Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1789) - dấu ấn lịch sử và văn hóa
1. Khái quát về chiến dịch Ngọc Hồi - Đống Đa - Khương Thượng
Năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa trên đất Tây Sơn (Bình Định). Cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng lật đổ chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong (1777), chính quyền Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài (1786), tổ chức cuộc kháng chiến chống Xiêm giành thắng lợi trên sông Rạch Gầm - Xoài Mút (1785)…. và tổ chức cuộc kháng chiến đánh tan 29 vạn quân Mãn Thanh (Xuân Kỷ Dậu, 1789).
Trong tiến trình dựng nước và giữ nước, Việt Nam trải qua rất nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và khắc ghi trong sử sách nhiều võ công oanh liệt. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mãn Thanh cuối năm 1788, đầu năm 1789 do Quang Trung - Nguyễn Huệ lãnh đạo đã đập tan ý chí xâm lược Đại Việt của đế chế Trung Hoa dưới triều thịnh trị của vua Càn Long. Trong cuộc kháng chiến ấy, chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa mùa Xuân năm Kỷ Dậu (1789) là võ công hiển hách nhất, vĩ đại nhất.
Xuân lửa Đống Đa” diễn ra cách đây 237 năm nhưng âm vang của nó vẫn còn đọng mãi. Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Thanh là kết quả của sự đoàn kết của cả dân tộc, đặc biệt là nổi bật lên vai trò của vị chủ tướng Quang Trung - Nguyễn Huệ. Bên cạnh đó không thể không kể đến sự đóng góp công sức của nhân dân cả nước, đặc biệt là người dân Thăng Long và các địa phương phụ cận.
Trước sự cầu viện của Lê Chiêu Thống, vua Càn Long muốn lợi dụng cơ hội này để xâm chiếm Đại Việt liền sai Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân Mãn Thanh tràn vào nước ta cuối năm Mậu Thân (1788) và nhanh chóng chiếm đóng Thăng Long và các vùng ngoại vi.
Ngày 24 tháng Một (ngày 21-12-1788), tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ nhận được tin cấp báo của tướng Ngô Văn Sở do đô đốc Nguyễn Văn Tuyết phi ngựa mang vào. Và ngày hôm sau - ngày 25 (ngày 22-12-1788) - Nguyễn Huệ trịnh trọng làm lễ đăng quang, chính thức lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Quang Trung, rồi lập tức hạ lệnh xuất quân. Quang Trung tự thống lĩnh đại quân theo hai đường thủy bộ, tiến ra Bắc. Trên đường tiến quân, Quang Trung dừng lại tuyển thêm quân ở Nghệ An, Thanh Hóa. Tại trấn doanh Nghệ An (thành phố Vinh), Quang Trung tổ chức một cuộc duyệt binh lớn và đọc bài hịch kêu gọi quân sĩ. Quang Trung đã khẳng định sự tồn tại bền vững của đất nước: “Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao nấy đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị...” và nêu cao lịch sử chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc từ khởi nghĩa Hai Bà Trưng cho đến các cuộc kháng chiến chống Tống, chống Nguyên, chống Minh với truyền thống “thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi chúng về phương Bắc”. Tiếp tục những trang sử vẻ vang đó, Quang Trung kêu gọi: “Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa. Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng...”[1]. Trên cơ sở tư tưởng và tình cảm đó, Quang Trung nâng cao ý chí chiến đấu, xây dựng cho quân đội tinh thần quyết chiến quyết thắng, quyết tâm và niềm tin mãnh liệt. Tại Thọ Hạc (thành phố Thanh Hóa), Quang Trung làm lễ “thệ sư” và ra lệnh: “Bớ chư quân! Phàm ai bằng lòng chiến đấu thì hãy vì ta giết sạch quân giặc. Nếu ai không muốn thì hãy xem ta giết vài vạn người trong một trận, đó không phải là chuyện hiếm lạ đâu”[2]. Cũng trong buổi lễ tuyên thệ trang trọng đó, Quang Trung đọc bài hiểu dụ tướng sĩ với những lời tuyên bố đanh thép biểu thị cao độ ý chí độc lập tự chủ và quyết tâm tiêu diệt địch:
Đánh cho để dài tóc,
Đánh cho để đen răng.
Đánh cho nó chích luân bất phản,
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn,
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ[3].
Lễ “thệ sư” ở Thọ Hạc là một hình thức động viên chính trị có tác dụng bồi dưỡng thêm bước nữa ý chí, nghị lực và khí thế của quân đội, nâng cao tầm vóc của quân đội lên ngang với yêu cầu của sứ mạng lịch sử.
