Quan điểm về “truyền thống” trong các nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn
Viện Nghiên cứu Văn hóa trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Quan điểm về “truyền thống” trong các nghiên cứu” của TS. Lê Thị Thùy Ly (Viện Nghiên cứu Văn hóa).

“Truyền thống” là khái niệm học thuật quan trọng trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới và cũng là khái niệm học thuật được chú ý ở nước ta. Giữa bối cảnh sự quan tâm đến những gì liên quan đến “truyền thống” - nhất là di sản văn hóa phi vật thể - ngày một gia tăng hiện nay, khái niệm nói trên càng có sự thu hút.

“Truyền thống” nhìn từ các nghiên cứu trên thế giới

“Truyền thống” (tradition), theo cách hiểu phổ quát, là hệ thống tín ngưỡng hay hành vi được trao truyền trong một cộng đồng với ý nghĩa biểu tượng hoặc vai trò quan trọng, được xem như có gốc từ quá khứ (Green, 1997). Về mặt từ nguyên, “truyền thống” bắt nguồn từ động từ tiếng Latin trarede, có nghĩa “truyền lại”, “trao tặng”, “cho để giữ gìn”… Là đối tượng của nhiều lĩnh vực học thuật như nhân học, khảo cổ học, lịch sử và xã hội học, khái niệm “truyền thống” nhận được sự quan tâm đáng kể của các nhà nghiên cứu.

Anh-tin-bai
“Truyền thống” bắt nguồn từ động từ tiếng Latin trarede, có nghĩa “truyền lại”, “trao tặng”, “cho để giữ gìn”…

Nguồn: Hình minh họa tạo bởi công cụ Trí tuệ nhân tạo (AI)

Kroeber (1948) xem truyền thống là đặc điểm văn hóa cốt lõi được lưu truyền qua các thế hệ. Ông định nghĩa truyền thống là “sự chuyển giao nội bộ xuyên thời gian” của các đặc điểm văn hóa (Kroeber, 1948: 411). Quan điểm của Kroeber cho thấy truyền thống được hiểu là những cái tồn tại bất biến, cố định lưu truyền từ quá khứ đến hiện tại. Quan điểm này phản ánh ảnh hưởng của quy chất luận - một cách nhìn coi văn hóa có một cái “lõi” không thay đổi, bất kể sự thay đổi của bối cảnh xã hội theo dòng lịch sử. Quan điểm này cũng đồng thời coi văn hóa là những gì tồn tại khách quan, bên ngoài chủ thể, tức là chưa thực sự xem con người như là chủ thể năng động, liên tục sáng tạo ra văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu thực tại. Theo logic nội tại, việc xác định truyền thống là bất biến, cố định cũng đồng nghĩa với việc tách bạch giữa truyền thống và hiện đại.

Quan điểm vừa nêu đã dần bị các nhà nghiên cứu sau này vượt qua khi cho là nó có những bất cập. Chẳng hạn, Rudolph và cộng sự (1967) khẳng định rằng một sự bất cập trong cách hiểu về truyền thống là đặt ra sự phân đôi sai lầm giữa hiện đại và truyền thống như những trạng thái cố định và loại trừ lẫn nhau. Các tác giả nhấn mạnh rằng mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại có thể được giả định tốt nhất bằng thuật ngữ “biện chứng” thay vì “phân đôi”. Họ đã vạch ra hạn chế về mặt logic của các công thức lý tưởng - điển hình về truyền thống và hiện đại. Đó là, những công thức như vậy không thể tiết lộ bản chất “bối cảnh” của những thay đổi diễn ra thông qua hiện đại hóa, những thay đổi mang tính thích ứng hơn là tha hóa trong hệ thống xã hội.

