Tóm tắt: Xu hướng chuyển đổi sang nền kinh tế xanh trong bối cảnh biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng hiện diễn ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Bài viết tiếp cận tổng quan các quan điểm về việc làm xanh, làm rõ thực trạng phát triển việc làm xanh ở Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy việc làm xanh, tạo động lực tăng trưởng xanh hướng tới phát triển bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: Việc làm xanh; phát
triển bền vững; phát triển; kinh tế xanh.
Abstract: The trend of
transitioning to a green economy in the context of increasingly serious climate
change and environmental degradation is currently taking place in most
countries around the world. The article provides an overview of perspectives on
green jobs, clarifies the current status of green job development in Vietnam,
and thereby proposes solutions to promote green jobs and create green growth
momentum towards sustainable development in Vietnam.
Keywords: Green jobs;
sustainable development; development; green economy.
Ngày nhận bài:
10/02/2025; Ngày sửa bài: 06/03/2025; Ngày duyệt đăng bài: 28/04/2025.
1. Khái quát về
phát triển bền vững và việc làm xanh
Thuật ngữ “phát
triển bền vững” theo Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED), là sự
phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn
hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai... Phát triển
bền vững phải bảo đảm phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi
trường được bảo vệ, gìn giữ, trong đó vai trò chủ đạo của việc làm xanh có đóng
góp quan trọng.
Hiện nay, chưa có
khái niệm chung thống nhất về việc làm xanh trên thế giới. Theo Tổ chức Lao
động Quốc tế (ILO, 2016), việc làm trong lĩnh vực xanh hay việc làm xanh
là những công việc chính đáng góp phần bảo vệ hoặc tái tạo môi trường, là những
công việc thuộc các ngành truyền thống như sản xuất và xây dựng, hoặc là thuộc
các lĩnh vực xanh mới nổi như năng lượng tái tạo và năng lượng hiệu quả. Việc
làm xanh giúp cải thiện hiệu suất năng lượng và hiệu suất sử dụng của các
nguyên liệu thô; hạn chế phát thải khí nhà kính; giảm đến mức thấp nhất chất
thải và ô nhiễm; bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái; hỗ trợ việc thích ứng với
những tác động của biến đổÌ khí hậu. Nội hàm việc làm xanh theo định nghĩa của
ILO không chỉ hướng đến sự bền vững của môi trường mà còn hướng đến sự bền vững
của xã hội được xác định theo ba phương diện: (1) Việc
làm trong các ngành sản xuất hàng hóa và dịch vụ về môi trường đầu ra liên quan
đến môi trường; (2) Việc làm thúc đẩy quá trình bảo vệ (thân thiện) với môi
trường (việc làm trong các hoạt động sản xuất có quy trình thân thiện với môi
trường); (3) Việc làm thỏa đáng. Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ (BLS) tiếp cận
việc làm xanh theo khái niệm của ILO dưới hai góc độ: (1) Việc làm trong các
doanh nghiệp sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ có lợi cho môi trường hoặc
bảo tồn tài nguyên thiên nhiên; (2) Công việc của người lao động liên quan đến
việc làm trong quy trình sản xuất hướng tới thân thiện hơn với môi trường hoặc
sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn. Trong báo cáo sơ bộ về việc làm xanh của
UNEP & cộng sự (2008), việc làm xanh là việc làm trong lĩnh vực nông
nghiệp, chế tạo, nghiên cứu và phát triển, các hoạt động hành chính và dịch vụ
đóng góp vào bảo tồn hoặc phục hồi chất lượng môi trường, bao gồm các công việc
giúp bảo vệ hệ sinh thái và đa dạng sinh học, giảm tiêu thụ năng lượng, nguyên
vật liệu và tiêu thụ nước thông qua việc sử dụng hiệu quả các chiến lược như
phát triển nền kinh tế carbon thấp. Mặc dù nhiều khái niệm khác nhau được đưa
ra về việc làm xanh nhưng về căn bản nội hàm việc làm xanh vẫn theo tiêu chí
việc làm xanh của ILO.