Sau 35 ngày - kể từ ngày 25 tháng Một đến ngày 30 tháng Chạp năm Mậu Thân (ngày 22-12-1788 đến 25-1-1789) - vừa hành quân, vừa nghiên cứu, vừa chuẩn bị các mặt, vua Quang Trung đã đưa quân đội Tây Sơn cùng với toàn thể nhân dân ta tiến lên một lòng đoàn kết, quyết chiến quyết thắng với quân thù, giành và giữ vững độc lập tự do cho Tổ quốc.
Giữa đêm 30 Tết - đạo quân chủ lực của Quang Trung vượt sông Gián, mở màn cuộc đại phá quân Thanh. Tiền quân Tây Sơn bất ngờ tiến công tiêu diệt đồn tiền tiêu của địch ở Gián Khẩu. Nửa đêm ngày mồng 3 Tết Kỷ Dậu (ngày 28-1-1789), quân Tây Sơn bí mật bao vây đánh chiếm đồn Hà Hồi. Tiếp đó chiếm đồn Ngọc Hồi. Với chiến thắng Ngọc Hồi, quân Tây Sơn đã san bằng một cứ điểm kiên cố nhất của địch, đập nát hệ thống phòng thủ chủ yếu ở phía nam Thăng Long, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực tinh nhuệ nhất của địch. Thiệt binh, tổn tướng, vua Càn Long nhà Thanh coi đó là những tổn thất làm “sứt mẻ oai nước tổn hại tướng sĩ”[4].
Sau khi chiếm đồn Ngọc Hồi, quân Tây Sơn chia làm nhiều cánh tấn công Thăng Long. Sáng 29 tháng 1 năm 1789, đại quân Quang Trung triển khai lực lượng thành hai cánh: cánh chính do Quang Trung chỉ huy, tập kết ở cánh đồng Cung phía nam Hà Hồi, cánh phối hợp do Đô đốc Bảo chỉ huy, tập kết ở Đại Áng, bố trí mai phục tại cánh đồng gần Đầm Mực (thuộc Thanh Trì, Hà Nội). Vua Quang Trung dùng các toán quân nhỏ đánh khiêu khích ngoại vi Ngọc Hồi tạo yếu tố bất ngờ. Mờ sáng 30 tháng 1 (mùng 5 Tết), quân Tây Sơn bắt đầu tấn công từ hướng nam. Mở đầu, đội tượng binh (trên 100 voi chiến) đánh tan đội kỵ binh của Hứa Thế Hanh; tiếp sau, bộ binh(gồm 600 quân cảm tử chia làm 20 toán), trang bị đoản đao, ván chắn gỗ quấn rơm ướt che mình, tiến thành hàng ngang áp sát chiến luỹ, tạo điều kiện cho đại quân Quang Trung tiến lên giáp chiến. Quân Thanh chống không nổi, chết và bị thương quá nửa. Đề đốc Hứa Thế Hanh và Tả dực Thượng Duy Thăng bị giết.
Đồn Khương Thượng - Đống Đa cũng bị đạo quân do đô đốc Đặng Tiến Đông chỉ huy từ Nhân Mục bất ngờ tấn công vào rạng sáng 30-1-1789. Bằng khí thế áp đảo, quân Tây Sơn với đội hình đã bày sẵn, xông thẳng vào đồn trại của địch. Quân ta đốt phá các doanh trại phía ngoài rồi nhanh chóng đánh thọc vào sở chỉ huy của địch. Sầm Nghi Đống - viên tướng chỉ huy đồn này - khiếp sợ, thắt cổ tự tử. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, ba đồn Hà Hồi, Ngọc Hồi, Khương Thượng - Đống Đa bị quân Tây Sơn san phẳng. Quân Tây Sơn thừa thắng tiêu diệt luôn các đồn Yên Quyết, Nam Đồng rồi nhanh chóng tràn vào cửa ô tây - nam thành Thăng Long, uy hiếp đại bản doanh của Tôn Sĩ Nghị. Tôn Sĩ Nghị “sợ mất mật” và “ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc giáp, dẫn bọn lính kỵ mã của mình chuồn trước qua cầu phao, rồi nhắm hướng Bắc mà chạy”, “quân sĩ các doanh nghe tin đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều”.
Trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mãn Thanh cuối năm 1788 đầu năm 1789, chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa - Khương Thượng giữ vai trò là những trận quyết chiến chiến lược có ý nghĩa quyết định, kết thúc thắng lợi của cuộc kháng chiến. Với chiến thắng Ngọc Hồi, quân Tây Sơn đã san bằng một cứ điểm kiên cố nhất của địch, đập nát hệ thống phòng thủ chủ yếu ở phía nam Thăng Long, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực tinh nhuệ nhất của địch. Thiệt binh, tổn tướng, vua Càn Long nhà Thanh coi đó là những tổn thất làm “sứt mẻ oai nước tổn hại tướng sĩ”[5]. Với chiến thắng Đống Đa, quân Tây Sơn nhanh chóng tiêu diệt một đồn binh quan trọng bảo vệ trực tiếp cửa ô Tây - Nam thành Thăng Long rồi thừa thắng đánh thẳng vào sào huyệt trung tâm của địch. Mỗi trận đánh có vị trí và tác dụng trực tiếp của nó, nhưng điều quan trọng là sự phối hợp nhịp nhàng và hỗ trợ đắc lực của hai trận quyết chiến đó đã tạo thắng lợi quyết định, làm đảo lộn và sụp đổ hoàn toàn thế trận của địch, kết thúc chiến tranh
Trận Ngọc Hồi là trận tiến công chính diện nhằm đập nát vị trí then chốt trong hệ thống phòng thủ kiên cố phía trước, đồng thời thu hút chủ lực địch và sự chú ý của bộ chỉ huy địch. Trong lúc đó, trận Đống Đa là trận vu hồi, thọc sâu hết sức bất ngờ, đánh thẳng vào một cửa ngõ thành Thăng Long và cũng là chỗ sơ hở, chỗ yếu của địch để trực tiếp uy hiếp bộ chỉ huy đầu não của địch. Sự phối hợp của hai trận đánh làm cho quân địch bị chia cắt, cô lập không thể ứng cứu được cho nhau và đặc biệt, làm cho Tôn Sĩ Nghị cùng với đạo quân chủ lực của địch, bị lâm vào tình thế bất ngờ, bị động nghiêm trọng không kịp phát huy được tác dụng, và cuối cùng bị tê liệt, tan rã, bỏ chạy tán loạn.
Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa đã giáng những đòn quyết định đập tan cuộc chiến tranh xâm lược của quân Thanh, đè bẹp ý chí xâm lược của kẻ thù. Chiến thắng lừng lẫy đó thể hiển đỉnh cao tài năng quân sự kiệt xuất của anh hùng Quang Trung - Nguyễn Huệ; thể hiện ý chí quyết chiến quyết thắng và bản lĩnh chiến đấu kiên cường của quân đội Tây Sơn, cùng với sự tham gia và ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước, đặc biệt là người dân Thăng Long.
Vua Quang Trung là thủ lĩnh tối cao của phong trào cách mạng nông dân Tây Sơn, là người tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến, lại cũng là người trực tiếp đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu, đích thân chỉ huy trận Ngọc Hồi, trận chiến gay go, ác liệt nhất và giữ vai trò quyết định nhất. Chính Quang Trung đã đưa nghệ thuật thực hành quyết chiến, chiến lược lên một bước phát triển mới với nhiều nét độc đáo sáng tạo. Tuy với lực lượng so sánh chỉ bằng khoảng một phần ba quân địch, nhưng Quang Trung đã sớm tạo nên ưu thế và nhiều mặt, nhanh chóng giành lại quyền chủ động, nắm đúng thời cơ và xác định chính xác hướng tiến công chủ yếu, thứ yếu, bổ trợ để tạo nên một thế trận hoàn chỉnh, lợi hại, sử dụng binh lực một cách hợp lý với hiệu suất chiến đấu cao nhất. Trong chỉ đạo tác chiến, Quang Trung nêu cao phương châm đánh nhanh, giải quyết nhanh; tận dụng và phát huy cao độ yếu tố bất ngờ.
Trên hướng tiến công chủ yếu, quân đội Tây Sơn đã san bằng hàng loạt đồn lũy của địch trên một chiến tuyến dài gần 90 km, mà vẫn bảo đảm tốc độ tiến công trung bình khoảng 18 km một ngày. Đó là tốc độ đạt mức kỷ lục trong điều kiện và phương tiện giao thông thời bấy giờ. Sự vận động và cơ động hết sức nhanh chóng của quân đội Tây Sơn là một nhân tố trọng yếu bảo đảm giành thời cơ phát huy sự bất ngờ và bù đắp chỗ yếu về số lượng quân lính cũng như trang bị vũ khí.
