Hội thảo khoa học về Quản lý, sử dụng bền vững đất ngập nước và đa dạng sinh học khu vực Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 24/4/2026, tại Cần Giờ, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững phối hợp với Ban Quản lý Rừng phòng hộ, đặc dụng Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học “Quản lý, sử dụng bền vững đất ngập nước, đa dạng sinh học khu vực Cần Giờ và Thành phố Hồ Chí Minh”. Hội thảo được tổ chức trong khuôn khổ thực hiện nhiệm vụ khoa học cấp Bộ “Điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất bộ tiêu chí đánh giá tính dễ bị tổn thương của các vùng đất ngập nước nội địa quan trọng vùng Đông Nam Bộ” do TS. Nguyễn Đình Đáp làm chủ nhiệm.
Hội thảo có sự tham dự
của các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý, đại diện các cơ quan, đơn vị
liên quan trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, phát triển bền
vững, kinh tế môi trường và quản lý tài nguyên. Đây là diễn đàn khoa học quan
trọng nhằm trao đổi, chia sẻ kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm thực tiễn và đề xuất
các giải pháp quản lý, bảo tồn, sử dụng bền vững hệ sinh thái đất ngập nước tại
Cần Giờ nói riêng và khu vực Thành phố Hồ Chí Minh nói chung.

TS.
Nguyễn Song Tùng, Viện trưởng Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững phát
biểu khai mạc Hội thảo
Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Nguyễn Song Tùng, Viện trưởng Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững nhấn mạnh vai trò quan trọng của hệ sinh thái đất ngập nước và rừng ngập mặn Cần Giờ trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, điều hòa môi trường, phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Cần Giờ là khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt của Thành phố Hồ Chí Minh, nơi hội tụ các giá trị sinh thái, cảnh quan, văn hóa và lịch sử. Hệ sinh thái rừng ngập mặn tại đây không chỉ là “lá chắn xanh” bảo vệ thành phố trước tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và thiên tai mà còn là không gian quan trọng cho nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường, phát triển du lịch sinh thái và sinh kế cộng đồng.
Tiếp đó, ông Huỳnh
Thanh Tú, Giám đốc Ban Quản lý Vườn quốc gia Cần Giờ, đã chia sẻ về thực trạng
quản lý, bảo vệ rừng, các kết quả đạt được cũng như những khó khăn, thách thức
trong quá trình bảo tồn và phát triển bền vững khu vực Cần Giờ. Theo đó, công
tác bảo tồn cần tiếp tục gắn với sinh kế người dân, phát triển du lịch sinh thái
có kiểm soát và nâng cao nhận thức cộng đồng.

Ông
Huỳnh Thanh Tú, Giám đốc Ban Quản lý Vườn quốc gia Cần Giờ, phát biểu tại Hội
thảo.
Tại hội thảo, TS. Trần
Ngọc Cường đã trình bày và trao đổi về các quy định pháp luật liên quan đến bảo
vệ môi trường, bảo tồn di sản thiên nhiên, đất ngập nước và đa dạng sinh học. Nội
dung trình bày làm rõ các tiêu chí xác định di sản thiên nhiên, trong đó nhấn mạnh
hai nhóm giá trị cốt lõi: tính độc đáo, nổi bật, hiếm gặp của cảnh quan tự
nhiên và giá trị đa dạng sinh học, văn hóa gắn với khu vực.
Các ý kiến tại hội thảo
cho rằng việc nhận diện, đánh giá và bảo tồn di sản thiên nhiên cần được đặt
trên nền tảng khoa học, pháp lý và thực tiễn quản lý. Đặc biệt, trong bối cảnh
các quy định mới về phân cấp quản lý, thẩm định hồ sơ và đánh giá định kỳ giá
trị di sản, địa phương cần chủ động hơn trong việc xây dựng chiến lược bảo tồn,
giám sát diễn biến môi trường và huy động các nguồn lực xã hội.

