Ảnh hưởng của triết học Hegel đến lý luận về chủ nghĩa xã hội của C. Mác
Tóm tắt: Bài viết phân tích ảnh hưởng sâu sắc của triết học Hegel đối với quá trình hình thành lý luận về chủ nghĩa cộng sản của C. Mác, đặc biệt qua “Bản thảo Kinh tế - Triết học năm 1844”. Bài viết chỉ ra rằng, dù phê phán chủ nghĩa duy tâm, Mác vẫn kế thừa phép biện chứng Hegel, nhất là mô thức “vượt bỏ”, để khắc phục hạn chế của chủ nghĩa cộng sản bình quân vốn coi bình đẳng vật chất là mục tiêu tối thượng. Mác chuyển trọng tâm sang quan niệm tự do như sự thống nhất giữa cá nhân và xã hội, gắn với việc con người chiếm hữu “bản chất tộc loại” của mình. Bài viết cũng đối chiếu cấu trúc tha hóa trong Mác và Hegel, khẳng định Mác sử dụng phép biện chứng phủ định của Hegel để luận giải quá trình giải phóng khỏi tha hóa lao động và tha hóa xã hội; Chủ nghĩa cộng sản ở Mác mang bản chất nhân văn, hướng tới sự phát triển tự do toàn diện của con người.
Từ
khóa: Hegel;
C. Mác; tha hóa; biện chứng; chủ nghĩa xã hội; tự do.
Abstract: This article analyzes the profound influence
of Hegelian philosophy on the formation of Karl Marx’s theory of socialism, as
examined through the “Economic and Philosophic Manuscripts of 1844.” The
article demonstrates that, despite his critique of idealism, Marx retained
Hegel’s dialect, particularly the model of Aufhebung (sublation/transcendence)-to
overcome the limitations of egalitarian communism, which treated material
equality as its ultimate end. Marx reoriented the focus toward a conception of
freedom as the unity of the individual and society, tied to humanity’s
appropriation of its “species-essence.” The article also compares the
structures of alienation in Marx and Hegel, affirming that Marx employed
Hegel’s negative dialectic to theorize the process of emancipation from both
labor alienation and social alienation; Communism in Marx carries a
fundamentally humanist character, oriented toward the free and all-round
development of the human being.
Keywords: Hegel; Karl Marx; alienation; dialectic;
socialism; freedom.
Ngày
nhận bài: 15/11/2025; Ngày sửa bài: 15/12/2025; Ngày duyệt đăng bài: 20/01/2026.
1. Mở đầu
C. Mác trưởng thành trong
phái Hegel trẻ, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của phép biện chứng Hegel. Chính
phép biện chứng này để lại dấu ấn sâu sắc nhất trong hệ thống lý luận triết học
chính trị - xã hội của C. Mác, tức là học thuyết về chủ nghĩa xã hội của
ông. Vì vậy, vấn đề về ảnh hưởng của triết học Hegel đến lý luận về chủ nghĩa
xã hội của C. Mác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc làm sáng tỏ quá
trình hình thành và thực chất của học thuyết về chủ nghĩa xã hội của ông. Có
thể khẳng định rằng, C. Mác là người nhất quán theo chủ nghĩa xã hội. Tất cả
mọi chủ đề của ông - số phận của lao động làm thuê, tiến bộ sản xuất và tiến bộ
khoa học, triển vọng phát triển và tập trung sản xuất - đều do thời đại công
nghiệp đặt ra. Chúng chứng tỏ sự hợp lý hóa một cách tất yếu chủ nghĩa xã hội ở
thời đại này, mặc dù giống như những người theo chủ nghĩa xã hội sơ kỳ, C. Mác
vẫn giữ lại một số nguyên tắc căn bản của tất cả các chủ nghĩa xã hội, định
hướng vốn có của nó vào những giá trị định tính và phủ định những khái niệm xã
hội trừu tượng (tiền, thị trường, dân chủ đại diện). Quan hệ giữa chủ nghĩa duy
lý và những giá trị định tính (con người, lao động, nhu cầu của con người) có
được một hình thức đặc biệt trong triết học và kinh tế học chính trị của C. Mác
do tác động mạnh mẽ của Hegel đến C. Mác và đến quan niệm của C. Mác về chủ
nghĩa xã hội. Trái ngược với quan niệm phổ biến trong giới triết học Mác xít Xô
Viết trước kia rằng, đến năm 1845, C. Mác đã khắc phục dứt khoát chủ nghĩa duy
tâm của Hegel, có thể nói, đúng là đến thời gian này, C. Mác đã “quẳng bỏ” chủ
nghĩa duy tâm của Hegel, nhưng ông vẫn giữ lại phương pháp tổng hợp biện chứng
của Hegel, sử dụng nó để luận giải chủ nghĩa cộng sản và giữ lại trong suốt
cuộc đời sáng tạo của C. Mác.
2. Nội
dung
Phê
phán của C.Mác đối với chủ nghĩa cộng sản bình quân
Thời đại hiện nay cho
phép chúng ta nhìn nhận về C. Mác một cách khách quan hơn, tổng thể hơn. Trước
kia, việc giảng dạy phép biện chứng bị quy thành việc diễn dịch các quy luật và
các cặp phạm trù biện chứng một cách “tư biện”, học thuyết C. Mác bị chia
ra thành vô số lĩnh vực tương đối độc lập, thậm chí còn có cả các chuyên gia về
quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, về quy luật lượng đổi
chất đổi,... Học thuyết C. Mác bị phân chia ra thành triết học, kinh tế học
chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Hiện nay, chúng ta có thể
và cần phải nêu bật sự thống nhất giữa triết học và chủ nghĩa xã hội (chính xác
hơn là chủ nghĩa cộng sản như bản thân C. Mác ưa thích sử dụng) vốn đặc trưng
cho quan điểm của C. Mác. Trong “Lời nói đầu” cho “Góp phần phê phán triết học
pháp quyền của Hegel”, C.Mác đã khẳng định, “giống như triết học tìm thấy vũ
khí vật chất của mình ở giai cấp vô sản, thì giai cấp vô sản cũng tìm thấy vũ
khí tinh thần của mình ở triết học”. Nhưng chúng ta cần phải hiểu rõ hơn giai cấp
vô sản cần triết học để làm gì, họ cần triết học nào và số phận liên minh giữa
họ với triết học trong lịch sử là thế nào? Trả lời cho câu hỏi thứ nhất
”giai cấp vô sản cần triết học để làm gì?” theo lập trường của C. Mác. Ở đây,
chúng ta cần nhớ lại cuộc luận chiến không quá ầm ĩ được C. Mác trẻ tuổi tiến
hành nhằm chống lại các học thuyết về chủ nghĩa cộng sản đang tồn tại khi đó.