Trong toàn bộ diễn biến của cuộc quyết chiến chiến lược, quân địch đã bị đẩy từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, từ thất bại này đến thất bại khác và cuối cùng bị tiêu diệt hoàn toàn. Những đồn trại quân Thanh từ Gián Khẩu đến Ngọc Hồi lần lượt bị diệt gọn chỉ trong ba ngày đầu xuân Kỷ Dậu (từ đêm Giao thừa đến tối ngày mồng 3). Đồn Ngọc Hồi được tăng cường lực lượng và phòng bị trước, nhưng cũng hoàn toàn bất ngờ trước lối đánh mưu trí, sáng tạo của quân Tây Sơn. Đồn Đống Đa bị tiêu diệt quá nhanh, như một tiếng sét đánh không kịp bịt tai đối với Tôn Sĩ Nghị. Những đòn bất ngờ liên tiếp và khủng khiếp đó làm cho viên tướng tổng chỉ huy quân Thanh “sợ mất mật”, “bủn rủn cả chân tay” và chỉ còn có cách tháo chạy để lo bảo toàn lấy thân mình[6].
Kế hoạch tác chiến của Quang Trung đã được quân đội Tây Sơn thực hiện một cách hoàn hảo, giành thắng lợi rực rỡ. Giữa các hướng và trong từng trận đánh, các đạo quân và binh chủng Tây Sơn đã phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng và hiệp đồng chiến đấu đến mức độ chuẩn xác. Trong điều kiện giao thông và thông tin liên lạc thô sơ thời bấy giờ, đó cũng là một thành tựu xuất sắc không những do sự cố gắng lớn lao của quân đội mà còn chứng tỏ trình độ tính toán khoa học của người chỉ huy.
Trong những trận quyết chiến trên, quân đội Tây Sơn còn vận dụng linh hoạt nhiều hình thức và phương án tác chiến với chiến thuật phong phú từ công đồn, tập kích đến truy kích, nghi binh chặn địch, bao vây vu hồi. Cả hai hình thức tác chiến: tiến công trận địa và tiến công vận động đều được Quang Trung sử dụng rất thành công, và hơn thế nữa, còn được kết hợp với nhau rất tài tình.
Qua chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa, thấy nổi bật lên trong nghệ thuật tổ chức và chỉ huy chiến đấu của Quang Trung, quyết tâm triệt để tiêu diệt địch, tinh thần tiến công chủ động, liên tục, nhanh chóng, mãnh liệt, “Ưu điểm trội nhất của cuộc kháng chiến đời Nguyễn Quang Trung là tiến công nhanh chóng và mãnh liệt”[7]. Đó là nhận xét tổng quát của đồng chí Trường Chinh về nghệ thuật quân sự của Quang Trung.
Khác với những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm trước đây, kháng chiến chống Thanh cuối thế kỷ XVIII là một cuộc “chiến tranh nhân dân phát triển từ phong trào cách mạng nông dân Tây Sơn chống bọn phong kiến thối nát trong nước và chống ngoại xâm”[8]. Tinh thần chiến đấu của quân đội và vai trò của nhân dân vì thế có những bước phát triển mới và cũng thể hiện tập trung nhất trong những giờ phút thử thách gay go nhất của cuộc kháng chiến: những trận quyết chiến chiến lược.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mãn Thanh mà tiêu biểu và quyết định là chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa là một trong những vũ công hiển hách nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, mãi mãi là niềm tự hào của người Việt Nam. Tự hào về sức sống kỳ diệu của một dân tộc anh hùng sáng ngời lý tưởng Độc lập - Tự do. Tự hào về nghệ thuật quân sự Việt Nam giàu tính độc đáo, sáng tạo, về người anh hùng bách chiến bách thắng, nhà quân sự thiên tài Nguyễn Huệ. Tự hào về vai trò chủ động và định đoạt của nhân dân ta trong giờ phút hiểm nghèo của lịch sử dù cho chế độ phong kiến đã suy tàn, giai cấp phong kiến phản bội dân tộc.
Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến, dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Quang Trung Nguyễn Huệ, đã đập tan mộng tưởng cướp nước của nhà Thanh và bè lũ Lê Chiêu Thống, giải phóng hoàn toàn kinh thành và đất nước khỏi ách chiếm đóng của nước ngoài, giữ vững nền độc lập tự do của Tổ quốc.