TS.
Trần Ngọc Cường trao đổi về cơ sở pháp lý trong bảo vệ môi trường và bảo tồn di
sản thiên nhiên
Một nội dung đáng chú ý
được các đại biểu quan tâm là định hướng xây dựng hồ sơ, từng bước nâng tầm giá
trị khu vực Cần Giờ trên bản đồ bảo tồn quốc tế, hướng tới các danh hiệu có ý
nghĩa như khu Ramsar hoặc di sản thiên nhiên thế giới. Việc này không chỉ góp
phần khẳng định giá trị sinh thái đặc biệt của Cần Giờ mà còn tạo động lực thúc
đẩy phát triển du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học và sinh kế bền vững cho cộng
đồng địa phương.
Trong phần trình bày của
ThS. Bùi Nguyễn Thế Kiệt, đại diện Ban Quản lý Vườn quốc gia Cần Giờ, các đại
biểu được cung cấp thêm nhiều thông tin về hiện trạng rừng, đa dạng sinh học và
công tác quản lý, bảo vệ nguồn gen tại khu vực Cần Giờ. Theo trao đổi tại hội
thảo, Cần Giờ có nhiều giá trị đặc trưng về hệ sinh thái, đáp ứng nhiều tiêu
chí quan trọng của khu dự trữ sinh quyển. Một số vấn đề thực tiễn cũng được đặt
ra như công tác bảo vệ rừng, phục hồi nguồn gen, chính sách hỗ trợ người dân
tham gia bảo vệ rừng, phí bảo vệ rừng, cũng như việc kết hợp giữa bảo tồn và
phát triển kinh tế. Các ý kiến cho rằng muốn bảo tồn hiệu quả cần quan tâm đúng
mức đến đời sống của cộng đồng địa phương, bởi người dân vừa là chủ thể bảo vệ
tài nguyên, vừa là đối tượng thụ hưởng trực tiếp các giá trị từ rừng.
ThS.
Bùi Nguyễn Thế Kiệt chia sẻ về công tác bảo tồn và quản lý đa dạng sinh học tại
Cần Giờ
Bên cạnh đó, ông Phan
Thanh Giản, đại diện IUCN, đã chia sẻ một số mô hình cộng đồng trong bảo tồn
thiên nhiên. Các mô hình này cho thấy, khi người dân được tham gia vào quá
trình quản lý, giám sát, khai thác hợp lý và hưởng lợi từ tài nguyên, hiệu quả
bảo tồn sẽ được nâng cao, đồng thời góp phần tạo sinh kế bền vững.

Ông
Phan Thanh Giản, đại diện IUCN, trình bày một số mô hình cộng đồng trong bảo tồn
thiên nhiên.
Một trong những nội
dung được quan tâm tại hội thảo là vai trò của quản trị tài nguyên nước, đất và
rừng trong chiến lược phát triển bền vững. Nhóm chuyên gia kinh tế và phát triển
bền vững gồm ông Nguyễn Hoàng Dũng và bà Huỳnh Thị Mỹ Nương, nhấn mạnh rằng sức
mạnh của một địa phương không chỉ nằm ở diện tích đất đai hay nguồn tài nguyên
sẵn có mà phụ thuộc vào trình độ quản trị, năng lực khoa học - công nghệ và khả
năng kiểm soát rủi ro. Theo đó, cần chuyển từ tư duy quản lý hành chính đơn thuần
sang tư duy quản trị phát triển hiện đại, có chiến lược dài hạn, dựa trên khoa
học, pháp luật và thực tiễn địa phương. Đặc biệt, mô hình phối hợp “5 nhà” gồm:
Nhà nước, người dân, nhà đầu tư, chuyên gia và truyền thông được đề xuất như một
cơ chế quan trọng nhằm tạo nền tảng cho bảo tồn và phát triển bền vững.
Trong mô hình này, Nhà
nước giữ vai trò kiến tạo chính sách; người dân là chủ thể đồng hành và thụ hưởng;
nhà đầu tư cung cấp nguồn lực, giải pháp; chuyên gia đóng vai trò tư vấn khoa học,
quản trị rủi ro; còn truyền thông có trách nhiệm lan tỏa thông tin chính xác,
nâng cao nhận thức xã hội. Đây là cách tiếp cận liên ngành, phù hợp với yêu cầu
phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và thích ứng biến đổi khí hậu trong giai đoạn
hiện nay.