Một số tác giả, thể hiện sự không đồng tình với quan niệm của Kroeber khi nhìn truyền thống như một thứ cố định, đã có những điều chỉnh nhất định về nhận thức. Chẳng hạn như Shils (1981). Ông cho rằng một xã hội luôn thay đổi trong quá trình được truyền tải và diễn giải theo truyền thống đã diễn ra trước đây. Tuy nhiên, dù nhận thấy truyền thống liên tục vận động, ông coi bản chất của nó lại là cố định. Ông xác định rằng truyền thống là “bất cứ thứ gì” được lưu truyền từ quá khứ đến hiện tại (Shils, 1981: 12) và đưa ra các tiêu chí thời gian có thể kiểm chứng khách quan được để phân biệt “truyền thống” và “hiện đại” (Shils, 1981: 15). Shils khẳng định để một thứ trở thành truyền thống, nó phải kéo dài ít nhất ba thế hệ. Những thay đổi trong bản thân chúng là sự bồi đắp của các yếu tố văn hóa mới bên cạnh các yếu tố thiết yếu. Và, cái làm nó trở thành một truyền thống chính là những gì được cho là các yếu tố thiết yếu vẫn tồn tại cùng sự biến đổi của nó. Tóm lại, theo ông, bản sắc của một xã hội phụ thuộc vào sự tồn tại của quá khứ trong hiện tại và nếu không còn quá khứ ấy, nó sẽ không phải là một xã hội được định danh. Đáng lưu ý, mô hình của Shils tuy có điều chỉnh vẫn mang dấu vết quy chất luận như Kroeber.

Trong khi đó, Hobsbawm và cộng sự (1983) phân biệt truyền thống “cũ” và truyền thống “mới”, nhưng không phân biệt “giả” và “thật”. Truyền thống mới là truyền thống thực tế đã được tạo ra, được hợp lệ hóa và chứa đựng cả những gì đang manh nha theo một lối khó truy nguồn hơn, trong khoảng thời gian ngắn và dễ xác định hơn nhưng lại có thể định hình sớm hơn trong tiềm thức cộng đồng. Hobsbawm cho rằng, trên thế giới có nhiều truyền thống được xem là lâu đời nhưng lại có truyền thống có nguồn gốc gần đây, được sáng tạo vì một sự kiện nhất định và trong một thời gian ngắn. Việc sáng chế này xuất hiện khi sự biến đổi xã hội diễn ra trong thời gian ngắn làm suy giảm hay phá bỏ hẳn mô hình xã hội cũ vốn tương thích với truyền thống cũ, dẫn đến sự không phù hợp giữa mô hình xã hội mới với các truyền thống cũ. Theo Hobsbawm, truyền thống là một quá trình chọn lọc hữu ý của những “nguồn” năng động. Có thể thấy, việc thừa nhận sự tồn tại của một thứ truyền thống gốc của Hobsbawm tương đồng với Shils. Sự khác biệt ở chỗ, nếu Shils coi truyền thống gốc là luôn tồn tại và dù biến đổi vẫn giữ những yếu tố cốt lõi của nó, tức vẫn là truyền thống cũ nhưng được thêm vào những yếu tố mới bên cạnh yếu tố cốt lõi, thì Hobsbawm lại khẳng định rằng có truyền thống gốc nhưng nó đã bị thay thế bởi truyền thống mới. Nói cách khác, Hobsbawm không coi truyền thống mới là “giả” trong sự phân biệt với truyền thống gốc, mà thực sự có một truyền thống mới được sáng tạo bên cạnh truyền thống gốc. Quan điểm của Hobsbawm cho thấy bước phát triển nhận thức lớn dù vẫn có hạn chế nhất định.

Không đồng quan điểm với Hobsbawm, các học giả Handler và Linnekin (1984) xem truyền thống là một quá trình không có thật giả, mới cũ. Handler và cộng sự cho rằng truyền thống theo nghĩa phổ biến đề cập đến một tổ hợp kế thừa phong tục và tín ngưỡng. Handler và Linnekin khẳng định, không có truyền thống cốt lõi mang tính ràng buộc. Theo họ, không thể phủ nhận rằng truyền thống có thể ám chỉ quá khứ nhưng đó chỉ là sự liên hệ mang tính tượng trưng và chắc chắn rằng truyền thống luôn được đặc trưng bởi tính liên tục và không liên tục. Với Handler và Linnekin, việc sáng chế ra truyền thống là có chọn lọc và truyền thống được bảo tồn là cái được tạo ra từ nhu cầu của hiện tại. Quan điểm này đã được thừa nhận rộng rãi trong các ngành khoa học xã hội hiện nay. Nó cho thấy sự vận động từ quy chất luận đến kiến tạo luận - vốn là những quan điểm lớn chi phối lĩnh vực nghiên cứu văn hóa theo dòng lịch sử.