2. Dấu ấn lịch sử và các giá trị văn hoá tiêu biểu
Lịch sử đã lùi xa 237 năm nhưng những dấu ấn lịch sử văn hóa liên quan tới trận Ngọc Hồi - Đống Đa vẫn còn in đậm cho đến hiện nay. Và chắc chắn rằng các thế hệ con cháu hôm nay và mai sau vẫn còn lưu giữ những dấu ấn đó như một sự thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn”.
Một số dấu tích xưa liên quan đến trận Ngọc Hồi - Đống Đa có thể được nhận diện qua dấu tích về con đường Thiên lý: Từ Hà Hồi đến Thăng Long, dài khoảng 20 km, ngoài đồn Hà Hồi, Ngọc Hồi, còn có những đồn binh nhỏ đóng ở Bình Vọng, Lưu Phái, Văn Điển[9]. Theo sự bố trí của địch thì đồn Bình Vọng giữ vị trí như đồn tiền tiêu của Ngọc Hồi, còn đồn Lưu Phái, Văn Điển là những đồn bảo vệ mặt sau của Ngọc Hồi và là những nhịp cầu liên hệ với đại bản doanh của Thăng Long[10]; Đó là dấu tích đồn Hà Hồi, do quân Thanh lập nên trên một khu đất cao ở phía nam làng, sát bên đường thiên lý. Ở đây, quân địch không xây đắp chiến lũy, công sự mà chỉ dựa vào địa hình và làng mạc để lập doanh trại trú quân. Đồn Hà Hồi chiếm lĩnh một vùng đất tương đối cao, phía bắc dựa vào xóm làng, phía nam có thể khống chế con đường thiên lý từ trong nam ra; Đó còn là dấu tích đồn Ngọc Hồi được quân Thanh xây dựng trên cánh đồng phía nam, cách Thăng Long khoảng 14 km. Di tích của đồn lũy kiên cố hiện nay không còn nhưng còn được ghi nhớ trong ký ức của nhân dân địa phương và để lại dấu ấn trong một số tên đất ở vùng này như “đồng Đồn”, “nền Đồn”, “cây đa Đồn”… “Đồng Đồn” là một cánh đồng hình tam giác ở sát phía đông quốc lộ số 1, rộng khoảng 7 - 8 mẫu. Trên cánh đồng đó, về phía nam, có một khu đất cao hơn khoảng nửa mét so với những thửa ruộng xung quanh, hình chữ nhật, chiều dài khoảng 20 m, chiều ngang khoảng 15 m. Đó là “nền Đồn”. Theo tập truyền của nhân dân vùng Ngọc Hồi và các làng gần đó thì “đồng Đồn” là nơi xưa kia có đồn luỹ của quân Thanh và “nền Đồn” là di tích nền nhà của viên tướng chỉ huy. Gần “nền Đồn”, về phía Đông Bắc, có một cây đa cổ thụ cũng mang tên “cây đa Đồn”, nơi tập hợp của giặc[11]. Tất nhiên đồn lũy quân Thanh không chỉ giới hạn trong “đồng Đồn” 7 - 8 mẫu mà bao quát cả cánh đồng làng Ngọc Hồi. “Đồng Đồn” mà nhân dân còn ghi nhớ có lẽ là bộ phận quan trọng nhất trong phạm vi đồn lũy và “nền Đồn” có thể là sở chỉ huy của viên Đề đốc Hứa Thế Hanh.
Đồn Ngọc Hồi chiếm lĩnh một địa hình tương đối cao và giữ một vị trí trọng yếu, khống chế con đường thiên lý, ngăn chặn cuộc tiến công của quân Tây Sơn từ Tam Điệp ra, bảo vệ cửa ngõ phía nam Thăng Long. Ngoài ra còn có dấu tích về cánh đồng Ma Vang (địa bàn xã Đông Mỹ), dấu tích về cánh đồng Cung; dấu tích về cánh đồng Rền (Đại Áng); dấu tích về đầm Mực (Quỳnh Đô)… liên quan trực tiếp đến chiến dịch Ngọc Hồi - Đống Đa năm Kỷ Dậu (1789).
Trên địa bàn làng Khương Thượng cũng còn lưu lại nhiều dấu tích hoặc địa danh liên quan đến sự kiện đặc biệt quan trọng này như địa danh Cột cờ (nơi quân Tây Sơn dựng cờ), Kình quán (nơi xác quân Thanh chất thành gò đống lớn), Núi Loa (Loa Sơn) còn gọi là núi Cây Cờ hay núi Ốc, núi Ông (nơi tướng giặc Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử).... Hàng năm. cứ đến ngày mồng 4 Tết, dân làng tổ chức lễ kỷ niệm chiến thắng, tưởng nhớ Quang Trung và các tướng lĩnh Tây Sơn.