Bà
Huỳnh Thị Mỹ Nương, chuyên gia kinh tế và phát triển bền vững chia sẻ tại hội
thảo
Tại phiên thảo luận
chuyên môn, bà Diễm My, giảng viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, đã trao đổi
về đa dạng sinh học trong hệ sinh thái và các giải pháp kỹ thuật phục hồi rừng.
Nội dung trình bày nhấn mạnh rằng bảo tồn không chỉ là giữ nguyên trạng tài
nguyên mà cần hiểu rõ quy luật vận động tự nhiên của hệ sinh thái để có phương
án tác động phù hợp.
Đối với rừng trồng, đặc
biệt là những khu rừng đã phát triển trong thời gian dài, cần quan tâm đến
không gian sinh trưởng, khoảng trống sinh thái, cấu trúc tầng tán và quá trình
diễn thế tự nhiên. Việc tạo điều kiện cho rừng phục hồi theo quy luật tự nhiên
có thể giúp nâng cao sức sống của hệ sinh thái, hạn chế tình trạng suy thoái và
tăng khả năng chống chịu trước các biến động môi trường.
Các chuyên gia cũng cho
rằng bảo tồn loài quý hiếm cần được nhìn nhận trong tổng thể bảo tồn sinh cảnh.
Một loài biểu tượng có thể là điểm nhấn truyền thông, nhưng mục tiêu sâu xa của
các dự án bảo tồn là phục hồi môi trường sống, bảo vệ mạng lưới sinh thái và tạo
điều kiện cho nhiều loài cùng phát triển.

Bà
Trần Ngọc Diễm My, giảng viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thành phố Hồ Chí
Minh phát biểu tại Hội thảo
Anh Trần Trọng Tín, Viện
Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, đã chia sẻ một số định hướng kỹ
thuật nhằm duy trì sự bền vững của hệ sinh thái rừng trong bối cảnh phát triển
du lịch sinh thái. Theo đó, các hoạt động tham quan cần được thiết kế theo hướng
hạn chế tối đa tác động tiêu cực đến môi trường, đồng thời tạo điều kiện để du
khách hiểu, yêu và có trách nhiệm hơn với thiên nhiên.
Các mô hình tham quan,
quan sát dưới tán rừng, nghiên cứu giáo dục môi trường và trải nghiệm sinh thái
cần được tổ chức khoa học, có kiểm soát, tránh xâm phạm đến sự an toàn của cây
rừng và sinh cảnh. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng lộ trình phát triển du lịch
sinh thái bền vững tại Cần Giờ trong thời gian tới.
Trong phần trao đổi,
TS. Trần Ngọc Cường tiếp tục nhấn mạnh vai trò quan trọng của rừng ngập mặn
trong phòng chống thiên tai, giảm thiểu rủi ro môi trường và bảo vệ vùng ven biển.
Rừng ngập mặn Cần Giờ có khả năng hấp thụ carbon, điều hòa khí hậu, bảo vệ bờ
biển, giảm tác động của sóng, gió, triều cường và nước biển dâng.
Các đại biểu thống nhất
rằng bảo vệ rừng ngập mặn không chỉ là nhiệm vụ môi trường mà còn là yêu cầu
chiến lược trong bảo đảm an ninh sinh thái, an ninh nguồn nước và phát triển bền
vững của Thành phố Hồ Chí Minh.
Phát biểu tổng kết hội
thảo, TS. Nguyễn Song Tùng đánh giá cao tinh thần làm việc nghiêm túc, trách
nhiệm của các đại biểu, chuyên gia và nhà khoa học. Hội thảo đã ghi nhận nhiều
báo cáo chuyên sâu, các ý kiến thảo luận thực tiễn và những đề xuất có giá trị
đối với công tác quản lý, bảo tồn đất ngập nước, đa dạng sinh học tại khu vực Cần
Giờ. Các nội dung trao đổi đã góp phần làm rõ giá trị đặc biệt của chất lượng
nước, rừng ngập mặn và đa dạng sinh học tại Cần Giờ; đồng thời chỉ ra những
thách thức trong quản lý tài nguyên, biến đổi khí hậu, phát triển du lịch, sinh
kế cộng đồng và yêu cầu hoàn thiện chính sách quản trị.
Hội thảo khẳng định,
công tác bảo tồn và sử dụng bền vững đất ngập nước cần được đặt trong tổng thể
chiến lược phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh, dựa trên cơ sở khoa học, sự phối
hợp liên ngành và sự tham gia tích cực của cộng đồng. Các kết quả trao đổi tại
hội thảo là nguồn tư liệu quan trọng phục vụ nghiên cứu, tư vấn chính sách và đề
xuất các chương trình, dự án cụ thể trong thời gian tới.
Thông qua hội thảo, Viện
Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững kỳ vọng tiếp tục tăng cường hợp tác với
các cơ quan quản lý, tổ chức quốc tế, địa phương, chuyên gia và cộng đồng nhằm
thúc đẩy các nghiên cứu chuyên sâu, đóng góp thiết thực cho công tác bảo tồn,
phục hồi và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước quan trọng tại khu vực
Đông Nam Bộ.

Kết thúc, các đại biểu,
chuyên gia và nhà khoa học chụp ảnh lưu niệm tại hội thảo