Những thập niên vừa qua, truyền thống vẫn không ngừng là mối quan tâm của giới học thuật quốc tế. Có thể kể đến các công trình của Rigney (2008), Rebay-Salisbury (2011), Wydra (2012), Hermann và cộng sự (2013), Merback và cộng sự (2015), Versluys (2022)… Những nghiên cứu đó tiếp tục củng cố quan điểm kiến tạo luận. Chẳng hạn, về tính liên tục của truyền thống, Wydra (2012) nhấn mạnh rằng giống như các cá nhân, các xã hội có thói quen ghi nhớ, được truyền tải, thách thức và thu thập trên toàn bộ cấu trúc tưởng niệm giữa các thế hệ, và các xã hội được khởi xướng để diễn giải quá khứ của chúng bằng cách “học” các hành vi kỷ niệm, biểu diễn cũng như nghi lễ cụ thể. Do đó, quá khứ không được coi là một giai đoạn đã qua và được xác định rõ ràng, mà đúng hơn là một cơ thể xã hội đang trong quá trình thai nghén. Hay về sự sáng tạo truyền thống, Rebay-Salisbury (2011) cho rằng, những ý tưởng và khái niệm lý thuyết ở thế kỷ XIX đã định hình nên những hiểu biết trong quá khứ và hiện tại về thời tiền sử ở châu Âu, vì vậy, việc suy ngẫm về lịch sử nghiên cứu có thể làm sáng tỏ lý do khiến chúng ta tin rằng mình biết cái điều mình biết về quá khứ. Theo tác giả, vào đầu thế kỷ XX, lý thuyết về các vòng tròn văn hóa, một phần của trường phái tư tưởng văn hóa - lịch sử Đức trong nhân học, đã đóng vai trò quan trọng trong các cách giải thích về dân tộc học cũng như thời tiền sử; và sau Thế chiến II, tàn tích của lý thuyết này vẫn có ảnh hưởng, ví dụ như việc coi di cư và tiếp xúc giữa các nền văn hóa là tác nhân chính gây ra sự thay đổi. Tóm lại, sự hiện diện của những công trình vừa nêu cho thấy việc nghiên cứu về truyền thống vẫn có sức sống.

Trong các tác giả kể trên, DeWaal có một nghiên cứu xem xét lại quan điểm phân chia truyền thống gốc và truyền thống được sáng chế của Hobsbawm từ một góc nhìn đáng chú ý. Như ta biết, khi xác định loại “truyền thống được sáng chế”, Hobsbawm nhấn mạnh rằng ở nơi những cách thức cũ vẫn tồn tại, truyền thống không cần được phục hồi và cũng không được sáng tạo ra. Nhưng, DeWaal (2019) - đề cập đến sự tái sáng chế (re-invention) - lại cho thấy “truyền thống cũ” liên tục được sáng chế lại trong một bối cảnh xã hội đã thay đổi. Nghiên cứu của DeWaal cho thấy quá trình làm sống lại truyền thống cũ nhưng không lấy lại ý nghĩa cũ. Ông nhận xét rằng bên cạnh sự chú ý về truyền thống được sáng chế trong quá trình gần đây, những truyền thống lâu đời như lễ hội hóa trang Carnival minh họa quá trình dễ biến đổi của việc sáng chế lại truyền thống. Ví dụ, anh hề trong lễ hội vẫn còn, nhưng - khác với ý nghĩa cũ (là biểu tượng cho cái xấu, cho các thế lực ma quỷ) - đã xuất hiện như một nhân vật dũng cảm, tích cực và yêu nước ở địa phương. Theo DeWaal, carnival chứng minh nguồn gốc của truyền thống trong một quá khứ xa xôi mà ít người dân biết đến. Nó cũng cung cấp ví dụ cho sự thay đổi thường xuyên về ý nghĩa.

Anh-tin-bai
Với người Mỹ bản địa, việc tạo ra bùa bắt giấc mơ ấy có một mục đích kép: cung cấp nguồn thu nhập đồng thời đề cao các giá trị và tâm linh của người bản địa.

