Quản lý nhà nước về du lịch sinh thái trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới rất thành công trong thực hiện chính sách quản lý bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, kiểm soát du khách, giáo dục và nâng cao nhận thức về du lịch sinh thái. Ngoài ra, chính phủ các quốc gia còn thực hiện chương trình chứng nhận du lịch bền vững, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và sử dụng năng lượng tái tạo cùng công nghệ xanh. Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch sinh thái trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.

Từ khóa: Du lịch sinh thái; quản lý nhà nước; quản lý nhà nước về du lịch sinh thái.

Abstract: Currently, many countries around the world have achieved significant success in implementing policies for the management of nature conservation, biodiversity preservation, visitor control, and education to raise awareness of ecotourism. In addition, governments have introduced sustainable tourism certification programs, encouraged community participation, and promoted the use of renewable energy and green technologies. This research article explores the experiences of state management in ecotourism across the globe. From this analysis, it draws out lessons for Ho Chi Minh City in the coming period.

Keywords: Ecotourism; state management; state management of ecotourism.

Ngày nhận bài: 21/3/2025; Ngày sửa bài: 10/4/2025; Ngày duyệt đăng bài: 05/5/2025.

Mở đầu

Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa với sự biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, việc phát triển bền vững và bảo vệ môi trường đã trở thành một ưu tiên hàng đầu đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Du lịch sinh thái, với mục tiêu hài hòa giữa ba phương diện phát triển kinh tế, văn hóa và bảo vệ môi trường đã và đang được khẳng định như một giải pháp hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu này. Ngành du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng ngày càng trở thành điểm nhấn quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Thành phố Hồ Chí Minh vốn là địa phương có nhiều tiềm năng, lợi thế tài nguyên du lịch để phát triển nhiều loại hình du lịch, trong đó du lịch sinh thái. Với tổng diện tích hơn 2.096 km2, có 22 đơn vị hành chính bao gồm 01 thành phố Thủ Đức, 16 quận và 5 huyện, dân số hơn 9 triệu người (năm 2019). Tại trung tâm Thành phố phát triển các khu mua sắm, ẩm thực, điểm di tích văn hóa, lịch sử và tổ chức nhiều sự kiện lễ hội đặc sắc, tạo sức hấp dẫn, thu hút du khách trong nước và thế giới. Đặc biệt, Thành phố có 5 huyện ngoại thành chiếm hơn 1/3 diện tích của Thành phố, dân số chiếm chưa được 1/4 Thành phố, nhưng có nhiều tài nguyên du lịch sinh thái cần được quan tâm khai thác. Cụ thể huyện Cần Giờ cách trung tâm Thành phố khoảng 55 km về phía Đông Nam, có bờ biển dài khoảng 20 km, có đảo Thạnh An, có hàng ngàn ha rừng ngập mặn là khu dữ trữ sinh quyển thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận, cùng với hệ sinh thái đa dạng phong phú là tiềm năng lợi thế phát triển du lịch sinh thái. Huyện Củ Chi với khu di tích lịch sử cách mạng và nhiều tiềm năng phát triển ngành nghề truyền thống được bảo tồn, phát triển gắn với du lịch sinh thái như: làng nghề thủ công mây tre lá, làng bánh tráng, cánh đồng lúa chín, vườn cây ăn trái bạt ngàn. Các huyện Bình Chánh, Hoóc Môn, Nhà Bè đã sớm hình thành những điểm, khu du lịch sinh thái dựa trên điều kiện tài nguyên thiên nhiên ven sông, kênh rạch, sông Sài Gòn, Đồng Nai, vườn cây ăn trái, khu vui chơi, thư giản, nghỉ ngơi và các điểm, khu di tích lịch sử văn hóa phong phú. Hiện nay, Thành phố có 366 điểm đến hấp dẫn được đánh giá có khả năng khai thác và thu hút khách du lịch, tập trung chủ yếu ở 4 nhóm tài nguyên chính đó là: tài nguyên du lịch tự nhiên; tài nguyên du lịch văn hóa vật thể; tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể; tài nguyên du lịch gắn với công trình nhân tạo hấp dẫn. Riêng tài nguyên du lịch sinh thái có 13 điểm đến được hình thành từ nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, tập trung ở các tài nguyên chính như: sông Sài Gòn, rừng ngập mặn và biển đảo... Từ những lợi thế tiềm năng tài nguyên du lịch sinh thái các huyện ngoại thành Thành phố là lợi thế phát triển du lịch sinh thái. Sự kết hợp nhiều tài nguyên du lịch nhân văn trong nội thành Thành phố sẽ là điều kiện thuận lợi, tạo điểm nhấn thu hút khách du lịch trong, ngoài nước đến tham quan Thành phố trong thời gian tới.