Dựa trên góc nhìn
đa chiều, Báo cáo của Manpower Group đã phân loại các vị trí việc làm xanh thành năm “sắc thái” khác nhau, phản ánh các mức độ khác
nhau về trách nhiệm và kỹ năng liên quan gồm: (1) Việc làm Xanh (Green jobs) là
những vị trí đang góp phần vào sự bền vững của môi trường nhưng không yêu cầu
kỹ năng mới; (2) Việc làm Xanh hóa (Greening jobs) là những vị trí đang ngày
càng có tác động lớn hơn đến sự bền vững của môi trường và đòi hỏi một số kỹ
năng mới; (3) Việc làm Xanh (Green + jobs) là những vị trí mới được tạo ra để
thúc đẩy sự bền vững của môi trường và sẽ đòi hỏi nhiều kỹ năng mới; (4) Kỹ
năng xanh (Green skills) là những kiến thức, kỹ năng chuyên môn và kỹ năng mềm,
giá trị, thái độ cần thiết trong cuộc sống giúp hỗ trợ và phát triển hiệu quả
một xã hội bền vững; (5) Việc làm không-xanh (Non-green jobs) là những vị trí
không đóng góp vào nỗ lực phát triển môi trường bền vững nói chung của doanh
nghiệp. Việt Nam cũng đã có những bước tiến trong việc thúc đẩy tăng
trưởng xanh bằng việc ban hành các chiến lược, chính sách quan trọng cùng với
các cam kết mạnh mẽ trong các hiệp định thương mại Việt Nam đã tham gia ký kết.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển bền vững đất nước cùng với xanh
hóa nền kinh tế đã được xác định trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau như
Quyết định 153/2004/Q Đ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành
chiến lược bền vững ở Việt Nam; Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 phê
duyệt Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng Xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm
nhìn đến năm 2050, trong đó thuật ngữ “việc làm xanh” đã được đề cập thông qua
mục tiêu “xanh hóa sản xuất”; Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 20/3/2014 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai
đoạn 2014-2020; Quyết định số 1183/QĐ-TTg ngày 30/8/2012 của Thủ tướng Chính
phủ về Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn
2012-2015; Quyết định số 882/2022/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ
về việc Phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh trong đó xác
định vai trò và trách nhiệm cụ thể của các bộ, ngành và cơ quan trong tạo việc
làm xanh... Quyết định 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt chiến lược quốc
gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050, theo đó chiến lược
tăng trưởng xanh được đề ra trong phát triển nguồn nhân lực và việc làm xanh,
khuyến khích phát triển nguồn nhân lực cho các ngành nghề xanh, tạo việc làm
xanh, chú trọng tổ chức đào tạo và bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng quản trị, điều
hành trong nền kinh tế xanh, ngành sản xuất xanh cho đội ngũ cán bộ quản trị công
và doanh nghiệp; đồng thời thúc đẩy công tác nghiên cứu, khảo sát, thống kế số
liệu, định kỳ dự báo nhu cầu và khả năng cung ứng nguồn nhân lực cho các ngành
nghề xanh; phổ biến, cung cấp thông tin về thị trường việc làm xanh, theo đó
khái niệm việc làm xanh được định nghĩa là những việc làm bền vững góp phần bảo
tồn hoặc khắc phục môi trường, việc làm xanh có thể là những công việc trong
các ngành kinh tế truyền thống như chế biến, chế tạo và xây dựng, hoặc
trong các ngành kinh tế xanh mới nổi như năng lượng tái tạo và sử dụng năng
lượng tiết kiệm, hiệu quả.
Việt Nam đã ban
hành Bộ chỉ tiêu thống kê tăng trưởng xanh (Thông tư số 10/2023/ TT-BKHĐT) và
đang triển khai để ban hành Hệ thống ngành kinh tế xanh quốc gia, phân loại
xanh nhằm thúc đẩy phát triển bền vững, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đang đề
xuất xây dựng Bộ chỉ tiêu việc làm xanh ở Việt Nam nhằm đo lường chính xác việc
làm xanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau, đồng thời sẽ là cơ sở khoa học cho việc
xây dựng chính sách liên quan đến phát triển việc làm bền vững về môi trường.