Đặc biệt, di tích gò Đống Đa đã trở thành biểu tượng của võ công oanh liệt “lưu danh muôn thuở”. Gò Đống Đa là một di tích nằm bên đường phố Tây Sơn, phường Quang Trung,quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Đêm 4 rạng ngày 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789), tại đây diễn ra trận đánh lớn, quyết định của quân Tây Sơn do Đô đốc Long chỉ huy, với sự tham gia của nhân dân vùng Khương Thượng, Nhân Mục, tiêu diệt toàn bộ đồn Khương Thượng, buộc tướng nhà Thanh là Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự tử ở núi Ốc (Loa Sơn) gần chùa Bộc bây giờ. Trận đánh đã mở đường cho đại quân Tây Sơn từ Ngọc Hồi thừa thắng tiến vào Thăng Long.
Đương thời, nhà thơ Ngô Ngọc Du viết bài Loa Sơn điếu cổ có câu:
Thành Nam thập nhị kình nghê quán
Chiếu điện anh hùng đại võ công
Nghĩa là:
Thành Nam xác giặc mười hai đống
Ngời sáng anh hùng đại võ công.
Tương truyền, sau chiến thắng, thu nhặt xác giặc xếp vào 12 cái hố rộng, lấp đất chôn và đắp cao thành gò gọi là "Kình nghê quán" (gò chôn xác "kình nghê" - 2 loài cá dữ ngoài biển, một cách gọi ám chỉ quân xâm lược phương Bắc). Theo truyền thuyết, 12 gò này nằm rải rác từ làng Thịnh Quang đến làng Nam Đồng, trên các gò cây cối mọc um tùm nên có tên là Đống Đa. Năm 1851, do mở đường mở chợ, đào xẻ nhiều nơi thấy nhiều hài cốt, lại cho thu vào một hố cao lên nối liền với núi Xưa, thành gò thứ 13, tức là gò còn lại hiện nay. Còn 12 gò khác đã bị bạt đi trong thời gian người Pháp mở rộng Hà Nội năm 1890.
Hàng năm, đến ngày mùng 5 Tết Âm lịch, người dân Hà Nội đều nô nức dự lễ hội gò Đống Đa, làm lễ dâng hương tưởng nhớ lại những chiến công của vị anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ và lễ hội đó trở thành một nét du xuân không thể thiếu của người Hà Nội.
Nhân kỷ niệm 200 năm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, năm 1989, Công viên Văn hóa Đống Đa được thành lập trên khu vực Gò Đống Đa. Đây là công trình kiến trúc mang tính lịch sử văn hóa nhằm ghi nhớ công ơn của người Anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ. Tổng diện tích của công trình 21.745 m2 được chia làm 2 khu vực, gồm khu vực tượng đài, nhà trưng bày và khu vực gò. Khu tượng đài Quang Trung và công viên văn hóa Đống Đa trông ra phố mang tên Đặng Tiến Đông, người chỉ huy trận đánh đồn Khương Thượng và đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa.
Hình ảnh Gò Đống Đa đã đi vào trong thơ ca:
Đống Đa xưa bãi chiến trường
Ngổn ngang xác giặc vùi xương thành gò
Mùng 5 tết trận thắng to
Gió reo còn vẳng tiếng hò ba quân
Noi gương chiến đấu anh hùng
Quang Trung sống mãi trong lòng chúng ta.
237 năm trước (1789), nơi đây là một chiến trường đẫm máu. Đêm mùng 4, rạng mùng 5 tết Kỷ Dậu (tức ngày 29, 30 tháng 2 năm 1789) đồn trại giặc ở Khương Thượng bị san phẳng khiến tên Thái thú Điền Châu Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử tại đây. Gò Đống Đa đã trở thành một di tích lịch sử vẻ vang của nhân dân ta kể từ đó, đồng thời còn là một chứng tích về sự thất bại nhục nhã của kẻ thù phương Bắc xâm lược. Di tích gò Đống Đa mãi là minh chứng cho truyền thống của dân ta trong cuộc chiến đấu tranh giữ nước. Đây là một di sản văn hóa - lịch sử của Thủ đô Hà Nội và của cả nước.