Ông không ưa thích các học thuyết của Cabet, Dezamie, Weitling, v.v. trước hết
vì chúng vẫn còn mang trên mình dấu ấn của chế độ tư hữu thể hiện ở sự tập
trung hoàn toàn vào vấn đề về phân chia của cải vật chất (vấn đề phân phối).
Chủ nghĩa cộng sản như vậy có thể đòi hỏi thủ tiêu chế độ tư hữu, áp dụng nghĩa
vụ lao động và quyền nhận được của cải vật chất phù hợp với số lượng lao động
bỏ ra vào mọi người. Mặc dù vậy, theo C. Mác, chủ nghĩa cộng sản này không vượt
ra khỏi khuôn khổ của thế giới tư hữu. Hơn nữa, C. Mác còn cho rằng, chủ
nghĩa cộng sản “bình quân” thậm chí còn chưa phát triển tới trình độ tư hữu
phát triển ở chủ nghĩa tư bản. Với việc một người vô sản Anh phê phán khoa kinh
tế học chính trị là Reyuston, C. Mác viết trong “Các học thuyết về giá trị
thặng dư” rằng, ông ta theo chủ nghĩa khắc kỷ và sẵn sàng hy sinh mọi thành tựu
của nền văn minh tư bản chủ nghĩa chỉ nhằm mục đích xác lập bình đẳng. Trong
“Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, C. Mác trách cứ chủ nghĩa cộng sản
“bình quân” ở chỗ nó không nắm bắt được những thành tựu tích cực của chế độ tư
hữu, điều này thể hiện rõ qua việc nó phủ định cách trừu tượng toàn bộ thế giới
văn hóa và văn minh, quay trở về tính giản dị không tự nhiên của người nghèo và
không có nhu cầu, người này không những không vượt lên trên trình độ chế độ tư
hữu mà thậm chí chưa đạt tới chế độ đó. Theo C. Mác, chủ nghĩa cộng sản “bình quân”
chỉ kích thích khát vọng chiếm hữu vật chất. Dưới thời Xô Viết, việc phê phán
chủ nghĩa cộng sản “bình quân” của C. Mác trong “Bản thảo kinh tế - triết học
năm 1844”, đã bị bình luận theo tinh thần là chủ nghĩa cộng sản cần quan tâm
không những tới lĩnh vực sinh hoạt vật chất của con người mà còn tới cả lĩnh
vực sinh hoạt tinh thần, đề ra mục đích nắm bắt toàn bộ thế giới văn hóa do
loài người sáng tạo ra. Những bình luận như vậy là chấp nhận được ở một chừng
mực nhất định, nhưng đã bỏ qua thực chất của vấn đề. Mà thực chất ấy chính là ở
chỗ, khi nói về tính chất hèn mọn của khát vọng chiếm hữu vật chất, C. Mác muốn
khắc phục nguyên tắc “bình đẳng”. C. Mác trẻ tuổi không hướng tới bình đẳng,
chính xác hơn, ông muốn khắc phục nó theo tinh thần của Hegel, tức là đưa
nó như một yếu tố lệ thuộc vào quan niệm phát triển cao hơn về chủ nghĩa cộng
sản. Trong con mắt của C. Mác, bình đẳng tất nhiên bị nhiễm quá nặng tinh thần
tư sản, do vậy ông đặt trọng tâm vào cái khác - con người chiếm hữu “đời sống
tộc loại” của mình, mà đây chính là lý tưởng về tự do theo quan niệm của Hegel
- tự do đồng nhất với việc chủ thể tự sáng tạo ra bản thân mình. Chính để khắc
phục chủ nghĩa cộng sản bình quân, C. Mác cần hợp nhất giai cấp vô sản với
triết học, vì chỉ trong liên minh đó, giai cấp vô sản mới nhận được thuộc tính
phổ biến từ triết học, trở thành giai cấp “phổ biến” đặc biệt, có năng lực thực
hiện sứ mệnh giải phóng toàn thể nhân loại, như C. Mác viết trong “Lời nói đầu”
cho “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel”. Trước kia, chúng ta
thường nghe thấy rằng, C. Mác trẻ tuổi cố khắc phục chủ nghĩa duy tâm. Điều đó
là đúng. Nhưng C. Mác còn có một kẻ thù quan trọng nữa - chủ nghĩa cộng sản
“bình quân”. Vì vậy, C. Mác đối với chủ nghĩa cộng sản “bình quân”, ông tiếp
thu tư tưởng phê phán chủ nghĩa tư bản và sự cần thiết phải thiết lập chế độ
công hữu của chủ nghĩa cộng sản bình quân, song ông phê phán gay gắt, thậm chí
phủ định chủ nghĩa cộng sản kiểu ấy. Mặc dù chủ nghĩa cộng sản bình quân
hoàn toàn không thô lỗ tới mức chỉ hạn chế ở những vấn đề sinh hoạt vật chất.