Tuy nhiên, trong thời gian qua công tác quản lý về du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng còn gặp nhiều khó khăn, chưa phát huy được tiềm năng du lịch sinh thái có được, nên tỷ lệ đóng góp vào ngân sách của loại hình du lịch này vào doanh thu ngành du lịch còn hạn chế. Trên cơ sở nghiên cứu quản lý nhà nước về du lịch sinh thái trên thế giới, tập trung nghiên cứu một số quốc gia Châu Á có nét tương đồng với Việt Nam, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm vận dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.

Để thực hiện bài viết tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu các nguồn tài liệu trong và ngoài nước có liên quan để thực hiện các nội dung đề ra.

1. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch sinh thái

Khái niệm du lịch sinh thái theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, tại Điều 3 quy định “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường” được hiểu là loại hình du lịch dựa vào tài nguyên du lịch sinh thái, tự nhiên và nhân tạo, gắn với giá trị sắc văn hóa bản địa, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, góp phần phát triển địa phương một cách bền vững. Gắn với ý thức trách nhiệm giáo dục, bảo vệ môi trường sinh thái, không làm biến đổi hệ sinh thái, biến đổi khí hậu, giảm thiểu tác động tiêu cực đến văn hóa và môi trường cộng đồng địa phương. Góp phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo và ứng dụng công nghiệp thông tin quản lý và phát triển du lịch sinh thái.

Khái niệm quản lý nhà nước theo giáo trình quản lý hành chính nhà nước của học viện Hành chính quốc gia, “Quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, được thực hiện trên cơ sở pháp luật nhằm tổ chức và điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người theo những định hướng, mục tiêu nhất định. Quản lý nhà nước có tính quyền lực nhà nước, sử dụng pháp luật như công cụ chủ yếu và mang tính tổ chức chặt chẽ”. Quản lý nhà nước được đề cập trong bài viết này là khái niệm được hiểu theo nghĩa hẹp chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước, cụ thể trong lĩnh vực du lịch, du lịch sinh thái. Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình, quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ.

Trong thời gian qua khái niệm quản lý nhà nước về du lịch sinh thái đã được nhiều tác giả đưa ra nhiều quan điểm với nhiều góc nhìn khác nhau. Đối với Luật Du lịch Việt Nam hiện hành cũng không giải thích rõ ràng về nội hàm của khái niệm này. Tác giả cho rằng quản lý nhà nước về du lịch sinh thái là phương thức sử dụng hệ thống các công cụ quản lý để định hướng và đạt được mục tiêu quản lý nhà nước đề ra. Việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước cho quá trình quản lý nhà nước về du lịch sinh thái là một nội dung mới cần được quan tâm.

Từ các khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm quản lý nhà nước về du lịch sinh thái là việc các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương sử dụng các công cụ quyền lực của mình tác động vào đối tượng hoạt động du lịch sinh thái để định hướng, vận động, phát triển đạt được mục tiêu đề ra. Đồng thời, tạo điều kiện tốt nhất cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động có hiệu quả. Trên cơ sở dựa vào tiềm năng du lịch sinh thái vốn có để giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn và các giá trị bản sắc văn hoá địa phương; phát triển nguồn nhân lực thu hút sự tham gia của cộng đồng dân cư, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sống nhân dân; kết hợp giáo dục, bảo vệ môi trường bền vững, góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương, đất nước.