Hội gò Đống Đa diễn ra hàng năm vào ngày mùng 5 tết Nguyên đán tại gò Đống Đa, phường Quang Trung, quận Đống Đa, Hà Nội. Đây là lễ hội chiến thắng, được tổ chức để tưởng nhớ tới công tích lẫy lừng của vua Quang Trung - người anh hùng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Trong ngày hội có nhiều trò chơi vui khoẻ, thể hiện rõ tinh thần thượng võ, tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam Trong đó, trò rước Rồng lửa Thăng Long là độc đáo nhất. Ngày nay, đi dự lễ hội Đống Đa đối với người Hà Nội đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong những ngày đầu xuân. Gần khu vực gò Đống Đa có một ngôi chùa cổ mang tên Sùng Phúc tự hay Thiên Phúc tự, dân gian gọi là Chùa Bộc.
Chùa tọa lạc tại xã Khương Thượng, nay thuộc phường Quang Trung,quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Chùa nằm giữa khu vực diễn ra trận Đống Đa lịch sử năm 1789(cách gò Đống Đa khoảng 300m), cạnh Loa Sơn. Chùa vốn được dựng để thờ Phật, nhưng vì chùa tọa lạc sát một chiến trường giữa quân Tây Sơn và quân Thanh nên chùa còn thờ cả vua Quang Trung và vong linh những người đã chết trận.
Chùa được xây dựng từ thời Hậu Lê hoặc trước nữa. Bia cổ nhất của chùa còn ghi niên hiệu Vĩnh Trị nguyên niên, thời Lê Hy Tông (1676). Bản lịch sử của chùa có ghi vào năm 1676, đời vua Lê Hy Tông, vị Tăng lục Trương Trung Bá cùng nhân dân xây dựng lại chùa đã bị đổ nát sau chiến tranh loạn lạc.
Trong trận Đống Đa, chùa bị thiêu trụi (1789) và ba năm sau, năm 1792, thời Quang Trung, chùa được trùng tu lại trên nền cũ làm nơi quy y cho vong hồn quân Thanh và được đổi tên là chùa Thiên Phúc. Tuy nhiên nhân dân vẫn quen gọi là Chùa Bộc để chỉ xác giặc bị phơi ra khắp nơi. Bộc có nghĩa "phơi bày", nghĩa là ngôi chùa được xây dựng ngay nơi chiến địa mà quân thù chết phơi thây.
Chùa có những liên hệ mật thiết với chiến thắng Kỷ Dậu (1789) của quân Tây Sơn. Ngay phía trước chùa Bộc vẫn còn một cái hồ được gọi là hồ Tắm Tượng, nơi đội tượng binh của nghĩa quân Tây Sơn tắm sau khi hạ được đồn Khương Thượng. Ngày nay diện tích hồ bị thu nhỏ lại rất nhiều so với trước.
Sau lưng chùa còn có di tích Loa Sơn, nơi tướng giặc Sầm Nghi Đống sau khi thất trận đã thắt cổ tự tử. Hơn nửa thế kỷ sau, danh sĩ Nguyễn Văn Siêu khi đến thăm núi Ốc đã cảnh cáo bọn xâm lược:
“Khả liên tích cốt vô quy nhật
Loạn giữ quần sơn nhất vọng nguy”.
Nghĩa là:
“Thây chất mong chi ngày trở lại
Thêm cùng gò núi một cồn xương”.
Trong chùa còn có di tích Thanh miếu tức miếu thờ Sầm Nghi Đống cũng như quân lính xâm lược nhà Thanh đã chết trong chiến trận. Thanh miếu do chính vua Quang Trung ra lệnh cho xây dựng. Dân gian vẫn còn lưu truyền câu:
Đống Đa ghi dấu nơi đây
Bên kia Thanh miếu, bên này Bộc am
Trong chùa ngoài hai tấm bia dựng năm 1676 còn có bia "Chính Hòa Bính Dần" (1686), nhưng quan trọng hơn là bia dựng năm Nhâm Tí niên hiệu Quang Trung thứ 4 (1792). Trước năm 1945, Hòa thượng Chính Công trụ trì đã khai trường thuyết pháp đào tạo được nhiều tăng, ni.