Nguồn: Hình minh họa tạo bởi công cụ Trí tuệ nhân tạo (AI)

Liên quan đến quan điểm tái tạo truyền thống hay tái sáng chế trong công trình vừa đề cập ở trên của DeWall, có một số nghiên cứu của Oberholtzer (1995), Murgiyanto (2001), Erendil và Ulusoy (2002), Sideris (2004), Va’a (2008)… Xem xét việc tái tạo lại truyền thống từ góc độ nghiên cứu hiện vật, Oberholtzer (1995) nói về sự sản xuất và phân phối bùa bắt giấc mơ (bùa ngăn chặn những cơn ác mộng) do người dân Mỹ bản địa tạo ra. Lấy cảm hứng từ những tấm bùa truyền thống nhằm bảo vệ trẻ sơ sinh, những đồ vật này có một diện mạo mới dưới dạng khuyên tai và đồ trang trí dành cho ô tô hoặc nhà cửa. Với người Mỹ bản địa, việc tạo ra bùa bắt giấc mơ ấy có một mục đích kép: cung cấp nguồn thu nhập đồng thời đề cao các giá trị và tâm linh của người bản địa. Nghiên cứu của Erendil và Ulusoy (2002) cho biết, các cuộc tranh luận về du lịch đô thị đã đi kèm với cuộc thảo luận rộng rãi về “sự vô vị trí”, “mất bản sắc” và “chuẩn hóa” liên quan đến hệ tư tưởng hiện đại về quy hoạch, và về mặt này thì việc sử dụng kết cấu đô thị mang tính lịch sử đó đã trở nên quan trọng như một phương tiện để tái tạo hình ảnh đô thị. Tuy nhiên, những nỗ lực tránh chuẩn hóa lại mắc vào một cái bẫy khác của sự giống nhau và nhạt nhẽo. Các tác giả đã phân tích nỗ lực gần đây nhằm tích hợp một khu vực nội thành, thành cổ Ankara và vùng lân cận, tập trung vào bản sắc thay đổi do sự ra đời của các cơ sở tạo thu nhập và thu hút khách du lịch. Bản chất và hậu quả của sự chuyển đổi này đã được nghiên cứu trong các vấn đề thực hành bảo tồn, tính khả thi về mặt kinh tế, lợi ích công cộng, đạo đức và tính hợp pháp của nó. Công trình của Sideris (2011) thì đề cập đến sự xung đột bản sắc cá nhân và hướng giải quyết chúng thông qua “truyền thống”. Trường hợp nghiên cứu này thể hiện cách các niềm tin và giá trị bá quyền về quan hệ họ hàng và bản sắc thúc đẩy đàn ông cũng như đàn bà tuân theo các chuẩn mực giới đang thống trị. Nó chỉ ra rằng những nỗ lực tác động đến niềm tin của đàn ông về giới - vốn yêu cầu sự giáo dục, rèn luyện… - có thể chỉ có tác dụng hạn chế. Nghiên cứu đã phản ánh mức độ sâu sắc của các ý nghĩa và giá trị bá quyền, và hình thức mà chúng (được diễn đạt thông qua truyền thống) tiếp cận cuộc sống của mọi người, định hướng hành vi của họ. Nó cũng cho thấy những cách quan hệ mới được tạo ra trong thực tế. Nó phản ánh rằng thành công của áp lực phải khuất phục trước bá quyền sẽ phụ thuộc vào sức mạnh của sự ủng hộ xã hội đối với các hoạt động thay thế và vào việc biến đổi các mô hình quyền lực trong các mối quan hệ thực tế. Như vậy, việc nghiên cứu về tái tạo truyền thống (tái sáng chế) đã trở thành một khuynh hướng trong dòng nghiên cứu về truyền thống nói chung.