2. Nội dung quản lý nhà nước về du lịch sinh thái

2.1 Một số nội dung đặc trưng quản lý nhà nước về du lịch sinh thái

Quản lý nhà nước về du lịch sinh thái ngoài mang các đặc điểm của quản lý nhà nước về du lịch còn mang thêm tính đặc trưng, gắn liền với bảo tồn thiên nhiên, phát triển bền vững và khai thác hợp lý tài nguyên. Trọng tâm quản lý nhà nước về du lịch sinh thái bao gồm các nội dung đặc trưng sau: (1) Chủ thể quản lý nhà nước xây dựng, triển khai và thực thi hệ thống chính sách, pháp luật chuyên biệt về du lịch sinh thái. Điều này đảm bảo hoạt động du lịch vừa phát triển kinh tế, vừa bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, văn hóa bản địa, đồng thời kiểm soát tác động tiêu cực đến môi trường. (2) Tổ chức hoàn thiện bộ máy quản lý và phát triển nguồn nhân lực du lịch sinh thái là yêu cầu cấp thiết. Từ đó, đội ngũ cán bộ, nhân viên, hướng dẫn viên cần được đào tạo bài bản về quản lý tài nguyên, bảo tồn hệ sinh thái, cũng như kỹ năng phục vụ du khách theo tiêu chuẩn bền vững. Đây được xem là công cụ quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý và thúc đẩy phát triển du lịch sinh thái. (3) Công tác tuyên truyền, giáo dục chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường cần được đẩy mạnh. Việc nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp, cộng đồng địa phương và du khách sẽ tạo ra ý thức chung về trách nhiệm bảo tồn tài nguyên, hạn chế tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch. Nội dung này phải được thực hiện thường xuyên, lâu dài để đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch sinh thái. Góp phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo tại những địa phương các tiềm năng du lịch sinh thái. (4) Thường xuyên tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại, quảng bá du lịch sinh thái trong nước và quốc tế. Việc xây dựng thương hiệu, phát triển sản phẩm du lịch độc đáo sẽ thu hút du khách, tăng doanh thu và đóng góp vào kinh tế địa phương. Các sản phẩm du lịch sinh thái đặc trưng như tour khám phá thiên nhiên, quà lưu niệm thân thiện môi trường cũng cần được phát triển để gia tăng trải nghiệm du khách. (5) Quản lý nhà nước cần đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng chuyển đổi số, công nghệ xanh trong du lịch sinh thái. Việc giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật cũng phải được thực hiện nghiêm minh, đảm bảo an ninh trật tự và sự phát triển bền vững của du lịch sinh thái.

2.2 Các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước có liên quan đối với quản lý nhà nước về du lịch sinh thái tại Thành phố Hồ Chí Minh

Để tạo hành lang pháp lý vững chắc cho quản lý nhà nước về du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng, trong thời gian qua các cơ quan trung ương và chính quyền Thành phố đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật có liên quan đến du lịch sinh thái cụ thể như sau: (1) Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16 tháng 01 năm 2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; (2) Nghị quyết số 31-NQ/ TW ngày 30 ngày 12 tháng 2022 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030 và tầm nhìn 2045; (3) Luật Du lịch Việt Nam năm 2017; (4) Nghị quyết số 98/2023/QH15 của Quốc hội thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh; (5) Quyết định số 147/QĐ-TTg ngày 22 tháng 01 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030”; (6) Quyết định số 1528/QĐ- TTg ngày 14 tháng 9 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt nhiệm vụ điều chỉnh quy hoạch chung Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2060; (7) Nghị quyết 12-NQ/TU, ngày 26 tháng 9 năm 2022, của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minhvề định hướng phát triển huyện Cần Giờ đến năm 2030; (8) Quyết định 1528/QĐ-UBND ngày 21 tháng 4 năm 2023 của UBND Thành phố về thực hiện Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng về du lịch nông nghiệp, nông thôn Thành phố đến năm 2030; (9) Quyết định số 3364/ QĐ-UBND ngày 13 tháng 8 năm 2018 về phê duyệt Đề cương, nhiệm vụ Chiến lược phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030; Cùng nhiều văn bản quan trọng khác nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi để chính quyền Thành phố triển khai thực hiện cơ chế chính sách đặc thù và phát triển du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng được hiệu quả hơn.

