CHỒI ÂU LẠC MỌC TỪ GỐC VĂN LANG
So với thời kỳ lịch sử Hùng Vương, thời kỳ lịch sử An Dương Vương
được ghi chép nhiều hơn trong sử sách cổ, được lưu lại rõ hơn trong truyền
thuyết dân gian. Đặc biệt, trên khắp vùng Cổ Loa, cố đô vua Thục, mỗi tên xóm
tên làng, mỗi tên gò tên đống, cho tới những di tích thành quách, đình miếu,
nhà bia đều thống nhất với truyền thuyết như khẳng định từng chi tiết của thời
kỳ lịch sử cách ta hàng hai nghìn năm có lẻ đó.
Mấy năm gần đây, với tinh thần làm việc tích cực khẩn trương,
những cán bộ khảo cổ học, sử học và các ngành có liên quan đã phát hiện và thu
thập được khá nhiều tài liệu quan trọng trong lòng đất Cổ Loa, giúp soi sáng
thêm thời kỳ lịch sử này. Tại đây, chúng ta đã có di chỉ Đồng Vông với dạng
hình văn hóa giống Phùng Nguyên, niên đại khoảng đầu thời đại Đồng thau; di chỉ
Bãi Mèn, Đình Chàng có niên đại thời Đồng thau; di chỉ Đường Mây có niên đại
thời đại Sắt sớm. Chúng ta có hàng loạt những ngôi mộ gạch cổ thời thuộc
Hán và nhiều dấu vết của những thời gian muộn hơn nữa.
Tại các vùng khác, chúng ta cũng đã tìm được nhiều di chỉ có thể
xếp vào thời “Hùng Vương muộn”, và thời kỳ gần kề thời thuộc Hán, như những di
chỉ Đường Cồ, Vinh Quang, Nhổn (Hà Tây), Đông Lâm, Cẩm Hoàng (Hà Bắc), Trung
Mầu (Hà Nội)...
Những kết quả công tác nói trên đã đủ để xua tan mối hoài nghi
trong một số ít người về sự có thật của thời kỳ lịch sử này, nhưng chưa đủ để
rút ra những kết luận chính xác về nhiều mặt của xã hội thời đó. Tuy nhiên, như
thế cũng đã ít nhiều gợi ý rằng văn hóa Âu Lạc chỉ là sự kế tục vì phát triển ở
trình độ cao hơn của văn hóa Văn Lang; cách coi xã hội Âu Lạc như một xã hội
hoàn toàn mới, được xây dựng bởi chủ nhân một nền văn hóa khác biệt hẳn với văn
hóa Văn Lang, đã không còn đứng vững.
Vậy nền móng của sự suy nghĩ để xúc tiến việc nghiên cứu thời kỳ
lịch sử An Dương Vương và nước Âu Lạc là phải tìm nguồn gốc của nó từ thời kỳ
lịch sử Hùng Vương. Việc xếp cả hai thời kỳ lịch sử Hùng Vương và An Dương
Vương vào chung một “thời đại bắt đầu dựng nước và giữ nước là rất hợp lý”(1). ,
1. Điểm
lại những ý kiến trước đây
Tới nay, có những ý kiến tỏ ra hoài nghi hoặc không thừa nhận thời
kỳ An Dương Vương và nhân vật Thục Phán là có thật trong lịch sử dân tộc ta -
Những ý kiến đó, tuy không nhiều lắm và cũng không được mấy ai đồng tình, nhưng
cũng cần điểm qua.
Cách đây hàng mấy trăm năm, trong thời kỳ phong kiến, những người
viết sử như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thì Sĩ... do những hạn chế của thời
đại, đã xếp thời kỳ lịch sử này vào phần ngoại kỷ, thể hiện thái độ “dĩ nghi
tồn nghi”, chưa mạnh dạn coi thời kỳ đó là thuộc quốc thống của dân tộc Việt
Nam. Bộ Khâm
định Việt sử thông giám cương mục, biên soạn vào thời nhà Nguyễn cũng vẫn theo nếp những bộ sử
cũ.
Từ thời thuộc Pháp tới nay, một số người nghiên cứu và viết
sử trong nước, ngoài nước cũng tỏ thái độ hoài nghi.
H. Ma-xpê-rô, trong bài Vương quốc Văn Lang(2), cho An Dương Vương là một nhân vật chưa chắc đã có thật
trong lịch sử, chỉ là một “nhà vua thần thoại”.
Trần Trọng Kim quan niệm “trong thời đại ấy (tức từ họ Hồng Bàng
cho đến hết đời nhà Triệu) thì phần nhiều là những chuyện hoang đường, huyền
hoặc cả”(3). Ngô Tất Tố cho rằng “nước Nam
không có An Dương Vương nhà Thục và An Dương Vương là một tên đất Trung Quốc”(4).
Nguyễn Văn Siêu cũng tỏ ý nghi ngờ:
“Làm
sao đất Giao Chỉ
Lại có
thành vua Thục?
Sử theo
lời chích quái
Ai tỏ sự
sai ngoa?”(5).
Nguyễn Phương đặt vấn đề: “Để tìm hiểu mối liên lạc giữa Lạc Vương
và An Dương Vương, trước hết nên đặt câu hỏi: có An Dương Vương hay không đã”(6), rồi bàn rằng Cổ Loa là nơi Ngô Quyền đã đóng đô, Loa Thành
là một địa danh xuất hiện trong lịch sử với Lê Văn Hưu, thì như vậy có thật sự
đó là nơi có một thành gọi là Cổ Loa hay chỉ là một “đại danh suông như núi
Vọng Phu”? Về quốc hiệu Âu Lạc, Nguyễn Phương cũng cho rằng không phải là quốc
hiệu thời An Dương Vương mà chỉ là một địa danh ghép của Giao Chỉ và Cửu Chân
thời Triệu Đà.
L. Ô-ru-xô và Cl. Ma-đron tuy đều cho An Dương Vương là có thật,
song lại cho việc dựng nước Âu Lạc là do cuộc chinh phục của người Trung Quốc
vào lãnh thổ nước ta(7).
Nói chung các nhà nghiên cứu hiện nay đều thống nhất quan niệm An
Dương Vương là nhân vật có thật, thời kỳ nước Âu Lạc là thời kỳ lịch sử của dân
tộc chúng ta. Có người đã đánh giá rất cao vai trò của Thục Phán: An Dương
Vương đã nhóm cho người Âu Lạc cái mầm mống của tinh thần dân tộc và “sự thành
lập nước Âu Lạc là một sự kiện, do đó tổ tiên chúng ta là người Lạc Việt
đã xuất đầu lộ diện trên lịch sử”(8).
Hiểu biết của chúng ta về thời kỳ lịch sử này còn rất sơ sài. Một
vài quyển sử và một số bài viết đã có đề cập tới từng khía cạnh của thời kỳ
lịch sử này.
Ngoài ra, chỉ mới có cuốn Vấn đề An Dương Vương và nước Âu Lạc của Đào Duy Anh, in năm
1957, là coi như đã bàn một cách toàn diện với những đề mục:
- An Dương Vương được gọi là Thục Vương tử là tại sao?
- Thục Phán có chiến tranh với Hùng Vương mà chiếm cả nước Văn Lang
không?
- Thục Phán xây dựng nước Âu Lạc thế nào?
- Xã hội và văn hóa Âu Lạc.
- Nước Âu Lạc với cuộc xâm lăng của Triệu Đà.
- Vấn đề nhà Thục và vấn đề nhà Triệu.
Do còn thiếu những bằng chứng hiện vật khảo cổ cụ thể, chính xác,
nên những ý kiến học thuật còn khá nhiều điểm chưa có chỗ dựa vững chắc và còn
nhiều điểm chưa thống nhất. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 107, tháng 2/1968,
đã đề ra 4 vấn đề coi là cần đi sâu nghiên cứu như sau:
- Vấn đề Thục Phán và “nước Thục”.
- Vấn đề thời gian tồn tại của “nước Âu Lạc”.
- Vấn đề biên giới nước Âu Lạc.