Nhìn chung, căn cứ vào các tiếp cận khác nhau về việc làm xanh, có thể xác định
việc làm xanh là những việc làm trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch
vụ và quản lý hướng tới việc bảo vệ môi trường, đảm bảo cho xã hội phát triển
bền vững, tạo ra việc làm thỏa đáng hơn nữa cho người lao động. Trong bối cảnh
hiện nay, phát triển bền vững là một trong những mục tiêu đang được các doanh
nghiệp Việt Nam hướng đến, kéo theo việc phát triển các công việc có yếu tố
“xanh” hay còn gọi là việc làm xanh trên thị trường lao động.
2. Thực trạng phát
triển việc làm xanh ở Việt Nam hiện nay
Trong những năm gần
đây, nền kinh tế Việt Nam đang có sự chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng phát triển
bền vững để phù hợp với những cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết trong
các hiệp định thương mại tự do như EVFTA, CPTPP, đây cũng là yếu tố thúc đẩy
doanh nghiệp tạo ra nhiều việc làm “xanh” hơn. Bên cạnh
đó, Việt Nam được đánh giá đang ở trong thời kỳ “dân số vàng”, với quy mô dân
số trong độ tuổi lao động dồi dào. Hằng năm, có khoảng 500.000 người bổ sung
vào lực lượng lao động; lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý I/2025
là 52,9 triệu người, giảm 230.700 người so với quý trước và tăng 532.000 người
so với cùng kỳ năm trước, Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ tính
đến quý I/2025 là 28,8%, tăng 0,2% so với quý trước và tăng 1% so với cùng kỳ
năm trước, tỉ lệ nghề có kĩ năng trung bình và kỹ năng cao trong số việc làm
xanh cao hơn tỷ lệ này trong nhóm việc làm không xanh (92% so với 74%); người
lao động làm việc trong các nghề xanh, ngành xanh có trình độ giáo dục cao hơn
so với lao động trong các nghề không xanh. Đây là những lợi thế để lao động nắm
bắt những cơ hội việc làm trong quá trình chuyển đổi xanh. Đây là điều kiện thuận
lợi về nhân lực cho các ngành xanh, việc làm xanh phát triển ở Việt Nam trong
điều kiện hiện nay. Theo kết quả khảo sát của ManpowerGroup Việt Nam, thống kê
trên 350 vị trí việc làm xanh tại Việt Nam trong nửa đầu năm 2023 cũng cho
biết, nhu cầu việc làm xanh cao nhất đến từ các ngành sản xuất (30%), y tế
(20%), công nghệ (17%), năng lượng và hóa dầu (15%), kinh doanh (9%), nông
nghiệp (5%), vận tải và hậu cần (2%)....
Theo tiếp cận
nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2022, căn cứ theo vị trí địa lý,
việc làm xanh và việc làm trong các ngành xanh tập trung nhiều hơn ở vùng đồng
bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung và vùng đồng bằng sông Cửu
Long, trong khi việc làm xanh tiềm năng lại trải rộng hơn. Các tỉnh có mức độ
việc làm xanh cao nhất là Yên Bái (13%), Bạc Liêu (12%) và Sóc Trăng (9%). Các
khu vực Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên có tỷ trọng và mức độ việc làm xanh
thấp.
Với tốc độ tăng
trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế xanh, Việt Nam đã có những ảnh hưởng tích cực
đến các yếu tố xã hội, đặc biệt trong việc tạo ra các việc làm chất lượng cao
trong các lĩnh vực kinh tế xanh. Theo ước tính vào năm 2020, nền kinh tế xanh
đem lại được hơn 400 nghìn việc làm, với hơn một nửa đến từ các hoạt động nông,
lâm nghiệp xanh, công nghệ cao (33%) và hoạt động công nghiệp, chủ yếu trong
hoạt động sản xuất các thiết bị, máy móc, phụ tùng phục vụ cho hoạt động sản
xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (28%).