“Truyền thống” nhìn từ các nghiên cứu ở Việt Nam

Một trong những quan điểm phổ biến và có ảnh hưởng lâu dài đến các chính sách về văn hóa ở Việt Nam nhiều thập niên qua là quan điểm cho rằng “truyền thống” và “hiện đại” là hai phạm trù cố định và tách biệt nhau. Nong Quoc Chan (1978) khẳng định về một sự cần thiết của việc lựa chọn những di sản văn hóa (ngôn ngữ, văn học dân gian, lối sống, tín ngưỡng, phong tục tập quán...) có giá trị để bảo tồn và ngược lại. Theo đó, các dân tộc thiểu số cần được định hướng và tạo điều kiện để có thể bắt kịp, hóa nhập vào một nền văn hóa Việt Nam mới. Tương tự, Phạm Như Cương và cộng sự (1987) cho rằng nền văn hóa, nhất là văn hóa các dân tộc thiểu số cần được bảo tồn và chọn lọc trên tinh thần “gạn đục khơi trong”, nhằm vừa tiếp tục giữ gìn những cái được xác định là có giá trị từ truyền thống mà vẫn có thể đáp ứng yêu cầu mới của thời đại. Điều này cũng được thể hiện trong nhiều nghiên cứu khác, ví dụ như công trình của Đinh Gia Khánh (1994), Lê Hữu Tầng (1994), Đặng Nghiêm Vạn (1999)… Khẳng định rằng “truyền thống” luôn bao gồm trong nó cả giá trị và phản giá trị, các nghiên cứu nhấn mạnh rằng cần bảo lưu, phát triển các giá trị và ngăn chặn, loại bỏ phản giá trị. Quan điểm chịu ảnh hưởng của tiến hóa luận như trên một thời được coi là thích hợp khi chúng ta xác định mục tiêu phát triển kinh tế theo hướng hiện đại hóa kiểu phương Tây, tương tự nhiều quốc gia trên thế giới trong một thời gian dài. Nhưng, với lĩnh vực văn hóa, tiến hóa luận đã dần bị thay thế bởi tương đối luận, vì việc xác định cao - thấp, văn minh - lạc hậu vô hình trung đã loại trừ nhiều nền văn hóa khác nhau, dẫn đến một khuôn mẫu văn hóa đơn điệu, không còn đảm bảo được nguyên tắc đa dạng đã được thừa nhận rộng rãi trong xã hội đương đại. Còn ngay trong lĩnh vực kinh tế, quan điểm tiến hóa luận cũng ngày càng tỏ ra bất cập khi chỉ tập trung vào sự phát triển đơn thuần, trong khi mục đích hướng tới hiện nay là phát triển bền vững vì con người với nguyên tắc công bằng và hài hòa.