- Vấn đề quốc hiệu “Âu Lạc”.
Đây chưa gồm tất cả mọi vấn đề, nhưng chúng ta hãy dựa vào đó sơ
lược điểm lại tình hình nghiên cứu bấy nay để từ đó tiến thêm một bước trong
những ngày tới.
1.1.
Thục Phán và “nước Thục”
Bàn tới vấn đề này tức là bàn tới gốc tích vua Thục, nguồn gốc
nước Thục. Ta đã được đọc những lập luận khác nhau.
a. Thục
Phán phải chăng là người Ba Thục?
Việt sử lược chép sơ sài: “Cuối đời Chu, Hùng Vương bị con vua
Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay. Phán đắp thành ở Việt Thường, xưng hiệu là
An Dương Vương”.
Lĩnh Nam
chích quái ghi:
“Vua An Dương Vương nước Âu Lạc là người Ba Thục, họ Thục tên Phán”.
Những cuốn sử chép sau như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký
tập đại thành, đều cho An Dương Vương có quê hương là Ba Thục ở vùng tỉnh Tứ Xuyên
(Trung Quốc). Gần đây Đào Duy Anh(9), Trần Văn Giáp(10), Văn Tân(11), Đào Tử Khai(12), Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng(13) cũng đều có ý kiến tương
tự về nguồn gốc vua Thục... Có người còn đưa ra giả thuyết về con đường đi từ
Ba Thục đến đất nước ta của vua Thục thời đó. Đào Duy Anh cho rằng: “Thục Phán
hẳn là đi theo con đường xe lửa Điền Việt ngày nay... rồi theo sông Hồng Hà mà
đến đất Lạc Việt”(14). Trần Văn Giáp chủ trương: “Họ
đi từ đất Ba đất Thục tức là Vân Nam, Quý Châu hiện nay xuống đến đất Việt”(15). Đức Phong đoán rằng: “Văn hóa Ba Thục trước khi đi xuống đến
Việt Khê đã từng đi qua vùng Lào Cai, Yên Bái và Phú Thọ ngày nay(16).
b. Thục
Phán phải chăng không có liên quan gì đến Ba Thục?
Việt sử
thông giám cương mục hoài nghi: “Hoặc giả ở ngoài cõi tây bắc giáp liền với nước
Văn Lang có người họ Thục, bèn cho là Thục Vương cũng chưa biết chừng. Nếu bảo
Thục Vương (chỉ Thục Phán) thật lại là người Ba Thục thì không phải”. Trần
Trọng Kim viết: “Chắc hẳn nhà Thục tức là một họ nào độc lập ở gần nước Văn
Lang chứ không phải là nước Thục bên Tàu”(17). Từ Tùng Thạch cũng nêu: “An
Nam lúc đó (tức thời trước Hán) nguyên có hai nước Văn Lang và Ba Thục, không
phải là Ba Thục của Tứ Xuyên”(18). Dư Duy Cương nói rõ: “Còn Thục
Vương chắc là con vua một nước nhỏ xưa ở Việt Nam, không phải là đất Thục ở Tứ
Xuyên, vì trong sách Trung Quốc không ghi chép chuyện ấy”(19).
Lã Văn Lô, qua việc công bố truyền thuyết Chín chúa tranh vua (Cẩu
chủa Cheng vùa)(20), có ý định cho rằng “Thục Phán
là con vua nước Nam Cương” có gốc tích người Tày ở vùng Cao Bằng và Nam Quảng
Tây(21). Giả thuyết này đã thu hút sự
chú ý của một số người nghiên cứu. Văn Tân đã thay đổi ý kiến từ trước của mình
trong cuốn Lịch
sử Việt Nam sơ giản: “Thục Phán là thủ lĩnh của bộ lạc Nam Cương mà địa bàn là
tỉnh Cao Bằng và miền Tây Nam tỉnh Quảng Tây”(22).
Đặng Nghiêm Vạn và Trần Quốc Vượng có ý kiến: “An Dương Vương Thục
Phán là người Tày cổ. “Nước” Thục trong truyền thuyết và thư tịch cổ Việt Nam
không phải là nước Thục ở Tứ Xuyên. Địa bàn của nó chính là miền đất tiếp giáp
giữa Bắc Việt Nam, Quảng Tây và Vân Nam”(23).
Mới đây, Nguyễn Linh đưa giả thuyết: “Nước Thục ở đây là nước Tây
Thục, tức
Ai Lao. Tây Thục ở phía tây bắc nước ta ngày nay”, và cho biết tỉ
mỉ hơn: “Đến đời Hán Minh đế, Ai Lao thuộc hẳn nhà Hán. Hán lấy đất đó chia làm
hai huyện Ai Lao và Bác Nam, sau đổi làm Vĩnh Xương, là châu tự trị Đức Hoằng
thuộc tỉnh Vân Nam hiện nay”(24).
1.2.
Thời gian tồn tại của nước Âu Lạc
a. Thời
gian thành lập nước Âu Lạc
Các sách xưa nhất như Giao Châu ngoại vực ký, Lĩnh Nam chích
quái... chỉ nêu chung chung mà không thấy nói tới năm tháng cụ thể.
Tới Đại
Việt sử ký toàn thư, chúng ta mới thấy ghi rõ rằng: “Giáp Thìn, năm thứ nhất [257
trước Công nguyên] (ngang với Văn Vương nhà Chu năm thứ 58), vua đã kiêm
tính nước Văn Lang, đổi quốc hiệu làm Âu Lạc”. Rồi các quyển sử khác như Đại Việt sử ký thời Tây Sơn, Khâm định Việt
sử thông giám cương mục đều lấy năm 257 trước Công nguyên làm năm khởi đầu của
nhà nước Âu Lạc. Sau này các quyển lịch sử Việt Nam của Trương Vĩnh Ký, Trần
Trọng Kim, Minh Tranh, hoặc một số bài nghiên cứu như “Vài ý kiến qua những di
vật trong mộ cổ Việt Khê” cũng đều thừa nhận niên điểm nói trên.
Niên điểm 257 trước Công nguyên này chưa có cứ liệu đầy đủ thuyết
phục mọi người, do đó nhiều người nghiên cứu đã tỏ ý nghi ngờ. Các học giả
khoảng vài chục năm nay đã xuất phát từ hai sự kiện: sự xâm lược của quân Tần
vào vùng Bách Việt và vị trí quận Tượng, mà có những ý kiến khác nhau.
- Loại ý kiến thứ nhất là lấy việc Tần Nhị Thế bãi binh, Thục Phán
chiếm quận Tượng của nhà Tần mà xác định năm thành lập nước Âu Lạc vào 210
trước Công nguyên. L. Ô-ru-xô viết: “Năm dựng vương quốc Âu Lạc của An Dương
Vương không được biết chính xác, nhưng tất nhiên là phải đặt giữa cái chết của
Tần Thủy Hoàng, năm 210 trước Công nguyên, với sự ra đời của nước Nam Việt, 207
trước Công nguyên”(25).
C. Ma-đron khẳng định hơn: “Nhân khi Tần Thủy Hoàng chết (210
trước Công nguyên), Thục Vương tử kéo vào xứ Lạc Tây Âu phế vua Lạc và một bộ
phận quan lại, đoạn xưng vương”(26). Trần Văn Giáp viết: “Đến năm
210 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng chết... kiến lập nước Âu Lạc”(27).
Những người theo khuynh hướng này cho rằng An Dương Vương cướp đất
quận Tượng của nhà Tần mà dựng nước Âu Lạc, mà quận Tượng thì gồm cả phần Nam
Quảng, phía tây cho tới Quảng Nam nước ta ngày nay.