Theo ILO, quá trình
chuyển đổi năng lượng bền vững trên toàn cầu có thể tạo ra khoảng 25 triệu việc
làm vào năm 2030. Trong đó, Châu Á - Thái Bình Dương, bao gồm Việt Nam là khu
vực có tiềm năng gia tăng mạnh mẽ với khoảng 14,2 triệu việc
làm xanh nếu các
quốc gia kiên trì đầu tư vào môi trường. Trong đó, sự chuyển đổi cơ cấu nền
kinh tế của Việt Nam sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm xanh trong các ngành kinh
tế mới nổi và truyền thống, nhất là ở những ngành kinh tế có nhiều đóng góp cho
các hoạt động kinh tế xanh trong nước như năng lượng tái tạo, giao thông vận
tải, xử lý rác thải và xây dựng, phát triển du lịch sinh thái... Ngoài ra, hơn
một nửa trong 400 nghìn việc làm do nền kinh tế xanh tạo ra đến từ các hoạt
động nông - lâm nghiệp xanh và công nghệ cao. Mặc dù hiện nay ở Việt Nam, theo
Nghiên cứu do Ngân hàng Thế giới (WB) phối hợp với Tổng cục Thống kê cho thấy,
việc làm xanh chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số việc làm (3,6%) với 39 “nghề
xanh”. Tỷ lệ này tương đương với tỷ lệ việc làm xanh của Hoa Kỳ, Indonesia và
Campuchia. Tuy nhiên, còn có tới 88 nghề khác có tiềm năng trở thành “nghề xanh”,
chiếm 41% tổng số việc làm, ngay cả những ngành nghề có tác động tới môi trường
như xi măng, sắt thép, vật liệu công nghiệp... vẫn có cơ hội để mở rộng việc
làm xanh, điều này cho thấy khả năng tạo ra nguồn nhân lực lực to lớn tham gia
vào các việc làm xanh trong thời gian tới. Một trong những nguyên nhân dẫn đến
tỷ lệ khiêm tốn của việc làm xanh xuất phát từ nhận thức nhận thức xã hội chưa
đầy đủ, nhiều quan điểm cho rằng việc làm “xanh” chỉ giới hạn trong lĩnh vực
môi trường với điều kiện làm việc và mức lương không hấp dẫn. Trong khi thực
tế, nó trải rộng từ năng lượng tái tạo, nông nghiệp
hữu cơ đến giao thông vận tải xanh, du lịch sinh thái, nhiều ngành công nghiệp
“nâu” khác cũng có khả năng để “xanh hóa”, bên cạnh đó, sự phát triển của việc
làm “xanh” còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chính sách của Nhà nước, sự
đầu tư của doanh nghiệp và sự sẵn sàng của cơ sở hạ tầng..., chẳng hạn, phát
triển năng lượng tái tạo cần nguồn vốn lớn và nhân lực chất lượng cao. Do đó,
dù có tiềm năng lớn nhưng hiện nay Việt Nam chỉ có khoảng 1,7 triệu việc làm
“xanh”, chiếm 3,6% tổng số việc làm.
