1. Mở đầu
Trong bối cảnh thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những biến chuyển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, kinh tế tri thức và chuyển đổi số, khoa học và công nghệ đã trở thành động lực hàng đầu của sự phát triển kinh tế - xã hội không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các quốc gia trên thế giới. Đảng ta luôn xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng và động lực chủ yếu để phát triển nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.
Ngày 22 tháng 12 năm 2024, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia phục vụ phát triển đất nước. Đây là một trong những nghị quyết chiến lược, có ý nghĩa quan trọng trong việc cụ thể hóa đường lối của Đại hội XIII của Đảng, tạo đột phá về tư duy phát triển, khơi dậy khát vọng sáng tạo và phát huy tiềm năng trí tuệ Việt Nam trong thời kỳ mới.
Nghị quyết nêu rõ: “Phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là nhiệm vụ trung tâm, là nền tảng và động lực quan trọng hàng đầu để thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước”.
Đồng thời, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải quán triệt sâu sắc và triển khai nghị quyết bằng hành động cụ thể, hiệu quả, thiết thực, phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.
Đối với Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới, một đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, việc quán triệt và thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc. Viện không chỉ là đơn vị nghiên cứu, tư vấn, đào tạo và truyền thông về con người, gia đình, giới và phát triển xã hội mà còn là một trung tâm tri thức, nơi hội tụ các nhà khoa học, trong đó viên chức đảng viên là lực lượng nòng cốt. Vì vậy, việc học tập, quán triệt và thực hiện Nghị quyết 57 là trách nhiệm chính trị, đồng thời là cơ hội để đổi mới tư duy nghiên cứu, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động khoa học, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ đảng viên trong sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước.
2. Quán triệt và thực hiện các nhiệm vụ của Nghị quyết 57 -NQ/TW của Bộ Chính trị tại Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
Nhiệm vụ, giải pháp 1. Nâng cao nhận thức, đột phá về đổi mới tư duy, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới, khí thế mới trong toàn xã hội về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc giaẢnh minh hoạ (AI-generated)
Để thực hiện được tốt các mục tiêu đến năm 2030 và đến năm 2045 của Nghị quyết 57, Bộ Chính trị đã đề ra 7 nhiệm vụ, giải pháp. Trong đó, có 3 nhiệm vụ giải pháp gắn liền với các chức năng, nhiệm vụ trong hoạt động của Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới. Gồm:
- Nhiệm vụ, giải pháp 1. Nâng cao nhận thức, đột phá về đổi mới tư duy, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới, khí thế mới trong toàn xã hội về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
- Nhiệm vụ, giải pháp 2. Khẩn trương, quyết liệt hoàn thiện thể chế; xoá bỏ mọi tư tưởng, quan niệm, rào cản đang cản trở sự phát triển; đưa thể chế thành một lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
- Nhiệm vụ, giải pháp 7. Tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Quán triệt tinh thần của nhiệm vụ, giải pháp 1 và 2 , ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 57, Chi ủy, Lãnh đạo Viện đã kịp thời thông tin và phổ biến nội dung Nghị quyết đến toàn thể cán bộ, đảng viên, viên chức. Qua đó, toàn thể viên chức, đảng viên trong Viện đã được tiếp cận, tìm hiểu và nắm bắt nội dung, quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của Nghị quyết.
Trong quá trình triển khai và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ công tác, Chi ủy và Lãnh đạo Viện cũng đã chú trọng việc phổ biến và quán triệt tới viên chức, đảng viên các nội dung của Nghị quyết 57 gắn liền các nhiệm vụ chuyên môn cụ thể, đặc biệt là trong công tác đề xuất nghiên cứu khoa học các cấp và tư vấn chính sách trong thời gian gần đây. Các buổi sinh hoạt định kỳ của Chi bộ thường xuyên lồng ghép nội dung nghị quyết, thảo luận cách vận dụng vào thực tiễn nghiên cứu, đặc biệt là trong việc đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng đề tài, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, dữ liệu mở và kết nối tri thức liên ngành.
Viên chức, đảng viên Viện tham gia các hoạt động đào tạo, tập huấn, hội thảo nâng cao năng lực về chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo như viên chức là cán bộ nghiên cứu, đảng viên trong Chi bộ thực hiện tham gia hoạt động tập huấn về sử dụng AI trong triển khai và nghiên cứu khoa học do Viện tổ chức; 100% viên chức và người lao động tham gia chương trình tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng sử dụng trí tuệ nhân tạo và trợ lý ảo do Ban Thường vụ Công đoàn Khoa học và Công nghệ Việt Nam tổ chức; 100% viên chức và người lao động tham gia cuộc thi trực tuyến về bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Nhìn chung, viên chức đảng viên của Viện thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, tích cực tham gia học tập và đưa nội dung nghị quyết vào hoạt động thực tế. Nhiều đề tài nghiên cứu do đảng viên chủ trì đã chú trọng ứng dụng kết quả vào đời sống xã hội, tham gia tư vấn chính sách, góp phần vào việc hoạch định chủ trương về con người, gia đình, giới và phát triển xã hội bền vững.