- Loại ý kiến thứ hai do Đào Duy Anh đề xướng: "Chúng tôi
nhận thấy rằng nước Âu Lạc chỉ có thể xuất hiện sau khi An Dương Vương kháng
chiến thắng lợi đối với quân Tần”(28), tức vào khoảng năm 208 trước
Công nguyên. Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng trong Lịch sử chế độ cộng sản nguyên
thủy Việt Nam cũng theo ý kiến này.
b. Thời gian
kết thúc của nước Âu Lạc
Các cuốn sử xưa nhất không có ghi chép gì cụ thể. Tới Việt sử lược, thì căn cứ vào việc Triệu Đà
xâm lược Âu Lạc mà chép:“Nhà Tần bị diệt [207 trước Công nguyên], Đà gồm chiếm
đất Quế Lâm, quận Tượng, tự lập Nam Việt Vương”. Đại Việt sử ký
toàn thư chép:
“Quý Tỵ, năm thứ 50 [208 trước Công nguyên], Tần Nhị Thế Hồ Hợi năm thứ 2, Nhâm
Ngao ốm sắp chết... Đà đem quân đánh, vua nhảy xuống biển đi mất”, “trở lên là
An Dương Vương [bắt đầu từ năm 257 đến năm 208 trước Công nguyên], cộng năm
mươi năm, từ năm Giáp Thìn đến năm Quý Tỵ” Khâm định Việt sử thông giám cương mục cùng các quyển sử sau này
của Trương Vĩnh Ký, Trần Trọng Kim... đều chép lại như trên.
Một số người vì xuất phát từ nhận định quận Tượng rộng tới vùng
Quảng Nam, nên lấy năm Triệu Đà thôn tính ba quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng làm
năm kết thúc của nước Âu Lạc. L. Ô-ru-xô cho rằng thời gian tồn tại của nước Âu
Lạc “phải đặt giữa cái chết của Tần Thủy Hoàng (210 trước Công nguyên) với sự
ra đời của nước Nam Việt (207 trước Công nguyên)(29). Cl. Ma-đron cũng thống nhất
nhận định như vậy. Trần Văn Giáp có phần hơi khác “Vậy An Dương Vương chỉ làm
vua ở trên đất Tượng, hay đất cũ của Hùng Vương, được từ năm 210 trước Công
nguyên cho đến năm 206 trước Công nguyên là năm đầu thời Hán, tức là sau năm Đà
tự lập làm Nam Việt Vương”(30).
Một số người khác, do xuất phát từ chỗ không cho rằng quận Tượng
bao gồm Giao Chỉ, Cửu Chân, nên phủ nhận sự liên quan giữa việc Triệu Đà xưng
vương với việc kết thúc nước Âu Lạc. Những người này cho rằng phải tới lúc “Cao
Hậu chết [180 trước Công nguyên] tức bãi binh, Đà nhân thế lấy binh lực uy hiếp
biên cảnh, lấy của cải đút lót khiến Mân Việt và Tây Âu Lạc thần phục”(31), thì nước Âu Lạc mới mất. Đào Duy Anh chủ trương: “Vậy chúng
ta cứ theo Sử ký mà đặt việc nước Âu Lạc bị Triệu Đà chiếm vào sau khi Cao Hậu
chết, tức là sau năm 180 trước Công nguyên, có thể là vào năm 179 trước Công
nguyên”(32). Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng
trong Lịch sử chế độ cộng sản nguyên thủy Việt Nam cũng theo ý kiến này. Văn
Tân viết: “Nhân được rảnh tay ở phía bắc, vào khoảng năm 179 trước Công nguyên
Triệu Đà xuống phía nam thôn tính nước Âu Lạc”(33).
Tóm lại về tuổi thọ của nước Âu Lạc, có những ý kiến như sau:
- 50 năm (từ năm 257 đến năm 208 trước Công nguyên).
- 30 năm (từ năm 208 đến năm 179 trước Công nguyên).
- 4 năm hoặc 5 năm (từ năn 210 đến năm 207 trước Công nguyên).
1.3.
Biên giới nước Âu Lạc.
a. “Nước Thục” trước khi Thục Phán dựng nước Âu Lạc
Bộ tộc Thục là một bộ tộc ở miền đông bắc. Chúng ta gặp ý kiến này
trong cuốn Sơ
thảo lược sử Việt Nam của Minh Tranh in năm 1955.
Đào Duy Anh quy định bộ tộc Thục ở vùng tây bắc trung du Bắc Bộ:
“Chúng tôi đoán là bộ lạc Tây Vu, một bộ lạc lớn nằm ở phía tây bắc trung du
Bắc Bộ...” “Huyện Tây Vu là một huyện rộng nằm vắt ngang trên tả ngạn và hữu
ngạn sông Hồng, phía tây từ trung lưu sông Đà, phía đông tiếp giáp núi Tam Đảo
và sông Lô. Chúng tôi suy đoán rằng bộ lạc Tây Vu mà hậu duệ của Thục Vương
chiếm được là tương đương với địa phận huyện Tây Vu như trên”(34); năm 1967, Đào Duy Anh cố thay đổi ý kiến một chút, cho rằng
“huyện Tây Vu có lẽ tương đương với miền đất ở giữa sông Cầu và sông Cà Lồ,
cùng là lưu vực sông Lô, sông Gâm, sông Chảy...”(35) Trần Quốc Vượng và Hà Văn
Tấn cũng theo ý kiến này.
Lã Văn Lô dựa vào truyền thuyết “Chín chúa tranh vua”, cho rằng bộ
tộc Thục gốc ở mạn Cao Bằng và Tây Nam Quảng Tây.
Vân Tân cho rằng “Căn cứ của Thục Phán chủ yếu là ở miền Tây Vu
tức miền Hà Giang, Tuyên Quang ngày nay, nơi có nhiều mỏ đồng nhất Việt Nam”(36).
Nguyễn Linh vừa đưa ra giả thuyết nước Thục là nước Tây Thục ở
phía tây bắc nước ta ngày nay(37).
Như vậy ngoài vùng Tứ Xuyên, người ta đã đi tìm nơi chôn rau cắt
rốn của vua Thục ở những miền Vân Nam, đông bắc, tây bắc trung du Bắc Bộ, Cao
Bằng và Nam Quảng Tây, Hà Giang và Tuyên Quang.
b. Cương
vực nước Âu Lạc sau khi thành lập
Đào Duy Anh cho rằng nước Âu Lạc bao gồm một phần đất miền Nam
Quảng Tây, Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Ý kiến Văn Tân hơi khác: nước Âu Lạc bao gồm
Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và miền Tây Nam Quảng Tây.
L. Ô-ru-xô vẽ một bản đồ lớn hơn: “Tây Âu ở Tây Nam Quảng Đông,
Nam Quảng Tây, đồng bằng Bắc Bộ, miền Trung và Bắc Trung Bộ”(38).
Ngược lại, Lê Trọng Khánh thu hẹp bản đồ Âu Lạc: “Phạm vi cai trị của
An Dương Vương là gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ”(39).
Cl. Ma-đron thì giải thích Âu Lạc là tên của vùng Bắc Kỳ thời
vương quốc Lạc(40).
1.4.
Quốc hiệu “Âu Lạc”
Vì những điều ghi chép và chú giải của các bộ sử và địa chí có có
khác nhau, nên đã gây ra sự bất đồng trong các ý kiến giải thích của những
người nghiên cứu tiếp sau về tên nước “Âu Lạc” của Thục Phán.
Ô-ru-xô cho rằng Âu Lạc có nghĩa là người Lạc ở xứ Âu, Tây Âu Lạc
là Âu Lạc miền tây(41).
Với Cl. Ma-đron, theo chúng tôi nghĩ, bằng một cách quá dễ
dãi, đá gán cho tên “Âu Lạc” một ý nghĩa là xứ Lạc có hình cái “âu” giống như
địa thế Bắc Kỳ(42).
Đào Duy Anh cho rằng Âu Lạc là tên của hai bộ lạc Tây Âu và Lạc
Việt hợp thành, và giải thích: “Chữ Âu là xuất tự Tây Âu, chữ Lạc là xuất tự
Lạc Việt”. “Sau khi lãnh đạo người Lạc Việt và một phần người Tây Âu đánh thắng
được quân nhà Tần xâm lược đất Bách Việt trong khoảng cuối thế kỷ thứ 3 trước
Công nguyên, An Dương Vương hợp các bộ lạc Lạc Việt và Tây Âu đã theo mình
chiến đấu thành nước Âu Lạc”. “Chúng tôi đoán rằng cuộc hôn nhân giữa Lạc Long
Quân và Âu Cơ, là khơi điểm của truyền thuyết con Rồng cháu Tiên, chính là phản
ánh sự đoàn kết giữa thành phần Lạc ở biển và thành phần Âu ở núi mà thành nước
Âu Lạc”(43).