Cập nhật hơn với thế giới, trong nền học thuật Việt Nam đang hiện diện một quan điểm rằng luôn có quá trình phục dựng và làm mới truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của chủ thể, nhất là giữa bối cảnh chuyển đổi. Theo quan điểm này, không có một lằn ranh hay sự đứt gãy dứt khoát nào giữa “truyền thống” với “hiện đại”. Và quan điểm đang bàn ngày càng trở thành xu hướng được chú ý (thậm chí, có người còn thay đổi nhận thức và chuyển từ quy chất luận sang kiến tạo luận). Lê Hồng Lý (2008), nghiên cứu tác động của kinh tế thị trường đến lễ hội qua trường hợp lễ hội đền Bà Chúa Kho và lễ vía Bà Chúa Xứ, nhấn mạnh rằng truyền thống đã được tạo thêm những nét mới, mang dấu ấn thời đại. Nguyễn Thị Phương Châm (2009), qua khảo sát làng Đồng Kỵ, nhận thấy quá trình tái cấu trúc văn hóa đầy thú vị để các loại hình văn hóa truyền thống có thêm sức sống và chuyên chở thêm nhiều động thái của cộng đồng. Theo đó, tác giả cho rằng quá trình phục hồi lại các giá trị truyền thống thực chất là quá trình chọn lọc phù hợp với bối cảnh mới, tuy nhiên nếu có sự đầu tư, can thiệp của yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội thì việc phục hồi, duy trì và phát huy những giá trị đó lại có thêm động thái và xu hướng mới. Tìm hiểu về lễ giỗ Tổ Hùng Vương, Nguyễn Thị Hiền và Hoàng Cầm (2012) nhận định rằng những sáng tạo mới và sự chi phối của các triều đại phong kiến trước đây và nhà nước hiện nay đã làm tăng thêm ý nghĩa uống nước nhớ nguồn: con người chung một tổ tiên không chỉ trong một gia đình, dòng họ, mà còn trong một dân tộc. Truyền thống biết ơn và cúng tế những người có công với làng xã và với đất nước, qua đó, đã khắc sâu trong tâm thức người Việt. Với sự chi phối của chính quyền trung ương và địa phương hiện nay, vào ngày giỗ Tổ, vị trí của lễ hội Đền Hùng và của Vua Hùng trong lịch sử càng được đẩy mạnh, tạo thành một biểu tượng đoàn kết dân tộc. Bên cạnh đó, các tác giả cho rằng cũng cần nghiên cứu kỹ thực tế tại các cộng đồng dịa phương quanh khu vực đền Hùng và thảo luận rộng rãi về các biện pháp bảo tồn từ góc độ cộng đồng để các biện pháp bảo tồn (và cả phát huy) di sản văn hóa Đền Hùng được thực hiện hiệu quả hơn nữa. Nguyễn Thị Thanh Xuyên (2016) thì đề cập đến sự hợp thức hóa các sáng tạo truyền thống trong bảo tồn nghi lễ thờ cúng nữ thần tại Nha Trang. Theo tác giả, các minh chứng về tính biểu tượng, sáng tạo truyền thống thách thức việc xác định lại tính đặc thù trong văn hóa tín ngưỡng của một cộng đồng cụ thể đã góp phần gợi mở cách tiếp cận mới về bảo tồn các giá trị văn hóa trong hoạt động thờ cúng. Sự sáng tạo truyền thống thực chất là quá trình sáng tạo các giá trị văn hóa mới mang tính thích nghi và đóng góp vào tiến trình hợp thức hóa của các bên liên quan. Quá trình này luôn kéo theo sự biến đổi và tăng cường các biểu tượng khác nhau như căn tính tộc người của các nữ thần, tính thiêng, vật phẩm cúng tế, các mối quan hệ giới tiềm ẩn và những mâu thuẫn đối kháng. Việc phục dựng lễ hội và các loại hình diễn xướng như hầu đồng, múa bóng, hát bả trạo… cũng như quan tâm đến nghệ nhân và hoạt động tuyên truyền nghề là phần quan trọng nhằm phục hồi các sinh hoạt cổ truyền; vì vậy, bên cạnh việc “xác định các công cụ lý thuyết”, bảo tồn văn hóa phải gắn liền với lợi ích chủ thể, nghệ nhân và cộng đồng thụ hưởng. Còn Mai Thị Hạnh, gần đây hơn, quan tâm tới các nghi lễ thờ cúng và tưởng nhớ người chết trên “nghĩa trang online” (2021). Theo tác giả, đó là một hiện tượng “sáng tạo truyền thống”. Sản phẩm được sáng tạo này xuất hiện trong bối cảnh Internet phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam bắt gặp nhu cầu cá nhân hóa không gian tâm linh và tăng cường sự cộng cảm của cộng đồng trong thực hành nghi lễ. Việc dịch chuyển “nguyên liệu cổ” cùng với sáng tạo “ngôn ngữ mới và phương tiện mới” và lược bỏ yếu tố truyền thống không phù hợp là cách tạo nên “nghĩa trang online” cùng nghi lễ dân gian được thực hành trong không gian của nó. Tác giả cho rằng, sự xuất hiện của nghi lễ thờ cúng và tưởng nhớ người chết trong không gian Internet đã làm đa dạng hóa thực hành nghi lễ ở Việt Nam và đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận dân cư trong xã hội hiện đại.

Bản thân người bài viết này, vào những năm đầu thập niên 2020, cũng đã tham gia nghiên cứu về truyền thống từ trường hợp cụ thể là lễ hội làng Ninh Hiệp (Hà Nội) và là đồng tác giả của một số xuất bản phẩm liên quan. Trong đó, người viết tập trung vào sự kiến tạo bản sắc giới giữa bối cảnh có những xung đột và thương thỏa liên quan đến việc nữ giới nắm quyền lực kinh tế. Do xã hội sau Đổi mới tôn vinh năng lực làm giàu, nữ giới của làng đã và đang có được sự tôn trọng từ phía cộng đồng và đó là yếu tố thuận lợi để họ theo đuổi điều mình mưu cầu trên diễn trường. Những gì đạt được giúp họ xác lập bản sắc của những người phụ nữ năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm (và cũng qua đó kiến tạo bản sắc của một ngôi làng luôn hướng đến sự đổi mới). Tuy nhiên, các xung đột và dàn xếp cho thấy tính phức tạp vẫn tồn tại trong quan hệ giới. Trong khi đặc tính văn hóa - xã hội của làng gia tăng cơ hội cho phụ nữ, luôn còn đó các thách thức bởi định kiến vẫn tồn tại ở nơi tưởng như đã bị xóa bỏ (Nguyễn Giáo và Lê Thị Thùy Ly 2020a, 2020b). Với các nghiên cứu này, chúng tôi tiếp tục ủng hộ quan điểm rằng truyền thống không ngừng được kiến tạo.