3. Đánh giá về xu
hướng phát triển việc làm xanh ở Việt Nam hiện nay và một số khuyến nghị
Qua phân tích,
nghiên cứu các nội dung liên quan đến việc làm xanh ở Việt Nam, bên cạnh những
yếu tố thuận lợi cho phát triển việc làm xanh như đã phân tích, chúng tôi đưa
ra một số đánh giá về xu hướng phát triển việc làm xanh ở Việt nam hiện nay như
sau:
Thứ nhất, do chưa có định
nghĩa chính thức về việc làm xanh thống nhất trong văn bản pháp lý của Việt Nam
phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, thiếu các nghiên cứu, đánh giá
chuyên sâu, hướng dẫn cụ thể trong từng ngành nghề “xanh” dẫn đến nhận thức của
các chủ thể (cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân, người
lao động) về kinh tế xanh, việc làm xanh hướng tới phát triển bền vững ở tại
Việt Nam chưa đầy đủ, cụ thể:
(1) Đối với các cơ
quan quản lý nhà nước: chưa có sự thống nhất về chính sách phát triển kinh tế
xanh, khái niệm việc làm xanh trong các văn bản pháp lý, dẫn đến việc thực thi
chưa đạt hiệu quả đề ra. Bên cạnh đó, việc phối kết hợp giữa các Bộ, ngành và
các cơ quan quản lý nhà nước trong thực hiện chính sách về tăng trưởng xanh,
phát triển kinh tế xanh, thúc đẩy việc làm xanh chưa đồng bộ, còn chồng chéo,
tản mạn; (2) Đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ
hiện gặp không ít nhiều khó khăn trong quá trình chuyển đổi sản xuất, kinh
doanh hướng tới phát triển kinh tế xanh nhưng phải gắn với bảo vệ môi trường
trong điều kiện hạn chế nguồn lực, cùng với khó khăn về kinh phí do yêu cầu
phải chuyển đổi công nghệ sản xuất cũ, tiêu hao nhiều năng lượng, lượng phát
thải lớn, hiệu quả kinh tế thấp và gây ô nhiễm môi trường...; (3) Mức độ nhận
thức, sự tham gia của cộng đồng về các vấn đề tăng trưởng xanh còn chưa cao, về
việc làm xanh góp phần bảo vệ môi trường còn hạn chế.
Thứ hai, việc phát triển
kinh tế xanh đi cùng với mở rộng việc làm xanh đặt ra nhiều thách thức về nguồn
nhân lực tham gia, chẳng hạn nhiều lao động bị mất việc làm trong quá trình
chuyển đổi sang kinh tế xanh do chưa đáp ứng được chuyên môn phục vụ cho quá
trình sản xuất mới, khi thu hẹp quy mô sản xuất, giảm về mặt số lượng và nâng
cao về mặt chất lượng khi các doanh nghiệp chuyển đổi mô hình sản xuất, kinh doanh theo hướng kinh tế xanh; Người lao động còn ít cơ hội
tiếp cận được với các nguồn lực như dịch vụ công về y tế, giáo dục, điều này
cũng ảnh hưởng đến tâm trí, thể chất của người lao động và làm giảm chất lượng
nguồn nhân lực khi phát triển kinh tế xanh... Như vậy, phát triển việc làm xanh
tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động trong các ngành kinh tế xanh
mới nổi như năng lượng tái tạo và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, song
có thể dẫn đến nhiều lao động trong các ngành truyền thống bị thu hẹp, giảm
việc làm. Bên cạnh đó, do nhu cầu nhân lực xanh ngày càng lớn trong khi số
lượng lao động có kiến thức và kỹ năng xanh trên thị trường còn hạn chế, nên
nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong tuyển dụng nhân sự, khó khăn trong cách
thức triển khai chiến lược xây dựng, phát triển, tuyển dụng việc làm xanh hay
công nghệ cũng như gặp khó khăn trong đầu tư vào công nghệ và quy trình sản
xuất xanh.