Ngoài ra Dư Duy Cương còn có ý kiến gọi tên nước Âu Lạc là “nước
An Dương”(44), và Lã Văn Lô gọi tên nước này
là “nước Nam Cương”.
Chỉ mới điểm qua những ý kiến quanh mấy vấn đề trên, được đề ra
trong bước đầu nghiên cứu, chúng ta đã thấy rõ rằng cho tới nay, ta vẫn chưa có
trong tay một bản lý lịch thống nhất về vua Thục, dù chỉ là trên những nét lớn.
Nếu chúng ta tập hợp những ý kiến nghiên cứu về các mặt chế độ, tổ chức xã hội,
tình hình kinh tế, phong tục, tín ngưỡng... thì cũng gặp tình hình không thống
nhất như trên. Chúng ta cũng có thể liên hệ thời kỳ lịch sử này với thời kỳ
lịch sử Hùng Vương, mà đây là giai đoạn trực tiếp nối theo, để đánh giá vai trò
của những tư liệu khảo cổ học. Đối với thời kỳ lịch sử Hùng Vương, Thủ tướng
Phạm Văn Đồng đã nói về khảo cổ học: “Đề tài mà chúng ta nghiên cứu, những câu
hỏi mà chúng ta đòi trả lời, tất cả những câu này phần lớn thuộc phạm vi trách
nhiệm của ngành khảo cổ, vì một lẽ rất đơn giản là ta nghiên cứu về một thời
gian lịch sử mà không thể nào tìm thấy trong sách vở. Sách vở thì chắc các đồng
chí biết hết rồi, cũng có thể rồi đây có những sách vở ta chưa biết, trong đó
có những chỗ nói đến đề tài của chúng ta. Nhưng tôi chắc chẳng có bao nhiêu!
Còn về tài liệu mà chúng ta có thể tìm hiểu trong dân gian, thì còn có khả năng
và có thể có những khả năng tốt, quý báu. Các ngành có liên quan như dân tộc
học, nhân chủng học, ngôn ngữ học. và các ngành khoa học xã hội khác tất nhiên
phải hết sức khai thác tất cả khả năng của ngành mình, xem nó có thể mang lại
cho chúng ta những cái gì. Tôi nói có thể mang lại cho chúng ta những cái gì.
Tôi nói có thể có những cái rất hay, rất quý, nhưng cũng chừng nào thôi”(45).
Dù thời gian tồn tại ngắn ngủi của thời kỳ lịch sử An Dương Vương
có thể không để lại cho chúng ta nhiều di chỉ khảo cổ học phong phú như thời kỳ
lịch sử Hùng Vương, nhưng cùng thuộc thời sơ sử, tài liệu thành văn thiếu thốn,
thì những tư liệu khảo cổ học càng rõ ràng là vô cùng quý báu và nhiệm vụ cung
cấp những tư liệu khảo cổ học cho việc nghiên cứu thời kỳ lịch sử này là một
nhiệm vụ rất quan trọng.
2.
Phương hướng nghiên cứu hiện nay
Cũng như thời kỳ lịch sử Hùng Vương, thời kỳ lịch sử An Dương
Vương và nước Âu Lạc vẫn còn ở trong giai đoạn mà tư liệu lịch sử thành văn rất
nghèo nàn, truyền thuyết dân gian dù được tiếp tục sưu tầm có thể có thêm nhiều
hơn nữa, nhưng vẫn chưa đủ để giải quyết vấn đề.
Với phương châm đoàn kết rộng rãi, hợp tác xã hội chủ nghĩa chặt
chẽ, bằng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, phát huy khả năng đóng góp của tất
cả các ngành có liên quan như sử học, dân tộc học, ngôn ngữ học, văn học dân
gian, nhân chủng học, địa chất học, địa lý lịch sử, lấy khảo cổ học làm chính,
chúng ta đã thu được kết quả khả quan trong việc nghiên cứu thời kỳ lịch sử
Hùng Vương. Đối vời thời kỳ lịch sử An Dương Vương, phương châm và phương pháp
trên cũng rất thích hợp và cần thiết.
Trong bài nói tại Hội nghị bàn việc nghiên cứu thời lịch sử Hùng
Vương ngày 16/12/1968, Thủ tướng Phạm Văn Đồng còn chỉ rõ: "Như vậy thì để
giải quyết vấn đề mà chúng ta muốn giải quyết về cái thời gian lịch sử mấy
nghìn năm đó thì chỉ còn một nguồn gốc, là những di tích của những người xưa
trên đất này đã để lại, chôn vùi dưới đất. Phải nói lại điều này, dù nó rất thô
sơ, để chúng ta đánh giá một cách cơ bản, rất đúng mức, tầm quan trọng của khảo
cổ học”(46).
Có phương châm, phương pháp đúng đắn rồi, chúng ta vẫn cần trao
đổi ý kiến để xác định những hướng nghiên cứu sao cho có thể thu được kết quả
nhanh nhất và lớn nhất. Dù cùng trong một “thời đại bắt đầu dựng nước và giữ
nước”, mỗi thời kỳ nhiều ít vẫn có những cái riêng. Từ những cái riêng của thời
kỳ lịch sử An Dương Vương, xin đề nghị mấy phương hướng nghiên cứu sau đây:
2.1.
Nên đặt cả hai thời kỳ Hùng Vương và An Dương Vương nằm chung trong thời đại
“bắt đầu dựng nước và giữ nước”
Đề tài nghiên cứu trọng tâm trong ba năm 1968 - 1970 của Viện Khảo
cổ học đã được Nhà nước duyệt và được đông đảo cán bộ nghiên cứu thuộc các
ngành có liên quan tham gia, là “Thời kỳ lịch sử Hùng Vương và An Dương Vương”.
Việc mở hai hội nghị nghiên cứu riêng về thời kỳ Hùng Vương, với
những bước công tác tuần tự có kế hoạch trong hai năm 1968 và 1969 vừa qua là
rất đúng. Nhưng một khi tất cả mọi vấn đề, mọi khía cạnh đã được nhiều người sơ
bộ xới lên, và một khi gần trăm bài phát biếu đã nhất trí xác minh thời kỳ lịch
sử “bắt đầu dựng nước và giữ nước”, thì mọi người đều đã lại thấy cần phải quy
tụ vào một số chuyên đề lớn để tập trung sức đi sâu giải quyết. Tình hình tài
liệu cũng cho phép khẳng định rằng, những vấn đề đó hiện đã có điều kiện để
giải quyết tốt. Cuộc họp đại diện các cơ quan vụ, viện, trường đại học quan tâm
đến vấn đề Hùng Vương - An Dương Vương do Viện Khảo cổ học triệu tập ngày
01/9/1969 vừa rồi đã ghi sáu chuyên đề để tiến hành nghiên cứu, trong đó vấn đề
thứ sáu là thời kỳ An Dương Vương và mối quan hệ của nó với thời kỳ Hùng Vương.
