm; chỉ số phát triển con
người (HDI) đạt 0,8...
Tỷ lệ nội địa hóa một số ngành công nghiệp chủ lực đến năm 2030 đạt 40-45%. (Ảnh: Tuấn Anh/TTXVN)
Các nhiệm vụ và giải
pháp chủ yếu gồm: Tập trung hoàn thiện thể chế phát triển đồng bộ, hiện đại,
cạnh tranh để tạo đột phá tăng trưởng; chuyển đổi mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh
cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực; phát triển các khu vực doanh nghiệp, các mô
hình kinh tế mới; thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô,
kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, chống khủng hoảng kinh tế; khơi
thông và đa dạng hóa các chuỗi cung ứng, kênh dẫn vốn; tập trung phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng và phát triển
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng
hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con
người Việt Nam.
Cùng với đó là hiện
đại hóa nền giáo dục quốc dân, nâng cao chất lượng đào tạo, thu hút, trọng dụng
nhân tài; phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; thúc đẩy đô
thị hóa và phát triển đô thị, liên kết vùng; quản lý phát triển xã hội bền
vững; bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, chăm lo đời sống nhân dân; quản lý và
sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi
khí hậu; củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,
tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng
hóa; thống nhất tư duy, nhận thức, khát vọng và hành động; đổi mới quản trị
thực thi để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số”; chủ động hơn nữa
công tác thông tin tuyên truyền, tạo động lực, truyền cảm hứng; nâng cao hiệu
quả công tác dân vận, tạo đồng thuận xã hội./.