Thí dụ, Babeuf (C. Mác chưa gọi ông ta là người theo chủ nghĩa cộng sản
“bình quân” trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, nhưng đã gọi như vậy
trong “Tuyên ngôn đảng cộng sản”) nhận thấy sự thất học của dân là một
trong những nguyên nhân để duy trì bất bình đẳng trong xã hội và do vậy đặc
biệt kiên định chế độ giáo dục không phải trả tiền dành cho toàn thể dân Pháp.
Ông là người ủng hộ chế độ tự quản trực tiếp của dân và qua đó thừa nhận giá
trị của tự do chính trị ở một chừng mực nhất định. Nhưng, những người theo chủ
nghĩa cộng sản bình quân không thường xuyên nhắc tới tự do, còn nếu có nhắc
tới, thì lại gắn liền nó với việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng như nguyên tắc
giữ vai trò hàng đầu đối với nguyên tắc tự do. Theo tinh thần như vậy, O.Blanki
đã nói rằng, không có tự do nếu không có bánh mỳ. Phán đoán này có thể là thô
lỗ xét từ góc độ triết học, song nó lại chỉ ra một trong các con đường hiện
thực dẫn tới tự do. Việc làm quen với tư tưởng của những người theo chủ nghĩa
cộng sản bình quân (đả đảo thị trường, tiền, tư hữu, dân chủ đại diện; ủng hộ
chuyên chính cách mạng, sở hữu công cộng, lao động phổ biến và phân phối theo
lao động muôn năm!) đưa chúng ta đến kết luận rằng, chủ nghĩa xã hội Xô Viết
thực ra là sự hiện thực hóa các tư tưởng của Babeuf, chứ không phải các tư
tưởng của C. Mác, nó chỉ tiếp nhận của C. Mác tư tưởng về tiến bộ khoa học -
sản xuất và hy vọng là tiến bộ này sẽ cho phép giải quyết những vấn đề xã hội
theo tinh thần cộng sản. Hơn nữa, khát vọng bình đẳng, hệ tư tưởng “bình đẳng”
đã chi phối cả các nước tư bản không những về mặt chính trị mà còn về mặt xã
hội, làm cho dân cư ở đó càng có thêm khát vọng sở hữu của cải vật chất.
J.Baudrillard cho rằng, xã hội tiêu dùng phương Tây là kẻ kế thừa, kẻ thực
thi lời di chúc của cách mạnh tư sản hay đơn giản của tất cả các cuộc cách mạng
nâng bình đẳng giữa mọi người lên thành nguyên tắc mà không biết cách (hay
không muốn) thực sự thực hiện nó. Giống như C. Mác, Baudrillard không thỏa mãn
với chính trị “bình đẳng”, vì nó phê chuẩn bình đẳng trước vật, đánh tráo những
cải tạo chính trị và xã hội cần thiết bằng “cách mạng phúc lợi”. Ông nói ra
điều đó sau C. Mác hơn 100 năm, khi mà chính trị “bình đẳng” đã trở thành hiện
thực ở nhiều nước. C. Mác nhận thấy trước khả năng phát triển nguy nan của bình
đẳng, khi mà nó mới chỉ là nguyên tắc lý luận. Nhằm khắc phục bất bình
đẳng, C. Mác đã sử dụng một số tư tưởng của triết học Hegel (tất nhiên, chúng
được ông chỉnh lý). Có thể viện dẫn vào “Bản thảo kinh tế - triết học năm
1844)” như một sự đối lập thực sự với chủ nghĩa cộng sản bình quân. Khác với
chủ nghĩa cộng sản này, C. Mác không quan tâm đến vấn đề tổ chức lao động và
phân phối của cải vật chất sản xuất ra trong xã hội cộng sản. Ông quan tâm đến
vấn đề con người có thể làm chủ toàn bộ sự phong phú của phát
triển xã hội trước đó, hay như C. Mác viết, “con người quay lại với chính mình
với tính cách là con người xã hội, nghĩa là có tính chất người”. Vì các chủ đề
của “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844” (tha hóa của lao động, của sản phẩm
lao động, tha hóa của con người khỏi “bản chất tộc loại” của mình, các
giai đoạn vượt bỏ tha hóa khác nhau của lao động, v.v.) là khá rõ ràng, nên có
thể dừng lại ở một trích dẫn mang tính then chốt đối với nhận thức về khác biệt
giữa quan điểm cộng sản của C. Mác so với tư tưởng cộng sản “bình quân”. C. Mác
nói về chủ nghĩa cộng sản rằng, “nó là sự giải quyết thực sự mâu thuẫn giữa con
người và tự nhiên, giữa con người và con người, là sự giải quyết thực sự cuộc
tranh chấp giữa tồn tại và bản chất, giữa sự đối tượng hóa và sự tự khẳng định,
giữa tự do và tất yếu, giữa cá thể và loài”. Giải quyết mâu thuẫn ở đây không
có nghĩa là thủ tiêu một trong các mặt của nó như điều này thường được lý giải
trong chủ nghĩa Mác hậu C.Mác, mà là “vượt bỏ” nó nhờ cải biến, giữ lại một mặt
mâu thuẫn này như mặt của mình đối với mặt mâu thuẫn khác. Nói vắn tắt, C. Mác
nói tới sự thống nhất cuối cùng đối với quá trình tha hóa - sự thống nhất giữa
các mặt đối lập như con người và tự nhiên, cá thể và loài,...; điều này có
nghĩa rằng, cá nhân nhận thấy xã hội không phải là lực lượng xa lạ đối với
mình, không phải là tất yếu bên ngoài, mà là bản thân mình, cá nhân hiểu là họ
đang sống cuộc sống của mình và do vậy có tự do: tất cả mọi hiện tượng xã hội ở
bên ngoài con người đều là thể hiện là những biểu hiện của bản thân con người.