2.3 Một số kết quả đạt được và hạn chế quản lý nhà nước về du lịch sinh thái tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua

Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua đạt được những kết quả đáng kể về quy mô kinh tế lớn nhất cả nước, đóng góp khoảng 1/5 GDP và hơn 1/4 thu ngân sách quốc gia, là địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút FDI và hoạt động xuất nhập khẩu. Với gần 30% số doanh nghiệp đang hoạt động trên toàn quốc, Thành phố đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc gia. Trong việc đóng góp kinh tế chung của Thành phố có sự đóng góp của ngành du lịch và công tác quản lý nhà nước về du lịch sinh thái. Theo đó, du lịch sinh thái đóng vai trò khá quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố, đặc biệt là tại khu vực Cần Giờ - lá phổi xanh của Thành phố. Cụ thể đóng góp về mặt kinh tế, du lịch sinh thái góp phần đa dạng hóa ngành du lịch, thu hút du khách trong nước và quốc tế, góp phần gia tăng nguồn thu từ dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển và mua sắm. Đây cũng là lĩnh vực thu hút đầu tư, đặc biệt là các mô hình nghỉ dưỡng bền vững, giúp kích thích phát triển doanh nghiệp du lịch xanh. Bên cạnh đó, du lịch sinh thái còn tạo việc làm cho lao động địa phương, hướng dẫn viên, nhân viên dịch vụ đến các ngành nghề thủ công, đặc sản địa phương. Về mặt xã hội, du lịch sinh thái đã góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường, khuyến khích sử dụng năng lượng tái tạo và giảm tác động tiêu cực đến hệ sinh thái. Ngoài ra, sự phát triển của du lịch sinh thái còn góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông, dịch vụ công và chất lượng sống cho người dân tại các huyện ngoại thành. Đặc biệt, đối với Cần Giờ hiện nay thành phố đang tập trung thực hiện các siêu dự án như: Cảng biển chung chuyển quốc tế Cần Giờ, đại dự án lấn biển Cần Giờ và tuyến metro từ trung tâm Thành phố đến khu đô thị lấn biển Cần Giờ. Từ đó, cho thấy du lịch sinh thái không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của Thành phố trong tương lai.

Tuy nhiên, quản lý nhà nước về du lịch, du lịch sinh thái trong thời gian qua Thành phố vẫn còn một số hạn chế như: một số văn bản có liên quan đến du lịch, du lịch sinh thái của trung ương và Thành phố được triển khai thực hiện còn chậm. Do một số cơ quan, đơn vị người đứng đầu chưa đề ra nhiều giải pháp hiệu quả để hỗ trợ, hướng dẫn chủ đầu tư, chủ nhà vườn, điểm, khu du lịch sinh thái phát triển sản phẩm du lịch để nâng cao đời sống kinh tế; một số cán bộ, công chức là chủ thể quản lý nhà nước về du lịch sinh thái có chuyên môn đào tạo đúng ngành du lịch sinh thái chưa nhiều. Chất lượng, số lượng đội ngũ quản lý nhà nước về du lịch sinh thái của Thành phố còn hạn chế về chuyên môn, chưa am hiểu sâu lĩnh vực phụ trách, chưa có nhiều giải pháp đột phá phát triển du lịch sinh thái hiệu quả; nguồn nhân lực du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng số lượng còn thiếu, chất lượng yếu, còn nhiều biến động về số lượng do ảnh hưởng tình hình dịch bệnh; công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về chuyên sâu về du lịch sinh thái chưa phổ quát đến mọi đối tượng. Do chưa đa dạng hóa hình thức, nội dung tuyên truyền phong phú sáng tạo trên không gian mạng; một số thị trường trên thế giới, vùng lãnh thổ có tiềm năng về du lịch sinh thái chưa được quan tâm khai thác nhiều. Do chưa thuận lợi về đường bay, một số nước tình hình an ninh quốc gia chưa ổn định, chi phí dịch vụ còn khá cao; công tác hậu kiểm tra gặp một số khó khăn do doanh nghiệp thường xuyên đổi địa chỉ hoặc ngưng hoạt động mà không thông báo.