Quán triệt tinh thần của nhiệm vụ, giải pháp 7, trong những tháng cuối năm 2025, Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới đã chú trọng đến các hoạt động hợp tác quốc tế. Viện đã tổ chức 02 buổi tọa đàm khoa học với chuyên gia quốc tế như buổi tọa đàm giữa GS. Emiko Ochiai, nguyên Trưởng khoa Khoa Xã hội học, Đại học Tổng hợp Kyoto - Nhật Bản trao đổi với Viện về chủ đề “Xã hội học và Xã hội học Gia đình ở Nhật Bản: Lịch sử và Định hướng” (13/8/2025); và PGS.TS. Shashidhar Channappa – Trưởng khoa Công tác xã hội, The Oxford College of Arts, Ấn Độ trao đổi với Viện về chủ đề “Trao quyền cho phụ nữ tại Ấn Độ” (25/9/2025) .
Bên cạnh đó, Viện tiếp tục duy trì, củng cố và phát triển những hoạt động hợp tác hiện có và tiếp tục mở rộng, tìm kiếm các hoạt động hợp tác với các quốc gia có truyền thống hợp tác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc…
Năm 2025, viên chức, đảng viên của Viện tham gia 14 đoàn ra, trong đó 13 đoàn ra không sử dụng ngân sách nhà nước. Các đoàn ra tập trung vào các hoạt động hội nghị, hội thảo quốc tế, đào tạo tập huấn được tổ chức tại Hàn Quốc, Thái Lan, Phi-líp-pin, Nhật Bản, Hồng Kông, Cam-pu-chia, Ma-lay-si-a, In-đô-nê-si-anesia, Úc, Ấn Độ.
3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quán triệt và thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW trong công tác nghiên cứu
Thứ nhất, tăng cường công tác học tập, tuyên truyền và quán triệt sâu rộng nội dung nghị quyết. Việc học tập Nghị quyết 57 là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi viên chức, đảng viên phải nắm vững tinh thần nghị quyết, hiểu sâu các chủ trương của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, từ đó liên hệ thực tiễn công tác của mình. Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên đề, hội thảo học thuật, diễn đàn khoa học để trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, giúp đảng viên vận dụng sáng tạo tinh thần nghị quyết vào hoạt động nghiên cứu.
Thứ hai, đổi mới tư duy nghiên cứu khoa học theo hướng mở, liên ngành, hiện đại.
Viên chức, đảng viên làm công tác nghiên cứu cần đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn vào nghiên cứu; đẩy mạnh hợp tác trong và ngoài nước; hướng tới các nghiên cứu có giá trị ứng dụng, phục vụ hoạch định chính sách và nâng cao chất lượng cuộc sống con người. Việc đổi mới phương pháp không chỉ thể hiện năng lực chuyên môn mà còn là biểu hiện cụ thể của tinh thần trách nhiệm chính trị khi thực hiện Nghị quyết 57.
Thứ ba, tăng cường gắn kết giữa công tác đảng và công tác chuyên môn. Chi bộ cần lãnh đạo, định hướng hoạt động khoa học gắn với việc thực hiện Nghị quyết 57, đưa nội dung nghị quyết vào các đề tài, dự án, chương trình nghiên cứu. Cấp ủy cần phối hợp chặt chẽ với lãnh đạo Viện trong việc lập kế hoạch nghiên cứu, đánh giá kết quả công tác của cán bộ, đảng viên, đảm bảo mỗi sản phẩm khoa học đều phản ánh tinh thần đổi mới, sáng tạo theo định hướng của Đảng.
Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác khoa học và chuyển giao tri thức. Đảng viên cần tiên phong trong việc mở rộng hợp tác nghiên cứu trong nước và quốc tế, tham gia các dự án liên ngành, liên cơ quan; đồng thời tích cực phổ biến, chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Đặc biệt, các kết quả nghiên cứu thuộc lĩnh vực con người, quyền con người, gia đình, giới và bình đẳng giới… cần được lan tỏa đến các cơ quan hoạch định chính sách, các tổ chức xã hội.
4. Kết luận
Việc quán triệt và thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW tại Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới không chỉ là nhiệm vụ chính trị, mà còn là cơ hội quan trọng để đổi mới toàn diện tư duy nghiên cứu, nâng cao hiệu quả ứng dụng khoa học và khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ đảng viên, viên chức làm công tác nghiên cứu. Việc quán triệt nghị quyết của viên chức, đảng viên không chỉ dừng ở việc hiểu nội dung, mà còn cần vận dụng để đưa ra các kết quả cụ thể trong từng công trình nghiên cứu, từng hoạt động tư vấn.
Với tinh thần chủ động và trách nhiệm, viên chức, đảng viên Chi bộ Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới quyết tâm thực hiện tốt Nghị quyết 57-NQ/TW, phát huy sức mạnh trí tuệ tập thể, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong bối cảnh chuyển đổi số tại Việt Nam.
Văn bản tham khảo và trích dẫn
1. Bộ Khoa học và Công nghệ. Công văn số 562/BLHCN-VCL, ngày 31/3/2025 về việc hướng dẫn nội dung làm rõ định nghĩa, nội hàm, lượng hóa các khái niệm mới trong Nghị quyết số 57-NQ/TW.
2. Ban Chấp hành Trung ương. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo số quốc gia.