Như vậy, chúng ta thấy rõ C. Mác đã khắc phục chủ nghĩa cộng sản bình quân như
thế nào - ông chuyển trọng tâm từ bình đẳng sang tự do được hiểu giống Hegel,
như việc con người ý thức được họ là kẻ sáng tạo ra thế giới xã hội họ đang
sống trong đó, sáng tạo ra sự thống nhất của mình với xã hội. Như đã rõ,
C. Mác phê phán các môn đệ của Hegel ở Đức, phái Hegel trẻ và phái Hegel già,
vì họ tước bỏ một trong các nguyên tắc (tự ý thức hay thực thể) của triết
học Hegel, cố gắng bác bỏ Hegel và bác bỏ nhau nhờ chính nguyên tắc đó. Có thể
nói về C. Mác rằng, ông tiếp thu của Hegel yếu tố tổng hợp trong quan hệ giữa
các mặt đối lập. Thực ra, C. Mác cũng đã chỉ ra “chủ nghĩa thực chứng phi phê
phán” của Hegel, nó thể hiện ở chỗ nội dung các giai đoạn vận động thấp hơn của
Tinh thần được giữ lại ở các giai đoạn phát triển cao hơn nhờ “vượt bỏ”. Ông
cũng nói rằng, xét theo quan điểm duy vật, đấu tranh giữa các mặt đối lập cần
phải kết thúc bởi thắng lợi của một trong các mặt (theo tinh thần đó, ông xem
xét triển vọng của đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản chống lại giai cấp
tư sản). Mặc dù vậy ông vẫn cho rằng, chủ nghĩa cộng sản có thể tiến hành tổng
hợp lao động (giai cấp vô sản) và tất cả những gì có giá trị đã được xã hội
sáng tạo ra trong điều kiện chế độ tư hữu.
C. Mác nhận thấy những
thành tựu của chủ nghĩa tư bản không những là ở chỗ nó đã phát triển sản xuất
vật chất, khoa học, như những người Mác xít ở thế kỷ XX đã lý giải tư tưởng của
ông, mà còn ở chỗ nó đã phát triển toàn diện hơn cá tính (indiviualité) của con
người. C. Mác đã chứng minh (và có thể xem đây là sự kế tục cuộc tranh luận của
ông với “chủ nghĩa cộng sản bình quân”) rằng, đơn giản thủ tiêu chế độ tư hữu
hay trở thành chủ sở hữu của cải vật chất là chưa đủ, con người còn cần “chiếm
hữu bản chất toàn diện của mình một cách toàn diện, nghĩa là như một con người
toàn vẹn”. Những điều nói trên cho phép rút ra kết luận rằng, theo C. Mác,
bản chất con người phát triển “một cách toàn diện” ở chủ nghĩa tư bản, nhưng nó
bị tha hóa khỏi con người, con người (lao động) bị tách rời khỏi bản chất
xã hội của mình (khoa học, nhà nước, đạo đức, v.v.). Trên thực tế, C. Mác viết:
“Cho nên xóa bỏ chế độ tư hữu có nghĩa là giải phóng hoàn toàn tất cả những cảm
giác và thuộc tính của con người; nhưng nó là sự giải phóng đó chính vì những
cảm giác và thuộc tính ấy đã trở thành của con người theo ý nghĩa chủ quan cũng
như theo ý nghĩa khách quan”. Những suy luận như vậy của C. Mác không phải gì
khác như là cải biến tư tưởng của Hegel về “vượt bỏ”, vì ông không bao giờ nói
về cách thức cần phải tách biệt những thành tựu tiến bộ của chế độ tư hữu khỏi
bản thân nó và tái hiện chúng trong điều kiện của chủ nghĩa cộng sản mà, như
chúng ta đã nói, có nguyên tắc cơ bản - công hữu (chủ nghĩa cộng sản) đối lập
với nguyên tắc tư hữu (chủ nghĩa cá nhân). Nhưng, tổng hợp, “vượt bỏ”, vòng
khâu tư biện trong vận động của Tinh thần tuyệt đối ở Hegel thể hiện tương đối
hữu cơ, vì mọi thành tựu của Tinh thần đều là quá trình tự nhận thức của nó.
Tinh thần bắt gặp một cái gì đó xa lạ ở trong bản thân mình, sau đó nhận thấy
nó là bản thân mình và yên tâm nhờ cảm nhận thấy mình là kẻ tự do, tức là không
bị phân chia ra thành các mặt đối lập. C. Mác lại chuyển vấn đề vào lĩnh vực
hiện thực vật chất, lao động có đối tượng vật thể, vào lĩnh vực quan hệ xã hội
giữa người với người.
Lý luận
về chủ nghĩa xã hội của C.Mác
Có thể chỉ ra mối liên hệ
giữa lý luận về CNXH của C. Mác và triết học Hegel bằng cách so sánh “Bản thảo
kinh tế - triết học năm 1844” với “Hiện tượng học tinh thần”. Trong “Bản thảo”,
bản thân C. Mác đã đưa ra đánh giá về “Hiện tượng học tinh thần” mà có thể áp
dụng vào hệ thống triết học Hegel nói chung. Phê phán Hegel vì ông ta chỉ
thừa nhận “hình thức tinh thần - trừu tượng” của lao động, nhưng C. Mác đánh
giá cao phương pháp của Hegel, “biện chứng phủ định” của Hegel như nguyên tắc
chi phối vận động của tinh thần. C. Mác nhiều lần đã nhắc lại rằng, rất khó,
nói chính xác hơn là không thể tách rời phương pháp của Hegel khỏi hệ thống duy
tâm của ông ta. Việc phân tích các tác phẩm của C. Mác đề cập tới việc thủ tiêu
tha hóa trong quan hệ giữa con người với xã hội đưa tới tư tưởng như vậy. Có
thể nhận thấy điều sau đây: trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”, C.