3. Quản lý du lịch sinh thái một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Thành phố Hồ Chí Minh

Hiện nay, một quốc quốc gia trên thế giới chủ thể quản lý về du lịch sinh thái được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau. Tùy thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể của mỗi quốc gia mà thành lập các cơ quan, tổ chức khác nhau để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhằm mang lại hiệu quả cao nhất. Với nhiều bài học kinh nghiệm thực tiễn phong phú đa dạng của các quốc gia trên thế giới. Việt Nam nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng có thể học tập kinh nghiệm các chính sách quản lý du lịch sinh thái đã thành công và hạn chế của một số quốc gia tiêu biểu sau đây:

Thứ nhất, Vương quốc Thái Lan là quốc gia điển hình đạt được nhiều thành công trong triển khai thực hiện chính sách phát triển du lịch sinh thái và du lịch xanh gắng với phát triển bền vững. Chính phủ Thái Lan luôn tăng cường xây dựng chiến lược bảo vệ môi trường, xác định rõ những việc cần làm; đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao năng lực, nhận thức, ý thức về bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch; tăng cường xây dựng và triển khai thực hiện các đề án, nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch. Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch; tăng cường khả năng thích ứng và giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu; nâng cao năng lực kiểm soát ô nhiễm môi trường; thực hiện đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường đối với các đề án, dự án phát triển du lịch theo quy định hiện hành; khuyến khích các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, các sản phẩm tái chế, tái sử dụng, ứng dụng công nghệ sạch hạn chế gây ô nhiễm môi trường và giảm thiểu phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, mặc dù Thái Lan có chính sách rõ ràng, nhưng một số khu vực du lịch xanh phát triển quá nhanh, gây áp lực lên môi trường. Một số địa điểm chưa kiểm soát tốt lượng du khách, dẫn đến tình trạng quá tải. Từ đó, Thành phố Hồ Chí Minh có thể học tập kinh nghiệm của Thái Lan về việc xây dựng chiến lược, thực hiện và đánh giá chiến lược bảo vệ môi trường; tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động người dân Thành phố không xả rác xuống đường và kênh rạch, sông biển; tiếp tục phát triển mô hình xây dựng du lịch sinh thái cộng đồng Thiềng Liềng (Thạnh An, huyện Cần Giờ) không có rác thải nhựa, gắn du lịch sinh thái cộng đồng khai thác nghề làm muối truyền thống văn hóa vùng biển. Khắc phục tình trạng thực thi các chính sách đã được ban hành còn chậm, nâng cao nhận thức về du lịch sinh thái được lan tỏa rộng rãi. Tăng cường công tác quản lý, giám sát thực hiện tốt hơn chế tài đủ mạnh để xử lý các vi phạm trong bảo vệ môi trường du lịch sinh thái.