Rõ ràng công việc tiến hành bấy lâu của chúng ta không hề mang theo ý nghĩa là
khi đã giải quyết xong vấn đề Hùng Vương mới bắt tay giải quyết vấn đề An Dương
Vương. Trong hai hội nghị nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương, chúng ta đã được
nghe một số bài phát biểu về vấn đề An Dương Vương, như bài Sơ kỳ thời đại
Sắt ở nước ta và vấn đề Hùng Vương - An Dương Vương(47); Bàn
về nước Thục của Thục Phán(48). Nhiều bài khác hoặc ít hoặc
nhiều, khi bàn tới những vấn đề cuối thời Hùng Vương đã không tách quan hệ ràng
buộc của thời kỳ này với thời kỳ An Dương Vương liền sau. Cứ lý mà suy, một
thời kỳ lịch sử 50 năm, với tốc độ phát triển của thời sơ sử, chắc không thể
tạo nên những thay đổi lớn lao về mặt vật chất của xã hội. Người cán bộ nghiên
cứu khảo cổ thật khó mà tách rành rọt những di vật thuộc “văn hóa Hùng Vương”
và “văn hóa An Dương Vương”. Khi phát hiện được dấu vết sắt trong di chỉ Đường
Mây, một di chỉ nằm ngay dưới vách vòng ngoài thành Cổ Loa, có ý kiến cho rằng
thuộc cuối thời Hùng Vương và thuộc thời Sắt sớm; những di vật ở đây là sản
phẩm của dân nước Văn Lang khi họ bị vua Thục dồn đi nơi khác đề đắp thành Cổ
Loa. Như vậy thời đại sắt không những bao gồm cả thời kỳ lịch sử An Dương Vương
mà còn “gối đầu” lên cả thời trước nó - chưa rõ tới đâu - ít nhất là giai đoạn
cuối của thời kỳ lịch sử Hùng Vương. Các nhà nghiên cứu thời đại Sắt ở Việt Nam
chắc hẳn cũng không muốn tách riêng hai thời kỳ lịch sử Hùng Vương và An Dương
Vương.
2.2.
Cổ Loa chỉ là một địa điểm phải được nghiên cứu
Riêng giới khảo cổ học bấy nay khi nói tới thời kỳ lịch sử Thục An
Dương Vương và nước Âu Lạc, người ta thường chỉ hay nói tới khu vực thành Cổ
Loa với những di chỉ khá phong phú của nó. Mấy năm nay, công tác khai quật khảo
cổ học tiến hành tương đối mạnh mẽ, nhưng đối với tất cả những di chỉ trước
thời thuộc Hán ở khắp nơi ngoài Cổ Loa dù rất muộn, người cán bộ khảo cổ cũng
chỉ mới hướng suy nghĩ của mình vào niên đại cuối thời kỳ Hùng Vương. Tất nhiên
chúng ta không muốn quy định cho tất cả những gì thuộc thời kỳ An Dương Vương
một địa bàn phân bố vẻn vẹn trong khu vực Cổ Loa và một số vùng quanh đó, nhưng
rõ ràng kế hoạch công tác của chúng ta và sự thực hiện nó trong nhiều năm nay
vẫn chưa bao quát nổi nội dung của thời kỳ lịch sử này.
Thư tịch cổ và truyền thuyết dân gian cùng một số di tích đình,
miếu đã gợi ý cho chúng ta một địa bàn công tác khá rộng lớn.
Đại Việt
sử ký toàn thư cho rằng An Dương Vương quê ở Ba Thục. Đại Việt sử ký, Việt sử thông
giám cương mục và một số bài nghiên cứu sau này đã đưa ra những giả
thuyết khác, tuy vậy mọi lý lẽ vẫn còn hạn chế trong phạm vi nghiên cứu thư
tịch.
Gần đây nhất, Nguyễn Linh đã đưa ra ý kiến cho rằng nước Thục tức
nước Tây Thục (tức Ai Lao) ở phía tây bắc nước ta ngày nay, dân cư là người
Bộc, người Lao cũng thuộc chi hệ của người Bách Việt và gần gũi với những tộc
người khác thuộc nhóm Bách Việt về nhiều nét; cuối thời các vua Hùng, Thục Phán
đã từ đây mà xuống xâm lược, diệt nước Văn Lang. Tác giả còn nói rõ: “Nước Tây
Thục (Ai Lao) ở sát nước ta về phía tây bắc. Nó nằm trên trục giao thông chủ
yếu của nước ta với miền tây nam di là thung lũng sông Hồng, sông Lô. Tây Thục
cũng lại là một trạm trung gian trên con đường giao thông quốc tế thời cổ giữa
Trung Quốc với các nước phía tây như Ấn Độ cổ đại... Có thể nói Tây Thục là
chiếc cầu nối nước ta với miền tây nam di và các nước thuộc văn hóa Ấn Độ”(49).
Địa bàn gốc của các thuyết trên đây là ở nước bạn, song trong điều
kiện hiện nay, việc chúng ta có thể và cần làm ngay, là tiếp tục nghiên cứu thư
tịch cổ của ta và bạn, đi sâu nghiên cứu những tư liệu khảo cổ phát hiện tại
các vùng Tứ Xuyên, Vân Nam đã công bố trên các tạp chí, sách báo nước bạn. Một
việc nữa có thể đem lại hiệu quả tốt, là lần theo vết di chuyển của người Thục
trong quá trình xuống đánh nước Văn Lang, chắc chẳng nhiều thì ít cũng có thể
tìm thấy những di vật của người Thục, và những hiện vật khảo cổ sẽ đóng vai trò
vô cùng quan trọng trong việc xác minh các thuyết nói trên. Nếu không làm được
việc này thì chúng ta vẫn chỉ giẫm chân tại chỗ ở mức bàn cãi quanh thư tịch mà
thôi.
Vua Thục có phải vốn là người Tày “nước Nam Cương” với địa bàn chủ
yếu là tỉnh Cao Bằng và vùng tây nam tỉnh Quảng Tây ngày nay không? Thuyết này,
với câu chuyện “chín chúa tranh vua”, đã có lúc hấp dẫn khá nhiều người nghiên
cứu. Trân trọng mọi sự góp ý có ý nghĩa, Viện Khảo cổ học đã đi điều tra, tìm
kiếm tại mấy huyện Hòa An, Phục Hòa, Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng từ 24/7 đến
31/8/1969, những mong tìm thêm tư liệu để nghiên cứu giả thuyết này. Tuy rằng
cuộc điều tra vừa qua chưa tìm được thêm tư liệu giúp soi sáng vấn đề, nhưng
việc tổ chức ít nhất một cuộc điều tra kỹ càng hơn nữa cả về mặt khảo cổ học
lẫn mặt dân tộc học, vẫn là cần thiết.
Huyện Diễn Châu (Nghệ An) còn một ngôi đền thờ An Dương Vương.
Vùng này chúng ta cũng đã chú ý tới. Trong cuộc điều tra hồi tháng 6/1969, cán
bộ Viện Khảo cổ học đã gặp đền thờ Mỵ Châu - Trọng Thủy với cây đa giếng ngọc
tại xã Hải Thượng, huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa). Cũng ở đây, cán bộ Ty Văn hóa
Thanh Hóa đã tìm thấy sáu mũi tên đồng ba cạnh giống như tên đồng Cổ Loa. Ở đây
cũng còn lưu truyền khá nhiều truyền thuyết về An Dương Vương và Mỵ Châu -
Trọng Thủy.
Như vậy, rõ ràng trong việc nghiên cứu nước Âu Lạc, ngoài vùng Cổ
Loa còn phải tìm hiểu thêm những địa điểm khác ở xa Cổ Loa.
2.3.
Tuy nhiên, Cổ Loa vẫn là một địa điểm quan trọng cần nghiên cứu kỹ
Cho đến nay, chúng ta đã thu thập được khá nhiều tư liệu trực tiếp
liên quan tới thời kỳ lịch sử nước Âu Lạc trên mảnh đất Cổ Loa lịch sử. Có thể
nói mỗi đợt công tác trên mảnh đất này, ta lại có một thu hoạch mới. Thực tế đó
khiến chúng ta càng phải đánh giá đúng mức tầm quan trọng của khu di tích Cổ
Loa.