Mác không nói là bản thân Hegel mô tả xã hội tha hóa và triển vọng của nó như
thế nào (các mục “Giáo dục” và “Luân lý” trong “Hiện tượng học tinh thần”), ông
khảo cứu lược đồ tha hóa như phương pháp cho phép Hegel xây dựng hệ thống triết
học của mình. Nhưng chính các mục này cho phép nhận thấy sự tương đồng giữa
quan niệm của C. Mác và quan niệm của Hegel về tha hóa.
Thực chất của học thuyết
C. Mác về chủ nghĩa cộng sản đã được gắn liền với tư tưởng về sự thống nhất
giữa cá nhân với xã hội trở nên phong phú nhờ phủ định. Chính sự thống nhất này
có nguyên mẫu trực tiếp ở trong “Hiện tượng học tinh thần”, mặc dù không chỉ có
ở trong nó. Không dừng lại ở những giai đoạn tích hợp trung gian được Hegel
phát hiện ra ở trong quá trình vận động của tinh thần đang hướng tới ý niệm
tuyệt đối và tự do, chúng ta sẽ tìm kiếm trong trình bày của Hegel chỗ gần gũi
nhất về chủ đề và nội dung với những suy luận của C. Mác ở trong “Bản thảo kinh
tế - triết học năm 1844”. Đó có thể là trích đoạn về tha hóa ngay lập tức nối
tiếp việc mô tả sự thống nhất không thể phá vỡ giữa thực thể với những tự
ý thức đơn nhất trong đạo đức và bàn về việc phá vỡ sự thống nhất giữa cái
riêng và cái chung từng tồn tại trong đạo đức, việc phá vỡ bắt đầu diễn ra cùng
với sự xuất hiện pháp luật được Hegel diễn đạt là “cái chung hình thức, chết
cứng”. Trong thế giới pháp luật, tất cả mọi người đều tha hóa khỏi nhau và khỏi
“thực tại bị tha hóa” đứng đối lập với họ. Theo Hegel, thực tại này bao gồm thế
giới nhà nước như “cái chung đơn giản”, thế giới của cải là nơi “thói ích kỷ”
và lợi ích vị kỷ ngự trị, thế giới tinh thần (các khái niệm và niềm tin) bị tha
hóa khỏi thế giới này. Rốt cuộc, có thể ghi nhận rằng, Hegel nói tới tha hóa
đối với chính thời đại được C. Mác đề cập tới, thời đại mà kinh tế thể hiện là
lĩnh vực vị kỷ phổ biến, tính phổ biến của pháp luật, nhà nước, tri thức, niềm
tin đứng đối lập với tính biệt lập của cá nhân trong lĩnh vực kinh tế. Hegel
cho rằng, tha hóa sẽ bị thủ tiêu nhờ giáo dục, khi mà sự tha hóa của các lĩnh
vực tinh thần và hiện thực bị tha hóa được xác định, khi mà kinh tế, pháp luật
và nhà nước được làm sáng tỏ như các tính quy định chung của bản nguyên chủ
quan cá nhân và sự thống nhất giữa cái riêng chủ quan với cái chung khách quan
được xác định. Rốt cuộc, giống như khi C. Mác định nghĩa chủ nghĩa cộng sản,
Hegel rút ra kết luận về việc dung hòa tất cả mọi bản nguyên thù địch và sự ra
đời của tinh thần “tự do tuyệt đối”. Tự do như vậy thể hiện là ý chí, nhưng
không phải là ý chí tính toán được bằng số học vốn đặc trưng cho dân chủ đại
diện, mà đồng thời là ý chí chung và là ý chí bao hàm vô số ý chí riêng: “...ý
chí này không phải là tư tưởng trống rỗng về ý chí thể hiện ở sự im lặng hay ở
sự nhất trí được biểu thị thông qua đại diện, là ý chí chung thực sự, là ý
chí của mọi cá nhân riêng biệt. Vì ý chí tự thân nó là ý chí của cá nhân hay
của “mỗi người” và nó cần phải là ý chí hiện thực đích thực, là bản chất có tự
ý thức của mọi người và của mỗi cá nhân, do vậy mỗi người đều tham gia vào mọi
hoạt động, hoạt động của tổng thể chính là hoạt động trực tiếp và tự giác của
mỗi người”. Vốn hợp nhất lợi ích chung và ý chí của mỗi người, ý chí là nguyên
mẫu thực sự để C. Mác hợp nhất cá nhân với loài sau khi vượt bỏ tha hóa của
“đời sống tộc loại”.
Như vậy, tư tưởng của
Hegel về “tự do tuyệt đối”, thế giới thống nhất và chuyển hóa lẫn nhau giữa các
hiện tượng trước đó thù địch với nhau được xác định là nguyên mẫu cho chủ nghĩa
cộng sản của C. Mác. Nhằm khẳng định hoàn toàn không có gì bịa đặt trong luận
điểm đó, có thể viện dẫn vào H.Lucacs. Trong tác phẩm “Lịch sử và ý thức giai
cấp” (1923), ông mô tả chủ nghĩa xã hội là thế giới thường biến tuyệt đối nhờ
tuân theo tinh thần của Hegel đã xác định “tự do tuyệt đối”, tức là tính thường
biến của các hiện tượng và sự chuyển hóa lẫn nhau của chúng. Xét về phương diện
này, khái niệm “tự do tuyệt đối” của Hegel có sắc thái tiêu cực đậm nét, có thể
biến thành mối nguy hiểm đối với cá nhân, vì cá nhân bị tước mất những khác
biệt vững bền. Hegel nói rằng, “tự do tuyệt đối” dẫn tới cái chết của “tính độc
đáo”, “tính đơn nhất”, tức là mỗi người đều không tin tưởng vào sự tồn tại của
mình và có thể bị thay thế bằng người khác. Quan niệm của C. Mác về sự thống
nhất của các cá nhân trong xã hội mang tính chất lý tưởng và có nội
dung tích cực hơn. Do vậy, nguyên mẫu cho quan niệm của ông về chủ nghĩa
cộng sản thực ra có thể không phải là khái niệm “tự do tuyệt đối”, mà là khái
niệm “lương tâm”, theo Hegel, là thành tựu tối cao của tinh thần đạo đức. Hegel
viết về tự ý thức rằng, với tư cách “lương tâm”, nó có “tính xác thực của bản
thân mình là nội dung dành cho bổn phận cho tới nay vẫn trống rỗng, cũng như
cho pháp luật trống rỗng và ý chí chung trống rỗng”. Lương tâm ở Hegel là đối
cực của sự tha hóa cùng với thế giới những khái niệm trừu tượng chung về pháp
luật và nhà nước đặc trưng cho nó, nó là cái chung bao hàm trong mình cái cụ
thể, cái chung sống động. Nhưng, các hình thức nêu trên của “cái chung sống
động” có thể được tư duy hay trực giác, trong khi đó không thể đưa chúng vào
hiện thực khách quan. Song, C. Mác lại hướng tới chính việc đưa “cái chung sống
động” đó vào hiện thực khách quan khi xây dựng quan điểm của mình về chủ nghĩa
cộng sản.