Thứ hai, Malaysia là quốc gia triển khai các chính sách phát triển du lịch phù hợp với cơ sở tài nguyên, ưu tiên những tài nguyên độc đáo; giảm thiểu tối đa tác động tới văn hóa, xã hội và môi trường; mang lợi ích cho cộng đồng địa phương; sản phẩm du lịch là gắn với công tác bảo tồn thiên nhiên, môi trường; cơ hội có việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương; khuyến khích các hộ gia đình, người dân địa phương tham gia cung cấp sản phẩm và dịch vụ du lịch; triển khai chương trình phát triển du lịch sinh thái bền vững; làm tốt công tác truyền thông, quảng bá, giới thiệu; đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật; mở rộng mạng lưới các khu vực được bảo vệ và bổ sung các quy định, chính sách phù hợp cho công tác bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên; cung cấp, phổ biến thông tin về chiến lược, chính sách; nâng cao năng lực nguồn nhân lực thông qua các cuộc hội thảo và các khóa đào tạo chuyên đề. Tuy nhiên, nước này vẫn diễn ra tình trạng du lịch phát triển mạnh có khi vượt quá khả năng kiểm soát, dẫn đến nguy cơ quá tải tại một số điểm du lịch sinh thái. Vẫn còn một số khu vực khó khăn trong việc cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường làm ảnh hưởng đến phát triển du lịch sinh thái bền vững. Từ đó, Thành phố Hồ Chí Minh có thể học tập kinh nghiệm của Malaysia về phát triển các sản phẩm du lịch là gắn với công tác bảo tồn thiên nhiên, môi trường; tạo cơ hội có việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương tại các quận huyện trên địa bàn Thành phố; tập trung đầu tư, phát triển cơ sở kỹ thuật hàng tầng phục vụ du lịch sinh thái; tiếp tục phát huy kết quả Hội thi của Sở du lịch Thành phố về Hội thi “Thiết kế và khai thác chương trình du lịch chuyên đề sinh thái, nông nghiệp”, đã trao giải các chương trình tiêu biểu. Tăng cường phát triển du lịch sinh thái trong khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, giao cho Ban Quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ là đơn vị quản lý rừng xây dựng phương án thực hiện mô hình “Bạn là một phần của sinh quyển” và “Đại sứ sinh quyển” gắn với các hoạt động trồng rừng.

Thứ ba, Hàn Quốc đã thực hiện rất thành công trong việc triển khai xây dựng các con đường dọc các con sông lớn để thu hút khách du lịch kết hợp thể thao và ngắm cảnh, có các công trình phụ trợ; tổ chức Lễ hội cắm trại di chuyển bằng xe đạp; phát triển và vận hành chương trình “Nét đẹp của sự chậm”, “Thành phố chậm”. Mỗi năm, Chính phủ Hàn Quốc lựa chọn và hỗ trợ 10 mô hình du lịch sinh thái hàng đầu cả nước và ưu tiên tập trung phát triển các điểm du lịch đã chọn; xây dựng khu đô thị sinh thái xanh, cung cấp các khu giải trí sinh thái xanh cho người dân đô thị và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, hạn chế của Hàn Quốc tại số khu vực vẫn phải đối mặt với áp lực quá tải du khách, đặc biệt là đảo Jeju, làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên. Chi phí phát triển du lịch sinh thái cao, khiến một số doanh nghiệp nhỏ khó tiếp cận các chương trình hỗ trợ của chính phủ. Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc, chính quyền Thành phố có thể học tập bài học kinh nghiệm về tổ chức hoạt động Lễ hội cắm trại di chuyển bằng xe đạp và thực hiện dự án phát triển đường mòn sinh thái trên các cung đường đẹp ở các huyện ngoại thành. Mỗi năm, Thành phố sẽ lựa chọn và hỗ trợ một số mô hình du lịch sinh thái ưu tiên tập trung phát triển các điểm du lịch sinh thái làm mô hình tiêu biểu để các địa phương khác học tập; phát triển huyện Cần Giờ trở thành điểm du lịch sinh thái vươn tầm khu vực và thế giới trên cơ sở quy hoạch xây dựng khu đô thị sinh thái xanh, cung cấp các khu giải trí sinh thái xanh cho người dân đô thị và nâng cao chất lượng cuộc sống. Xây dựng kế hoạch dài hạn về phát triển du lịch sinh thái, đặc biệt là tại các khu vực Cần Giờ, bảo đảm cân bằng giữa khai thác và bảo tồn. Xây dựng phát triển điểm du lịch sinh thái cộng đồng Thiềng Liềng, (Cần Giờ) thực hiện hiệu quả hơn nữa việc kiểm soát lượng khách theo phân khúc ưu tiên đón khách du lịch sinh thái, để có thời gian tập trung mở rộng phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái đa dạng phục vụ du khách. Thu hút sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương tại ấp đảo Thiềng Liềng cung cấp các sản phẩm du lịch về nghề làm muối, nghe đàn ca tài tử, thưởng thức các món ăn đặc sản vùng biển. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, người dân phát triển du lịch sinh thái.