Ba vòng thành Cổ Loa với chiều dài tới hơn 16km quanh co bao bọc
lẫn nhau rất dễ khiến người ta chấp nhận truyền thuyết Loa Thành hình xoáy ốc
của vua Thục xưa. Những hỏa hồi, những lũy phòng vệ, những gò phòng ngự, những
lớp hào thành... vẽ nên một vị trí vô cùng hiểm trở, kín đáo làm cho quân Triệu
Đà không sao dùng sức mạnh phá nổi. Trong phạm vi ba vòng thành tập trung đông
đặc những di tích đình miếu trực tiếp liên quan tới vua Thục như đền Thượng thờ
An Dương Vương, nhà bia, giếng Trọng Thủy, am thờ Mỵ Châu, nhà Ngự triều di
quy, miếu thờ thần Kim Quy, miếu cửa Trấn Nam. miếu cửa tây nam, miếu cửa tây
bắc và hàng loạt đình chùa khác. Cũng trong thành, người ta còn gặp những giếng
cổ khuôn đất nung - phải chăng đây là di vật chứng minh trong xã hội thời đó đã
có một giai cấp thống trị ở nhà ngói ăn nước giếng khơi? Người ta còn gặp Ngự
xạ đài, nơi xưa vua Thục ra xem đội quân trang bị loại nỏ "linh quang quy
trảo thần nỏ” diễn tập.
Ngoài ba vòng thành, có nhiều xóm làng mang tên rất đẹp, mỗi tên
đều gắn bó với truyền thuyết về thời kỳ này. Làng Tiên Hội là nơi các nàng tiên
hội họp tại đó gánh đất giúp vua Thục đắp thành, và dọc hai bên đường từ Tiên
Hội về Cổ Loa, hàng loạt gò đống được truyền thuyết giải thích là đất từ những
sọt đất của các nàng tiên rơi xuống. Đầm Rơi (cách Cổ Loa chừng 4km) là điểm
rơi của phát tên thứ nhất khi vua Thục thử nỏ thần, điểm rơi của những phát thứ
hai, thứ ba,... thứ sáu,... là những làng Uy Nỗ, Oai Nỗ, Cường Nỗ, Kim Nỗ...,
và điểm rơi của phát cuối cùng là làng Hạ Nỗ ngày nay (cách Cổ Loa hơn 10km).
Chúng ta còn được thấy ở Cổ Loa những phong tục, tín ngưỡng có
quan hệ chặt chẽ với truyền thuyết dân gian: Tục “rước vua sống” hàng năm(50), kiêng nuôi gà trắng(51), kiêng tên Phán (gọi chệch ra
Phởn)(52), kiêng tên Nồi (gọi khác đi là
Niêu)(53)...
Về mặt khảo cổ học, chúng ta đã tìm thấy di chỉ Đồng Vông có niên
đại tương đương với di chi Phùng Nguyên, di chỉ Đình Chàng, Bãi Mèn thuộc thời
đại Đồng, di chỉ Đường Mây thuộc thời đại Sắt sớm. Chúng ta đã tìm thấy kho mũi
tên đồng hàng vạn chiếc ở Cầu Vực, lưỡi cày đồng ở xóm Nhồi, núm hình chim của
một nắp đồ đồng ở Bãi Táo (Mạch Tràng) và hàng loạt mộ gạch cổ, nhiều gạch cổ,
ngói ống, đầu ngói ống, ngói bản cổ. Những di chỉ khảo cổ đó đã chứng minh sự
có mặt của con người suốt từ thời “tiền Hùng Vương” cho tới những năm thuộc
Hán (không kể những thời sau nữa), tất nhiên trong đó có 50 năm thời kỳ
lịch sử An Dương Vương.
Cổ Loa là quốc đô của vua Thục, tất nhiên Cổ Loa phải chứa đựng
tất cả những gì tiêu biểu nhất cho nền văn hóa đương thời mà bất cứ một nơi nào
đều khổng thể có đủ, phải tập trung với mức độ cao nhất những di vật đương thời
mà cũng không một nơi nào sánh kịp.
Ít lâu nay, chúng ta đã liên tục điều tra và khai quật tại Cổ Loa,
nhưng nói cho đúng mới chỉ là đào thám sát. Chúng ta mới đào gần l.000m2 nhưng lẻ tẻ mỗi nơi một ít, hơn nữa lại là mỗi cơ quan đào một ít
theo kế hoạch riêng của mình. Công tác khảo cổ tiến hành còn ít, tư liệu còn
tản mạn, cho nên việc nghiên cứu và hiểu biết của chúng ta về cố đô vua Thục
còn bị hạn chế. Muốn đạt kết quả tốt trong việc nghiên cứu thời kỳ lịch sử An
Dương Vương và nước Âu Lạc, không thể không tiếp tục điều tra và khai quật với
quy mô lớn hơn khu vực Cổ Loa, mà cách lý tưởng nhất là khai quật toàn bộ những
di chỉ liên quan tới thời kỳ lịch sử này. Điều rất quan trọng, lá tổ chức hợp
tác rộng rãi và chặt chẽ, tổ chức nghiên cứu theo một kế hoạch thống nhất có
chỉ đạo tập trung. Tập trung chỉ đạo và thống nhất kế hoạch còn giải quyết được
cả việc kết hợp chặt chẽ giữa công tác khai quật nghiên cứu và công tác bảo tồn
bảo tàng, đồng thời cũng giải quyết tốt việc kết hợp đúng đắn yêu cầu của công
tác khảo cổ và yêu cầu của sản xuất và xây dựng cơ bản ở địa phương. Hiện tượng
nhiều nơi thuộc khu di chỉ Đồng Vông bị san lấp khiến chúng ta phải suy nghĩ để
làm cho tốt việc bảo vệ những di chỉ khảo cổ.
2.4.
Ngành dân tộc học có vai trò khá quan trọng
Trong một giai đoạn lịch sử ngắn ngùi khoảng 50 năm - nếu là 5 năm
hay 3 năm thì lại càng như vậy - với trình độ phát triển sản xuất bằng những
công cụ sắt buổi mới ra đời, lại liên tục có chiến tranh trong một số năm, thì
khó có khả năng ở đây có nhiều thay đổi lớn lao về mặt văn hóa vật chất. Đáng
chú ý hơn nữa, những di tồn ít ỏi của thời kỳ đó chịu sự đổi thay của một thời
gian dài tới hơn 2.000 năm, chịu sự phá hoại của con người thuộc bao thời đại
kế tiếp, càng khó phản ánh đầy đủ bộ mặt xã hội đương thời. Ở trường hợp này,
ngành dân tộc học cần phát huy khả năng của mình trong việc cung cấp tư liệu
cho công tác nghiên cứu lịch sử.
Tuy chưa nhiều lắm, nhưng cũng đã có một số ý kiến về dân tộc học
phát biểu quanh chuyện vua Thục, Cổ Loa và nước Âu Lạc. Phải chăng câu chuyện
rắc lông ngỗng của Mỵ Châu bắt nguồn từ truyền thuyết của người Choang? Chuyện
này có quan hệ gì không với truyền thuyết áo lông chim của người Tày Nùng hoặc
tục dùng lông ngỗng làm chăn áo ở vùng Nam Trung Quốc?
Rùa là vật tổ của người Tày Thái; hiện nay ở người Tày Thái còn
tồn tại một cách phổ biến tục thờ rùa, và còn lưu hành truyền thuyết rùa dạy
làm nhà, rùa giúp người chống ma quỷ. Con rùa của người Tày Thải phải chăng
cũng là "thần rùa” đã giúp An Dương Vương đắp Loa Thành?
Chúng ta cũng gặp những tên đất không có nghĩa trong tiếng Kinh,
nhưng lại có nghĩa gắn bó với cố đô vua Thục trong tiếng Tày, ví như làng Viềng
(tiếng Tày “Viềng” là “thành”). Tư liệu này khiến ta nghĩ rằng có thể từ rất
xưa người Tày đã có mặt trên vùng đất Cổ Loa.
Những ý kiến về mặt dân tộc học tuy còn ít nhưng đã góp được nhiều
ý đáng kể vào việc soi sáng thời kỳ lịch sử An Dương Vương.
2.5.