Có thể tiếp tục tìm kiếm
nguyên mẫu cho quan niệm của C. Mác về chủ nghĩa cộng sản trong triết học
Hegel: Tác phẩm “Triết học pháp quyền” được hoàn thành vào năm 1821, tức là 14
năm sau “Hiện tượng học tinh thần”. Hegel đưa ra một quan niệm khác về nhà nước
trong tác phẩm này. Trong “Hiện tượng học tinh thần”, nhà nước thể hiện là lĩnh
vực tha hóa, lĩnh vực cái chung đứng đối lập với những cá nhân riêng biệt.
Trong “Triết học pháp quyền”, nhà nước là hình thức tổng hợp, là cái chung cụ
thể, còn xã hội công dân thể hiện là lĩnh vực tha hóa, phân đôi giữa cái riêng và
cái chung mà rốt cuộc trở thành cái chung hình thức, bản nguyên mang tính chung
hình thức của quan hệ kinh tế và pháp luật đứng đối lập với các cá nhân
trong xã hội công dân. Như vậy, nếu định hướng vào “Triết học pháp quyền”, vì
nhà nước là sự tổng hợp tối cao và là tâm điểm của tự do, nên nhà nước trở
thành nguyên mẫu cho chủ nghĩa cộng sản của C. Mác. Chúng ta kết thúc sự so
sánh giữa triết học của Hegel với chủ nghĩa cộng sản của C. Mác ở đây và quan
tâm tới vấn đề về những khác biệt giữa Hegel và C. Mác về phương diện triết học
theo nhận thức của bản thân C. Mác.
Trong “Góp phần phê phán
triết học pháp quyền của Hegel” (1843), C. Mác phê phán chủ nghĩa duy tâm của
Hegel trong việc luận giải các vấn đề về nhà nước và xã hội công dân: chúng thể
hiện ở Hegel là các vòng khâu trong phát triển của tinh thần, vốn là tinh thần
“chung” dưới hình thức nhà nước, tinh thần này tách biệt các lĩnh vực tinh thần
hữu hạn (gia đình, xã hội công dân) ra khỏi mình và, sau khi kinh qua chúng, nó
trở thành cái chung cụ thể. Đây là những điều dễ hiểu, nhưng điều quan trọng là
C. Mác vạch ra “chủ nghĩa thần bí logic, phiếm thần” ở Hegel, nhận thấy
“chủ nghĩa thần bí” chỉ ở chỗ các hiện tượng thực tại ở Hegel bị biến thành các
vòng khâu trong vận động của tinh thần, do vậy toàn bộ triết học pháp quyền trở
thành “logic học ứng dụng”. Như vậy, cái mang tính “thần bí” đơn giản là chủ
nghĩa duy tâm triết học, chứ không phải là vận động “vượt bỏ” được nhà nước
thực hiện đối với các lĩnh vực lợi ích tư nhân, không phải là tư tưởng của
Hegel về cái chung bao hàm trong mình cái riêng và về cái riêng đang trở thành
cái chung. Quẳng bỏ chủ nghĩa duy tâm của Hegel, C. Mác đơn giản “đảo lộn” toàn
bộ hệ thống Hegel: nếu nhà nước ở Hegel tách biệt xã hội công dân khỏi mình
(điều này là xác đáng về mặt lịch sử và C. Mác thừa nhận nó), thì xã hội
công dân ở C. Mác thành lập nhà nước, hơn nữa là nhà nước trở thành cái chung
trừu tượng theo tinh thần của Hegel. Tiếp theo, kế thừa Hegel, C. Mác đặt ra
nhiệm vụ vượt bỏ sự tách biệt của nhà nước trừu tượng (tức là nền dân chủ) khỏi
cuộc sống thế tục của nhân dân, như ông nói, “đưa nhà nước chính trị quay trở
về với thế giới hiện thực”. C. Mác gắn liền việc hợp nhất nhà nước chung - trừu
tượng với lĩnh vực lợi ích của công dân và sự xuất hiện của cái chung cụ thể
với cách mạng vô sản. Hegel cố nhận thấy việc hợp nhất ấy ở trong chế độ quân
chủ lập hiến cùng với các yếu tố đẳng cấp. Vốn được bộc lộ vào năm 1843, chủ ý
của C. Mác nhằm hợp nhất nhà nước với lĩnh vực lợi ích tư nhân được ông giữ lại
cả trong giai đoạn muộn hơn, trong tư tưởng về sự tiêu vong của nhà nước ở giai
đoạn tối cao của xã hội cộng sản.