Thứ ba, theo Tổng cục thống kê, tính đến
hết quý 4/2024, số lao động có việc làm phi chính thức chung (bao gồm cả lao
động làm việc trong hộ nông, lâm nghiệp và thủy sản) quý IV/2024 là 33,2 triệu người,
chiếm 63,6% trong tổng số lao động có việc làm, Tính chung năm 2024, tỷ lệ lao
động có việc làm phi chính thức là 64,6%. Lao động phi chính thức ở Việt Nam
thường làm các công việc giản đơn, ít đòi hỏi trình độ kỹ năng hoặc trình độ
chuyên môn kỹ thuật, với trình độ chuyên môn thấp (ở cả nam và nữ), lao
động phi chính thức khó có thể chuyển đổi công việc. Yếu tố này cũng là rào cản
đối với nhu cầu tuyển dụng nguồn nhân lực có trình độ trong các vị trí của việc
làm xanh trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh đó, thực trạng thống kê và hoạt động
của nền kinh tế chưa đánh giá được đầy đủ số lượng, cơ cấu, chất lượng việc làm
xanh, đặc biệt là việc làm trong các ngành xanh hóa, phát triển những ngành mới
và việc làm liên quan đến giảm thiểu, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Với những phân
tích, đánh giá trên đây, chúng tôi đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy
phát triển việc làm xanh ở Việt Nam, đó là:
Một là, cần thống nhất
khái niệm việc làm xanh theo tiêu chuẩn của ILO và phù hợp với điều kiện kinh
tế - xã hội của Việt Nam trong văn bản pháp luật. Đồng thời, để đo lường và
đánh giá tác động của việc làm xanh, là cơ sở để xây dựng chính sách, pháp luật
thực hiện tăng trưởng xanh, kinh tế xanh và phát triển bền vững, cần sớm hoàn
thiện Bộ chỉ tiêu việc làm xanh ở Việt Nam phù hợp với các mục tiêu của Chiến
lược quốc gia về tăng trưởng xanh (Quyết định số 1658/QĐ-TTg) và Kế hoạch hành
động của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Quyết định số 1316/QĐ-BKHĐT), trong đó có việc
xây dựng tiêu chí, phương pháp đo lường, và cơ sở dữ liệu giám sát việc làm
xanh. Trên cơ sở đó, Nhà nước có định hướng cụ thể phát triển kinh tế xanh và
việc làm xanh những ngành trọng điểm, đảm bảo nguồn nhân lực để thực hiện mục
tiêu đó, trên cơ sở cách tiếp cận theo ngành, hướng tới mục tiêu bền vững như
đầu tư phát triển khoa học, công nghệ mang lại sản phẩm thân thiện với môi
trường, có hiệu quả kinh tế cao; hỗ
trợ và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, thúc đẩy phát triển các ngành năng
lượng sinh học, năng lượng tái tạo; đầu tư chuyển giao, áp dụng công nghệ sạch
và các công nghệ sử dụng tiết kiệm năng lượng.
Hai là, đẩy mạnh phát
triển nguồn lực xanh và việc làm xanh theo mục tiêu Chiến lược quốc gia về tăng
trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050, theo đó xác định sự cần thiết
của việc đào tạo và phát triển kỹ năng liên tục cho người lao động để đáp ứng
nhu cầu của thị trường lao động xanh. Ngoài ra, việc đào tạo và phát triển các
kiến thức kỹ năng xanh cần phải đưa vào chương trình giáo dục phổ thông từ
những bậc học thấp, từ đó giúp người lao động có được các kiến thức, kỹ năng
xanh ngay khi bắt đầu bước vào thị trường lao động để có thể gia tăng khả năng
có việc làm xanh. Các cơ sở đào tạo cần nắm bắt được xu hướng việc làm, nhu cầu
thực tế của doanh nghiệp, ngành nghề để triển khai đào tạo các kiến thức, kỹ
năng xanh phù hợp cho học sinh, sinh viên, người lao động bám sát với thực
tiễn. Cần có sự phối hợp và đồng hành giữa ba bên là cơ sở đào tạo - doanh
nghiệp - người lao động.
Ba là, nhận thức về việc
làm xanh và phát triển kỹ năng xanh cần được tuyên truyền sâu rộng cả ở các cấp
độ vĩ mô (các cơ quan trung ương xây dựng chính sách, các cơ quan nghiên cứu và
đào tạo...), doanh nghiệp, trường học, hộ gia đình, người tiêu dùng... sẽ tác
động và dần thay đổi thói quen, hành vi sản xuất, tiêu dùng của các chủ thể.