Chồi Âu Lạc mọc từ gốc Văn Lang
Sử thành văn cũng như truyền thuyết đều chỉ nói tới một lần chiến
tranh giữa vua Thục và vua Hùng và khi nước Văn Lang bị diệt, nước Âu Lạc thành
lập thì người dân Âu Lạc lại tiếp tục nhịp độ sản xuất bình thường, cho tới khi
xảy ra cuộc xâm lược của Triệu Đà, và họ lại đã cùng nhau chống ngoại xâm cho tới
ngày bị mất nước. Phải chăng cuộc chiến tranh Thục - Hùng và sự thành lập nước
Âu Lạc chỉ là sự sáp nhập phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử của hai
bộ tộc láng giềng trong quá trình hình thành dân tộc Việt Nam? phải chăng quan
hệ Thục - Hùng không phải là quan hệ cướp nước và mất nước? Quan hệ giữa người
dân Âu và người dân Lạc - nếu ta thừa nhận tên Âu Lạc là tên nước chung của hai
bộ tộc Âu và Lạc khi đã sáp nhập làm một - phải chăng không phải là quan hệ
thống trị và bị thống trị?
Người cán bộ khảo cổ trong khi đi tìm đặc điểm văn hóa vật chất
thời kỳ An Dương Vương tất không thể bỏ qua những điều kiện phát triển của lịch
sử đương thời. Kết quả những cuộc khai quật vừa qua ít nhất cũng cho phép chúng
ta khẳng định lãnh thổ nước Văn Lang là ở những vùng trung du và đồng bằng Bắc
Bộ phì nhiêu, và “nền văn hóa Hùng Vương tỏ ra có những nét đặc sắc độc đáo,
thì đỉnh cao của sự phát triển đó phải nói là ở một trình độ cao”(54).
Nhiều di chỉ khảo cổ học như Đường Mây, Đường Cồ, Nam Chính... mà
chúng ta xếp vào niên đại “Hùng Vương muộn" đã bước sang thời đại Sắt. Như
vậy, nói rằng ngựa sắt, kiếm sắt trong truyền thuyết Thánh Gióng và lưới sắt
trong truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh phản ánh sự xuất hiện sắt kể cũng
không có gì sai ngoa cho lắm.
Lãnh thổ nước Văn Lang của dân Lạc như vậy, tất địa bàn hoạt động
của dân Âu phải ít nhất là ở quanh nó về phía đông bắc, bắc hoặc tây bắc, nghĩa
là những vùng tới nay vẫn còn là rừng núi hiểm trở. Khi đã sáp nhập thành một
nước, người Âu có thể mang kỹ thuật làm gạch ngói tới truyền bá cho người Lạc
vốn quen ở nhà sàn nhưng ngược lại, người Lạc có thể mang tới kỹ thuật cung nỏ
vốn dùng ở vùng thạo nghề sông nước, và cả hai yếu tố đó đã kết hợp thành một
tinh túy quân sự vừa giỏi đánh bộ vừa tài đánh thủy. Điều này cũng cần phải
bàn, vì ở những di chỉ sớm thuộc thời Hùng Vương, thậm chí “tiền Hùng Vươmg”
chúng ta cũng đã thấy những đầu mũi tên đồng. Có chăng ở thời An Dương Vương
chỉ là sự cải tiến kỹ thuật dùng nỏ đã có sẵn từ thời Hùng Vương - những đặc
điểm văn hóa của hai dân Âu và Lạc chắc vốn có nhiều điểm tương đồng.
Di chỉ Đường Mây nằm ngay dưới lớp tường thành Ngoại Cổ Loa. Nếu
tường thành này là của thời Hán thì Đường Mây có thể là văn hóa thời An Dương
Vương. Nếu là tường thành do tay vua Thục xây đắp thì Đường Mây là văn hóa của
thời cuối các vua Hùng. Truyền thuyết kể rằng vua Thục khi xây thành đã dồn dân
đi nơi khác(55). Người dân Lạc ngày xưa bị dồn
đi đã để lại dưới tường thành những đồ gốm, đồ đá, mũi tên đồng và dấu vết sắt.
Tới những nơi khác gần đó, trong những năm vua Thục trị vì, chắc họ vẫn theo
nếp cũ tiếp tục sản xuất những mũi tên, đồ gốm, đồ đá như tại Đường Mây. Kỹ
thuật tuy có tiến bộ dần và có thể có thay đổi một khi đã tiếp thu tinh hoa của
“văn hóa Âu”, nhưng như trên đã nói, 50 năm chắc chưa đủ để thay đổi hẳn những
đặc điểm cũ. Vậy với một sự “sai số” chút ít, ta có thể, trước mắt, tìm ở những
di vật Đường Mây những đặc điểm văn hóa thời vua Thục, bởi lẽ cư dân Đường Mây
sau đó vẫn là dân nước Âu Lạc và là người sáng tạo nên văn hóa Âu Lạc.
Vua Thục thay thế vua Hùng cai quản một nước gồm địa bàn cũ của
người Âu và cả lãnh thổ của vua Hùng với tất cả những người dân Lạc sinh sống
trên đó. Như vậy trong văn hóa Âu Lạc tất phải có thành phần Lạc, một thành
phần có rễ sâu gốc bền trong một quá trình phát triển liên tục dài hàng 2.000
năm và trên một miền đất phần lớn là trung du và đồng bằng phì nhiêu. Vậy dù do
một lý do nào đó người Âu đã chiến thắng về mặt quân sự thì trong quá trình
sống chung trong một nước “kẻ chinh phục” sẽ dần trờ thành “kẻ bị chinh phục”.
Một điều đáng chú ý là về mặt khảo cổ học, chúng ta đã tìm thấy
hàng loạt di chỉ có niên đại giáp ranh thời thuộc Hán, cách Cổ Loa một vài chục
ki lô mét mà chúng ta tạm gọi là di chỉ “Hùng Vương muộn” hoặc “cuối Hùng
Vương”. Phải chăng đó là những di chỉ hình thành trong những năm Vua Thục hoặc
hình thành trong thời gian dài hơn, từ cuối thời Hùng Vương cho tới suốt thời
Vua Thục? Thực tế công tác mấy năm gần đây khiến chúng ta phải chú ý tới những
di chỉ tạm gọi là “Hùng Vương muộn” trong khi tìm hiểu những đặc điểm của văn
hóa Âu Lạc.
Người Âu và người Lạc, từ chỗ là hai bộ tộc láng giềng vốn có
nhiều quan hệ qua lại và những điểm tương đồng trong văn hóa, tới chỗ sáp nhập
và trờ thành anh em một nhà từng kề vai sát cánh chống ách xâm lược của họ
Triệu, đã tiếp thu ảnh hưởng của nhau một cách dễ dàng, nhanh chóng, bởi vì vốn
tính chất của hai văn hóa Âu và Lạc là “đại đồng tiểu dị”. Điều này hoàn toàn
không thể có trong thời thuộc Hán sau này, cả nghìn năm Bắc thuộc, văn hóa
Hán đã ồ ạt tràn sang Việt Nam. Dù hai văn hóa Hán và Việt, có chung một đặc
điểm là “văn hóa phương Đông”, nhưng không phải người Việt đã tiếp nhận tất cả
những gì thuộc văn hóa Hán. Ở thời kỳ lịch sử Thục An Dương Vương, sự giao lưu
văn hóa giữa phương Bắc và phương Nam tuy đã có, nhưng chưa thật phát triển.
Ngay trên lãnh thổ Trung Quốc, sự khác biệt bắc nam cũng còn rất rõ nét. Chúng
tôi nghĩ rằng muốn tìm văn hóa thời vua Thục thì hãy tìm ngay trên cơ sở của
văn hóa Hùng Vương, “một nền văn hóa đã trải qua một quá trình phát triển lâu
dài, từ thấp lên cao... một nền văn hóa bản địa không phải từ đầu mang đến, mà
nảy sinh tại chỗ, tiến lên dần, do chính ông cha ta sáng tạo ra và xây dựng lên
dần”(56).
Văn hóa Âu Lạc phải là văn hóa Văn Lang đã phát triển tới một
chừng mực nhất định, vì một lẽ giản đơn là người sáng tạo ra nó, liền trước đó,
đã sáng tạo ra văn hóa Văn Lang độc đáo và rực rỡ.