Trong “Bản thảo kinh tế -
triết học năm 1844”, C. Mác phê phán toàn diện hệ thống triết học của Hegel,
chính xác hơn là “Hiện tượng học tinh thần” của Hegel. Giống như ở phần trên,
đối tượng phê phán chủ yếu của C. Mác là chủ nghĩa duy tâm của Hegel, là việc
Hegel xem xét nhà nước, của cải, v.v. hoàn toàn dưới hình thức “tư tưởng” và
quan niệm chúng là các vòng khâu trong quá trình sinh thành của tri thức tuyệt
đối. Tiếp theo, C. Mác nói tới “sự vĩ đại của “Hiện tượng học tinh thần” của
Hegel và kết quả cuối cùng của nó - biện chứng của tính phủ định với tính cách
là nguyên lý thúc đẩy và sản sinh”. “Phép biện chứng của tính phủ định” là quan
trọng đối với C. Mác vì thông qua nó, như ông nói, Hegel “xem xét sự tự sản
sinh của con người như là một quá trình, xem xét sự đối tượng hóa như là
sự phân hóa đối tượng, như là sự tha hóa và sự tước bỏ sự tự tha hóa ấy, do đó
ông nắm lấy bản chất của lao động và hiểu con người đối tượng, con người chân
chính, vì có tính chất hiện thực, là kết quả của lao động của bản thân con
người”.
Trước hết sẽ nảy sinh vấn
đề: tư tưởng của C. Mác cho rằng, thực chất của “Hiện tượng học tinh thần” thể
hiện ở tư tưởng về sự sinh thành con người kinh qua lao động, là tư tưởng xác
đáng ở chừng mực nào? Câu trả lời có thể được trình bày như sau: trong quá
trình phân tích tác phẩm của Hegel, C. Mác đã xây dựng quan điểm độc đáo, riêng
của ông về sự tha hóa nhờ gắn liền nó trước hết với lao động làm thuê của công
nhân tại các xí nghiệp công nghiệp. Song, vấn đề về quan hệ của quan điểm ấy
với triết học Hegel đòi hỏi phải được xét lại, cũng như phải xét lại sự đánh
giá triết học Hegel từ phía C. Mác. Hegel nhận thấy nhiệm vụ của mình là nghiên
cứu quá trình sinh thành chân lý, ông lần đầu tiên trong lịch sử triết học đã
luận giải chân lý không phải theo nghĩa nhận thức hiện thực bên ngoài đối với
con người, ông tiến hành phân tích các hình thức chủ quan mang tính lịch sử của
tinh thần, các thể chế xã hội để xem xét chân lý. Do vậy, “Hiện tượng học tinh
thần” đề cập không đơn giản tới quan hệ của ý thức với thế giới đối tượng, mà
còn tới các đặc điểm của tự ý thức xã hội, tới việc thực hiện nó vào hiện thực,
tới đạo đức, nhà nước và pháp luật, qua đó Hegel hình thành tư tưởng về quá
trình sinh thành Tri thức tuyệt đối. C. Mác quy tất cả những tính quy định
phong phú đó của tinh thần và lịch sử thành tư tưởng về lao động và chủ yếu là
về lao động làm thuê.
Điều này có ý nghĩa gì
đối với sự luận giải cơ cấu xã hội đã được Hegel đưa ra? Trước hết là việc đơn
giản hóa nó, là việc loại bỏ hàng loạt phương diện xã hội hay là việc tái luận
giải chúng dựa trên cơ sở các quy luật lao động. Cách luận giải như vậy sẽ thủ
tiêu cái chung (xã hội, nhà nước) ở Hegel hoặc hợp nhất nó với cái riêng, nếu
thừa nhận tư tưởng của C. Mác rằng, lao động của giai cấp vô sản là bản nguyên
chung, quy định cơ cấu của xã hội. Nối tiếp Hegel, ở đây, C. Mác một lần nữa
lại cho thấy định hướng thường xuyên vào “cái chung cụ thể” được ông xây dựng
dựa trên nguyên tắc “vượt bỏ”, “chiếm hữu”, v.v. của Hegel. Chính điều này lý
giải sự quan tâm của C. Mác đến “phép biện chứng của tính phủ định” của Hegel.
Quy giản lịch sử của chân lý về lịch sử của lao động và sản xuất, C. Mác luận
giải “phép biện chứng của tính phủ định” của Hegel như vận động của sự tha hóa
của lao động; C. Mác biến phương pháp triển khai chân lý của Hegel thành nguyên
tắc phát triển của lao động và con người trong xã hội. Còn đối với những suy
luận của Hegel về những sai lệch của sự tha hóa trong thế giới “học vấn” (“Hiện
tượng học tinh thần”), thì C. Mác không nhắc tới chúng khi đưa ra đánh giá
chung về triết học Hegel ở cuối “Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844”. Điều
đó xảy ra có thể vì thông qua chúng, Hegel nhận thấy lao động không phải là
lĩnh vực tha hóa chủ yếu, mà thực ra là vòng khâu mang tính trung gian hóa giữa
tự nhiên và xã hội, giữa xã hội và cá nhân. Ông viết: trong lao động của mình,
mỗi người đều “... làm việc vì mọi người hệt như vì bản thân, cũng như mọi
người làm việc vì người ấy”, không ai có thể “làm một điều gì đó mà không phục
vụ lợi ích của mọi người”. Vấn đề không phải là tán thành tư tưởng của Hegel
rằng, tất cả mọi thứ trong xã hội đều được làm vì lợi ích của mọi người.
Cần phải nhấn mạnh điều khác là: Hegel quan niệm nguồn gốc của sự tha hóa không
phải là lao động và không phải là một hình thức lao động đặc biệt (như lao động
làm thuê của công nhân ở C. Mác), mà là toàn thể xã hội. Mặc dù các khái niệm
“lao động” và “sự tha hóa của lao động” trong “Bản thảo kinh tế - triết học năm
1844” của C. Mác có hai nghĩa, song ông hoàn toàn không giải thích rõ quan hệ
giữa chúng.