Tóm lại, khác với giai đoạn trước đó, chúng ta thấy hiện ở Việt Nam ngày càng có nhiều nghiên cứu khẳng định truyền thống là cái được tạo ra nhằm một mục đích nhất định của chủ thể và đây là một quá trình diễn ra không ngừng dẫn đến sự khó tách bạch khái niệm truyền thống và hiện đại. Điều này cũng phần nào tương tự tình hình nghiên cứu trên thế giới với sự vận động từ quan điểm tách bạch “truyền thống” và “hiện đại” đến sự nhấn mạnh rằng đó là một dòng chảy liên tục, không có sự phân biệt rạch ròi. Việc ngày càng phổ biến quan điểm cập nhật này trong các nghiên cứu đã góp phần đem lại nhận thức đúng đắn về khái niệm truyền thống và phần nào khắc họa được bức tranh sống động về truyền thống trong xã hội Việt Nam đương đại.

*

*     *

Quan điểm về “truyền thống” trên thế giới, một khái niệm học thuật quan trọng trong khoa học xã hội và nhân văn, đã có sự vận động theo thời gian. Những gì trình bày ở trên cho thấy, các nghiên cứu cụ thể đã cung cấp những bằng chứng từ thực tiễn để dần dần đem lại những kiến giải mới và làm thay đổi từng bước nhận thức về truyền thống. Điều này cũng phù hợp với hướng tiếp cận lý thuyết từ thực tiễn (grounded theory approach) phổ biến trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa, hàm nghĩa rằng các khái niệm luôn có sự vận động vì chúng bắt nguồn từ thực tiễn mà thực tiễn thì luôn thay đổi. Cũng theo cách tương tự, những thập niên vừa qua, quan điểm về “truyền thống” - quan điểm từng chịu sự chi phối đáng kể của bối cảnh lịch sử và xã hội - ở Việt Nam cũng ngày một chuyển mình qua các nghiên cứu từ thực tiễn và tiệm cận với xu hướng học thuật quốc tế. Điều này sẽ tiếp tục góp phần đem đến những nhận thức cập nhật hơn và do đó là cơ sở cho việc hoạch định những chính sách về văn hóa phù hợp hơn với yêu cầu của cuộc sống.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DeWaal, J. (2019). The Re-invention of Tradition: Form, Meaning and Local Identity in Modern Cologne Carnival. Central European History, 46(5), 495-532.

Đặng Nghiêm Vạn (1999). Gạn đục, khơi trong trong các hoạt động tín ngưỡng. Tư tưởng Văn hóa, 2, 18-20.

Đinh Gia Khánh (1994). Hội lễ dân gian truyền thống trong thời hiện đại. Trong Đinh Gia Khánh và Lê Hữu Tầng (chủ biên), Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại. Hà Nội: Nxb. KHXH.

Erendil, A.T., Ulusoy, Z. (2002). Reinvention of Tradition as an Urban Image: the Case of Ankara Citadel. Environment and Planning B: Planning and Design, 29(5), 655-672.

Green, T.A. (1997). Folklore: An Encyclopedia of Beliefs, Customs, Tales, Music, and Art. Santa Barbara, CA: ABC-CLIO.

Handler, R., Linnekin, J. (1984). Tradition, Genuine or Spurious. The Journal of American Folklore, 97(385), 273-290.

Hermann, P., Mitchell, S. (2013). Constructing the Past: Introductory Remarks. Scandinavian Studies, 85(3), 261-266.

Hobsbawm, E., Ranger, T. (1983). The Invention of Tradition. New York: Cambridge University Press.

Kroeber, A.L. (1948). Anthropology. New York: Harcourt.

Lê Hồng Lý (2008). Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội. Hà Nội: Nxb. Văn hóa thông tin.