Kết luận

Trong bối cảnh toàn cầu hóa với xu thế thời đại hiện nay phát triển kinh tế xanh, tăng trưởng bền vững và thực hiện chính sách quản lý phát triển du lịch sinh thái đã trở thành yếu tố then chốt trong chiến lược phát triển của các quốc gia trên thế giới. Sự thành công của nhiều quốc gia trên thế giới đã minh chứng phát triển du lịch sinh thái là “chìa khóa vàng” cho sự phát triển bền vững. Hòa chung xu thế thời đại, từ rất sớm Việt Nam nói chung, Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã triển khai thực hiện nhiều chính sách có liên quan đến quản lý và phát triển du lịch sinh thái. Từ việc nghiên cứu các chính sách quản lý du lịch sinh thái của các quốc gia trên thế giới nêu trên với nhiều bài học kinh nghiệm quý giá mà Thành phố Hồ Chí Minh có thể học tập và vận dụng hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước về du lịch nói chung, du lịch sinh thái nói riêng. Các kinh nghiệm nêu trên không chỉ là giải pháp hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước về du lịch sinh thái mà còn thực hiện các chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế xanh, tăng trưởng bền vững và bảo vệ môi trường ngắn hạn và dài hạn. Từ đó góp phần phát huy tiềm năng du lịch sinh thái vốn có của Thành phố xứng đáng là trung tâm du lịch, du lịch sinh thái của cả nước và quốc tế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quốc Hội (2017), Luật Du lịch số 09/2017/QH14, ngày 19/6/2017.

2. Học viện Hành chính Quốc gia (2011), Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3. Sở Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh (2021), Báo cáo tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển du lịch nông thôn.

4. Lê Huy Bá (2016), Du lịch sinh thái, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Nguyễn Lan Hương (2020), Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái tại Sabah, Malaysia, Viện Nghiên cứu du lịch.

6. Nguyễn Thị Huyền Hương và cộng sự, “Quản lý nhà nước về du lịch - Một số vấn đề lý luận cơ bản”, Tạp chí Công thương, truy cập ngày 3/2020; https://tapchicongthuong. vn/quan-ly-nha-nuoc-ve-du-lich-mot-so- van-de-ly-luan-co-ban-71885.htm

7. Nguyễn Anh Thương (2020), Quản lý nhà nước về du lịch sinh thái trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng.

8. Chiến Thắng (2019), Du lịch xanh tại Việt Nam hiện nay: Bài học kinh nghiệm của Thái Lan và triển vọng trong tương lai.

9. Mai Thu (2021), Mô hình phát triển du lịch sinh thái của Hàn Quốc, Sở ngoại thương.

10. Nguyễn Văn Thật, “Ý kiến mới về du lịch sinh thái”, Tạp chí khoa học Đại hội Đồng Nai, số 01/2016.

11. http://sodulich.hochiminhcity. gov.vn/Home/moduleId/564/ma/TTCD/ key/3130/controller/HanhChinhDuKhach/ action/HoatDongSDL, cập nhật 10/11/2023.

 

Phạm Thanh Bình
Nguồn bài viết: Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1