Nghĩa thứ nhất gắn liền
với việc đồng nhất lao động bị tha hóa với lao động của công nhân phân xưởng.
Phương diện này đương nhiên là khả thể trong việc xem xét các hình thức của sự
tha hóa xã hội, nếu nhận thấy lao động của công nhân là hàng hóa vận động theo
các quy luật của thị trường. Sự tha hóa của công nhân trong trường hợp này thể
hiện là một phương diện của sự tha hóa có quy mô lớn hơn (dưới hình thức thị
trường), chủ thể của nó là cộng đồng người. Nhưng, trong “Bản thảo kinh tế -
triết học năm 1844”, C. Mác chủ yếu xem xét sự tha hóa của công nhân như một
hiện tượng độc lập, còn bản thân công nhân là chủ thể làm cho lao động của
mình, sản phẩm lao động của mình, bản chất loài của mình bị tha hóa. Không phải
hoạt động của cộng đồng người, mà hoạt động của công nhân phân xưởng là nguồn
gốc của sự tha hóa và là lực lượng gánh vác lấy việc khắc phục sự tha hóa, một lần
nữa lại chiếm hữu lao động của mình, kết quả lao động của mình và bản chất loài
của mình, bản chất mà công nhân đã bị tách rời khỏi nó. Bằng con đường như vậy,
C. Mác chứng minh sự đồng nhất tất yếu trong tương lai giữa cá nhân và loài,
giữa việc cá nhân (công nhân) chiếm hữu bản chất loài của mình và
việc khắc phục hạn chế của chủ nghĩa cộng sản bình quân là chủ nghĩa chỉ
có kỳ vọng để người lao động sở hữu những của cải vật chất và văn hóa.
Nghĩa thứ hai của “lao
động bị tha hóa” chỉ được C. Mác nhắc tới một lần trong “Bản thảo kinh tế -
triết học năm 1844” và gần gũi hơn với quan niệm của Hegel về sự tha hóa, có
liên quan tới lao động được xem xét trên quy mô toàn thể xã hội: tới phân công
lao động xã hội và trao đổi. Thực ra, Hegel cũng hiểu sự tha hóa là như vậy khi
ông xác định lĩnh vực chủ nghĩa cá nhân và thói ích kỷ kinh tế là lĩnh vực tha
hóa chủ yếu. Nhiều đại diện của chủ nghĩa xã hội trước và sau C. Mác đã nhận
thấy sự tồn tại của trao đổi, quan hệ thị trường chính là nguồn gốc của sự bất
bình đẳng. Bản thân C. Mác biểu thị toàn bộ tổng thể quan hệ hàng hóa chính là
“tệ sùng bái hàng hóa” trong “Tư bản” và thừa nhận chúng là nguồn gốc của những
sự thần bí xã hội, là lĩnh vực tự phát, chỉ có việc con người quản lý một cách
tự giác các quá trình xã hội mới khắc phục được nó. Đây là một tư tưởng giữ một
vị trí quan trọng trong lịch sử của chủ nghĩa xã hội.
3. Kết
luận
Triết học về sự tha hóa
được C. Mác tiếp thu từ Hegel ở những năm 40 thế kỷ XIX để khắc phục hạn chế
của chủ nghĩa cộng sản bình quân. Quan điểm về sự tha hóa của lao động cho phép
ông phát triển quan niệm về tự do của cá nhân và bắt bình đẳng phục tùng tự do,
mặc dù tự do này có tính chất của sự thống nhất trực tiếp giữa cá nhân với xã
hội. Sau này, khi C. Mác hình thành tư tưởng rằng, sự bắt đầu của chủ nghĩa
cộng sản sẽ là hệ quả của những quá trình lịch sử khách quan và trước hết của
sự phát
triển sản xuất, thì đề
tài về cá nhân, tự do cá nhân và quan hệ của cá nhân với những cá nhân khác
trong xã hội cộng sản sẽ bị ông đẩy xuống hàng thứ yếu. Ông bắt đầu kiên định
sự cần thiết công hữu hóa sản xuất và điều tiết sản xuất một cách tự giác, theo
kế hoạch. Qua đó tự do bị quy giản thành nhận thức về những yêu cầu của quá
trình sản xuất, song ông thật ra còn giả định khả năng của tự do cá nhân ở bên
ngoài lĩnh vực lao động. C. Mác cho rằng, ở giai đoạn đầu của CNCS, lao động
vẫn sẽ là tất yếu và mỗi người sẽ nhận được thu nhập một cách phù hợp với lao
động của mình. Ông biến việc khắc phục nguyên tắc bình quân thành nhiệm vụ ở
giai đoạn thứ hai của chủ nghĩa cộng sản. C. Mác dường như quay lại với tư
tưởng của mình ở thời trẻ tuổi là tư tưởng về tự do và phát triển các năng lực
của mỗi cá nhân, là sự hài hòa hoàn toàn giữa cá nhân với xã hội mà ông đã tiếp
thu từ Hegel. C. Mác là ông tổ của chủ nghĩa cộng sản có mục đích tối hậu là
“phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho phát triển tự do của mọi
người, và ngược lại”. Đây chính là bản chất nhân văn của lý luận về CNCS của C.
Mác và nó thể hiện ở tất cả các trào lưu xã hội chủ nghĩa.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. C.
Mác, Ph.Ăngghen. Toàn tập, t. 1, Nxb. Chính trị quốc gia, HN. 2002.
2. C.
Mác, Ph.Ăngghen. Toàn tập, t. 42, Nxb. Chính trị quốc gia, HN.,
2000.
3.
J.Baudrillard. La societe de consummation (Xã hội tiêu dùng).
Paris, 1970.
4.
G.W.F.Hegel. Hiện tượng học tinh thần. Nxb. Văn học, HN.,
2006.