Chú thích
(1) Đó là ý kiến chủ đạo của đề tài nghiên cứu khoa học trọng tâm
của Viện Khảo cổ học trong kế hoạch 3 năm 1968 - 1970. Xem thêm Nguyễn Khánh
Toàn: Vài gợi ý về việc biên soạn cuốn sử Việt Nam - Khảo cổ học, Hà Nội, số 1,
tháng 6/1969: 25.
(2) H. Ma-xpê-rô 1918. Vương quốc Văn Lang (chữ Pháp). Tập san
Trường Viễn Đông Bác cổ, Hà Nội, tập 3: 1-10.
(3) Trần Trọng Kim 1928. Việt Nam sử lược: 3.
(4) Ngô Tất Tố 1939. Tao đàn, số 3, ngày 13/4/1939.
(5) Nguyễn Văn Siêu: Phương Đinh mạn hứng (Ngô Tất Tố dịch).
(6) Nguyễn Phương 1965. Lịch sử Lạc Việt - Bách khoa thời đại, Sài
Gòn, số 198, ngày 1/4/1965.
(7) L. Ô-ru-xô 1923. Cuộc chinh phục An Nam lần thứ nhất của người
Trung Hoa (chữ Pháp). Tập san Trường Viễn Đông Bác cổ, Hà Nội.
Cl. Ma-đron 1937. Bắc Kỳ thời cổ (chữ Pháp). Tập san Trường Viễn Đông Bác
cổ, Hà Nội.
(8) Đào Duy Anh 1957. Vấn đề An Dương Vương và nước Âu Lạc, Hà Nội: 48.
(9) Đào Duy Anh: Nguồn gốc dân tộc Việt Nam, Hà Nội, 1957; Lịch sử
Việt Nam, Hà Nội, 1957; Vấn đề An Dương Vương và nước Âu Lạc, Hà Nội, 1957.
(10) Trần Văn Giáp: Một vài ý kiến về An Dương Vương ngọc giản và
vấn đề Thục An Dương Vương, Tập san Nghiên cứu Văn - Sử - Địa, Hà Nội, số 28,
tháng 5/1957.
(11) Văn Tân: Vài ý kiến về vấn đề chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam.
Nghiên cứu Lịch sử, Hà Nội, số 13, tháng 4-1960.
(12) Đào Tử Khai: Vấn đề có hay không có chế độ nô lệ trong xã hội
cổ đại Việt Nam. Nghiên cứu Lịch sử, Hà Nội, số 19, tháng 10/1960.
(13) Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng: Lịch sử chế độ cộng sản nguyên
thủy Việt Nam, Hà Nội, 1960.
(14) Đào Duy Anh: Nguồn gốc dân tộc Việt Nam, Hà Nội, 1957: 48-49.
(15) Trần Văn Giáp: Bài đã dẫn: 62.
(16) Đức Phong 1965. Vài ý kiến qua những di vật trong mộ cổ Việt
Khê - Những hiện vật tàng trữ tại Viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam về ngôi mộ cổ
Việt Khê, Hà Nội: 85.
(17) Trần Trọng Kim 1928. Việt Nam sử lược, Hà Nội: 12.
(18) Từ Tùng Thạch: Lịch sử nhân dân ở lưu vực sông Việt (chữ
Trung Quốc), Bắc Kinh, 1963: 268.
(19) Dư Duy Cương: Khảo về thẻ ngọc An Dương. Tập san Nghiên cứu
Văn Sử Địa, Hà Nội, số 28, tháng 5/1957.
(20) Truyền thuyết này đã được Rô-ma-nê duy Cai-ô (Romanet du
Cailhaud) nêu trong cuốn Lược khảo về Bắc Kỳ (chữ Pháp), Pa-ri, 1880.
(21) Lã Văn Lô: Nghiên cứu Lịch sử, Hà Nội, số 50, tháng 5-1963,
số 51, tháng 6-1963.
(22) Văn Tân: Lịch sử Việt Nam sơ giản, Hà Nội, 1963.
(23) Đặng Nghiêm Vạn và Trần Quốc Vượng: Vấn đề An Dương Vương và
lịch sử dân tộc Tày ở Việt Nam. Thông báo khoa học, Sử học, Hà Nội, 1966, tập
II, trang 81.
(24) Nguyễn Linh: Bàn về nước Thục của Thục Phán - Nghiên cứu lịch
sử, Hà Nội số 124, tháng 7/1969: 50. Bài đã trình bày tại Hội nghị lần thứ
2 nghiên cứu thời kỳ lịch sử Hùng Vương, tháng 4/1969” với đầu đề Trở lại vấn đề
vị trí và nguồn gốc nước Thục.
(25) L. Ô-ru-xô: Bài đã dẫn: 127-265.
(26) Cl. Ma-đron: Bài đã dẫn: 283-333.
(27) Trần Văn Giáp: Bài đã dẫn: 61.
(28) Đào Duy Anh: Vấn đề An Dương Vương và nước Âu Lạc, Hà Nội,
1957: 47.
(29) L. Ô-ru-xô: Bài đã dẫn.
(30) Trần Văn Giáp: Bài đã dẫn.
(31) Tư Mã Thiên: Sử ký - Quyển 113, tờ 2b.
(32) Đào Duy Anh: Sách đã dẫn: 78.
(33) Văn Tân: Sách đã dẫn: 33.
(34) Đào Duy Anh: Sách đã dẫn.
(35) Đào Duy Anh: Phần chú giải và khảo chứng Đại Việt sử ký
toàn thư,
Hà Nội, 1963, Quyển 3.
(36) Văn Tân: Xã hội nước Văn Lang và xã hội nước Âu Lạc. Nghiên
cứu Lịch sử, Hà Nội, số 20, tháng 11/1960.
(37) Nguyễn Linh: Bài đã dẫn.
(38) L. Ô-ru-xô: Bài đã dẫn.
(39) Lê Trọng Khánh: Sự chuyển biến từ chế độ cộng sản nguyên thủy
sang chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam. Nghiên cứu Lịch sử, Hà Nội, số 19,
tháng 10-1960.
(40) Cl. Ma-đron: Bài đã dẫn.
(41) Xem chú thích 9.
(42) Cl. Ma-đron: Bài đã dẫn.
(43) Đào Duy Anh: Sách đã dẫn: 47-48.
(44) Dư Duy Cương: Bài đã dẫn.
(45) Phạm Văn Đồng: Bài nói tại Hội nghị bàn việc nghiên cứu thời
kỳ lịch sử Hùng Vương. Khảo cổ học, Hà Nôi, số 1, tháng 6/1969: 7.
(46) Xem Khảo cổ học Hà Nội, số 1, tháng 6/1969: 7-8.
(47) Diệp Đình Hoa: Báo cáo tại Hội nghị nghiên cứu thời kỳ lịch
sử Hùng Vương, tháng 4/1969.
(48) Nguyễn Linh: Bài đã dẫn.
(49) Nguyễn Linh: Bài đã dẫn: 50.
(50) Truyền thuyết kể rằng Trấn Thiên Huyền Vũ giúp vua Thục trừ
xong yếu quái, hàng năm vua Thục tới tạ ơn một lần. Ngày nay hàng năm dân làng
thay nhau đóng giả An Dương Vương lên kiệu rước về đền thờ Trấn Thiên Huyền Vũ.
(51) Trong truyền thuyết có chuyện gà trắng là quỷ thần phá thành
của vua Thục.
(52) Phán là tên tục của An Dương Vương, nhà Thục.
(53) Nồi hầu là tên một tướng có công chống đánh Triệu Đà.
(54) Phạm Huy Thông: Tiến đến đưa thời kỳ Hùng Vương vào chính sử.
Khảo cổ học, số 13, Hà Nội, tháng 6/1969: 60.
(55) Theo truyền thuyết, dân Quậy Cả, Quậy Rào, Quậy Con vốn là
dân ở Cổ Loa bị vua Thục buộc dời đi để lấy đất đắp thành.
(56) Phạm Huy Thông: Bài đã dẫn.