Bốn là, tiếp tục tăng
cường hoạt động đối ngoại và hợp tác quốc tế vì mục tiêu bảo vệ môi trường,
phát triển bền vững. Việc tham gia các thỏa thuận bảo vệ môi trường quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế
xanh, là cơ hội thuận lợi để tham khảo kinh nghiệm của các nước đã thành công
trong mô hình phát triển việc làm xanh, vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt
Nam, tạo thêm nhiều cơ hội để vận động các nguồn hỗ trợ của quốc tế cho mục
tiêu tăng trưởng xanh hướng tới phát triển bền vững.
Kết luận
Là quốc gia đang
trong quá trình chuyển đổi kinh tế từ “nâu” sang “xanh, Việt Nam xác định phát
triển kinh tế xanh phải hướng tới góp phần thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn
với đổi mới mô hình tăng trưởng, nhằm đạt được thịnh vượng về kinh tế, bền vững
về môi trường và công bằng về xã hội, trong đó có việc thúc đẩy quá trình
chuyển đổi xanh trong các lĩnh vực như lao động, việc làm... là một trong những
giải pháp chiến lược quan trọng. Chuyển đổi sang nền kinh tế xanh là một xu thế
tất yếu trong quá trình phát triển nhằm đảm bảo phát triển bền vững và thực thi
các cam kết quốc tế ở Việt Nam. Để thực hiện được mục tiêu này, bên cạnh việc
tạo ra việc làm xanh cũng cần có những nỗ lực để tăng cơ hội có việc làm xanh
của người lao động
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bowen, A.,
Kuralbayeva, K., & Tipoe, E. L. (2018), ‘Characterising green
employment: The impacts of ‘greening’ on workforce composition’, Energy
Economics, 72, 263-275. DOI: https://doi.org/10.1016/j.
eneco.2018.03.015.
2. Bộ KH và ĐT
(2023), Tăng trưởng xanh: cơ hội đột phá và hướng đi cho Việt Nam, (Báo
cáo triển khai Kết luận Phiên họp toàn thể lần
thứ nhất Ban Chỉ đạo quốc gia về tăng trưởng xanh).
3. Chính phủ
(2021), Quyết định số 1658/QĐ-TTg về Chiến lược quốc gia tăng trưởng xanh
giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050, ban hành ngày 01 tháng 10 năm 2021.
4. CIEM (2016), Tiềm
năng tạo việc làm xanh ở Việt Nam, Hà Nội.
5. CIEM (2018), Việc
làm xanh trong bối cảnh thực hiện tăng trưởng xanh tại Việt Nam, Hà Nội.
6. Thu Hằng, Việc
làm xanh đang trở thành xu hướng tại Việt Nam, https://
vneconomy.vn/viec-lam-xanh-dangtro- thanh-xu-huong-tai-viet-nam.htm), truy cập
08/2/2025.
7. Lưu Hà, Nền kinh
tế xanh: Đòi hỏi nguồn nhân lực kỹ năng xanh, https://
vneconomy.vn/techconnect//nen-kinh-te- xanh-doi-hoi-nguon-nhan-luc-ky-nang-
xanh.htm), truy cập 08/2/2025.
8. Phan Hoàn, Kỹ
năng “xanh” mở rộng cơ hội việc làm cho thanh niên Việt Nam, https://songtre.com.vn/%E2%80%9Cky-
nang-xanh%E2%80%9D-giup-nguoi- tre-thich-ung-voi-nen-kinh-te- xanh-p28683.html
9. ILO, truy cập
tại https://www. ilo.org/
global/ topics/ green-jobs/ news/ WCMS _220248/ lang--en /index. htm> ngày
22/4/2025.
10. Hạnh Lê, Tiềm
năng lớn từ việc làm xanh, https://diendandoanhnghiep.
vn/tiem-nang-lon-tu-viec-lam- xanh-10141104.html, truy cập 08/2/2025.
11. WB (2022), Báo
cáo Quốc gia về khí hậu và phát triển cho Việt Nam, Hà Nội.