 Lê Hữu Tầng (1994). Hội lễ dân gian truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại: Vấn đề và ý kiến. Trong Đinh Gia Khánh và Lê Hữu Tầng (đồng chủ biên), Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại. Hà Nội: Nxb. Khoa học xã hội.

Mai Thị Hạnh (2021). Nghi lễ dân gian trên Internet từ góc nhìn lý thuyết “Sáng tạo truyền thống truyền thống”. Nghiên cứu tôn giáo, 5, 93-114.

 Merback, M., Pollmann, J., Rau, S. (2015). Memory before Modernity: Cultures and Practices in Early Modern Germany. German History, 33(1), 100-122.

 Murgiyanto, S. (2001). Multiculturalism and Reinvention of Tradition: Recent Practices in Dance Making in Indonesia. Contemporary Theatre Review, 11(2), 69-81.

Nong, Q.C. (1978). Selective Preservation of Ethnic Minorities’s Cultural Traditions. Vietnamese Studies, 52, 57-63.

Nguyễn Giáo, Lê Thị Thùy Ly (2020a). Giữ cũ hay làm mới: Xung đột và thương thỏa giới trong lễ hội ở một làng miền Bắc. Nghiên cứu văn hóa Việt Nam, 3, 36-44.

Nguyễn Giáo, Lê Thị Thùy Ly (2020b). Giới, tuổi già và sự sáng chế truyền thống trong lễ hội làng Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội. Trong Viện Nghiên cứu Văn hóa, Văn hóa Việt Nam đương đại: Đa dạng biểu đạt và tương tác. Hà Nội: Nxb. KHXH.

Nguyễn Thị Hiền, Hoàng Cầm (2012). Sáng tạo truyền thống: Nghiên cứu trường hợp Giỗ tổ Hùng Vương vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm. Trong Nhiều tác giả, Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội đương đại. Hà Nội: Nxb. Văn hóa nghệ thuật.

Nguyễn Thị Phương Châm (2009). Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay. Hà Nội: Nxb. VHTT.

Nguyễn Thị Thanh Xuyên (2016). Hợp thức hóa các sáng tạo truyền thống trong bảo tồn nghi lễ thờ cúng nữ thần tại Nha Trang. Khoa học xã hội miền Trung, 2, 32-39.

Oberholtzer, C. (1995). The Re-invention of Tradition and the Marketing of Cultural Values. Anthropologica, 37(2), 141-153.

Phạm Như Cương và cộng sự (1987). Một số vấn đề phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số. Hà Nội: Nxb. Văn hóa dân tộc.

Rebay-Salisbury, K. C. (2011). Thoughts in Circles: Kulturkreislehre as a Hidden Paradigm in Past and Present Archaeological Interpretations. In B.W. Robert, M.V. Linden (Editors), Investigating Archaeological Cultures. New York: Springer.

Rigney, A. (2008). The Dynamics of Remembrance: Texts between Monumentality and Morphing. Cultural Memory Studies: An International and Interdisciplinary Handbook, 8, 345-357.

Rudolf, L., Hoeber, R.S. (1967). The Tradition of Modernity: Political Development in India. Chicago: University of Chicago Press.

Sideris, T. (2004). Men, Identity and Power. A Case Study of the Re-Invention of ‘Tradition’: Implications for Involving Men in Training and Education about Gender. Agenda, 18(60): 88-93.

Shils, E. (1981). Tradition. Chicago: University of Chicago Press.

Smith, M.E. (1982). The Process of Sociocultural Continuity. Current Anthropology, 23, 127-141.

Va’a, U.L. (2008). Reinventing Tradition: Anchaeology in Samoa. Pacific Island Heritage, 31.

Versluys, M.J. (2022). Mémoire Volontaire? Canonisation as Cultural Innovation in Antiquity. In D, Agut-Labordère and M.J. Versluys, Canonisation as Innovation. Leiden: Brill.

Wydra, H. (2012). The Dynamics of Memory in East and West: Elements of a Comparative Framework. Remembrance and Solidarity Studies in 20th Century European History, 1, 125-147.

Bài viết đầy đủ có tại: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, Số 8, 2025

TS. Lê Thị Thùy Ly
Nguồn bài viết: Viện Nghiên cứu Văn hóa
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1