Năm 1959, phát hiện tấm bia đề niên hiệu Quang Trung tứ niên (1792) và một quả chuông đồng đề niên hiệu Cảnh Thịnh (thời Nguyễn Quang Toản) cũng như một số hiện vật xung quanh gò Đống Đa như lò đúc tiền, hoành phi, câu đối có liên quan đến triều đại Tây Sơn. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia từ năm 1962. Trong chùa có bức tượng Đức Ông, có dòng chữ khắc sau bệ ngồi của tượng Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng. Người dân tin rằng đó là cách mà dân làng Khương Thượng thể hiện lòng thành kính và thờ vị vua Quang Trung - Nguyễn Huệ dưới hình tượng Đức Ông trong thời kỳ vua Gia Long nhà Nguyễn tìm cách trả thù những người thuộc triều đại Tây Sơn. Tượng Đức Ông ngồi trên cao, ở dưới, hai bên có hai pho tượng khác. Cả ba pho tượng cho ta thấy như thể quân vương đang bàn chuyện đại sự với hai vị cận thần. Tư thế của tượng Đức Ông cũng khác thường. Ngài ngồi trên bệ sơn son, một chân ở trong hài, còn một chân để bên ngoài một cách tự nhiên, rất sống động. Ngài mặc hoàng bào, thêu rồng ẩn trong mây, lưng thắt đai nạm ngọc, đầu đội mũ xung thiên, có hai dải kim tuyến thả xuống trông rất oai nghiêm. Ngay sau lưng pho tượng, phía bên trên đỉnh đầu, có một chữ tâm (chữ Hán) rất lớn. Bên trên, trước ngai thờ có một tấm hoành phi ghi bốn chữ: Uy phong lẫm liệt.
Đặc biệt hơn hết là đôi câu đối treo hai bên ngai thờ Đức Chúa Ông như sau:
Động lý vô trần đại địa sơn hà lưu đống vũ.
Quang trung hoá Phật tiểu thiên thế giới chuyển phong vân
Nghĩa là:
Trong động sạch bụi dơ, non sông rộng lớn lưu truyền lương đống
Giữa ánh sáng thành Phật, tiểu thiên thế giới chuyển động gió mây.
Câu đó nếu được đọc đầy đủ phải là: "Quang trung hoá Phật vô số ức", có nghĩa: Trong ánh sáng (quang trung) có vô số hoá Phật. Nhưng vế thứ hai của câu đối này có thể hiểu theo nghĩa khác: "Vua Quang Trung hoá thành Phật...". Nghĩa thứ hai này hoàn toàn không có gì trở ngại đối với câu văn chữ Hán.
Đầu năm 1962, cán bộ Vụ Bảo tồn Bảo tàng thuộc Bộ Văn hóa và Sở Văn hóa Hà Nội đã đến chùa Bộc tiến hành điều tra tại chỗ, xác định giá trị khu chùa Bộc. Chiều ngày 20-4-1962, ông Lê Thước, cán bộ Cục Bảo tồn Bảo tàng cùng một số cán bộ của Cục đến chùa Bộc điều tra lần nữa. Ngày 22-4-1962, ông Trần Huy Bá kiểm tra pho tượng thì phát hiện phía sau bệ gỗ pho tượng đặt áp sát vào tường có dòng chữ ghi: "Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng" (Năm Bính Ngọ tạc tượng vua Quang Trung). Đối chiếu với lạc khoản ở đôi câu đối trên, xác định được đó là năm Bính Ngọ 1846.
Trên báo Nhân Dân số ra ngày 6-5-1962, ông Trần Huy Liệu có đăng bài "Tượng lạ chùa Bộc hay lòng dân yêu quý anh hùng".
Trên tờ báo Cứu quốc số 3577, ra ngày 20/2/1972, tác giả Đạm Duy viết "Chính ông Nguyễn Kiên, một võ tướng cai quản đội tượng binh Tây Sơn, sau trở thành nhà sư, tu ở chùa Bộc đã cho tạc tượng vua Quang Trung. Ông Nguyễn Kiên đã từng kết bạn thân với nhà thơ, nhà lãnh tụ cuộc khởi nghĩa nông dân Cao Bá Quát. Câu đối ca ngợi vua Quang Trung dẫn ở trên tương truyền là của nhà thờ họ Cao".
Sự hiện diện của quần thể di tích Gò Đống Đa, chùa Bộc, Loa Sơn và các địa danh lịch sử cũng như sức sống trường tồn của sinh hoạt lễ hội, đặc biệt là Lễ hội gò Đống Đa diễn ra vào ngày mùng 5 Tết hàng năm đã trở thành biểu tượng lung linh của Thăng Long “đất thiêng ngàn năm văn vật”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoa Bằng, Quang Trung anh hùng dân tộc (1788 - 1792), Nxb. Bốn Phương, 1951.
2. Nguyễn Lương Bích - Phạm Ngọc Phụng, Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1966.
3.Trường Chinh, Kháng chiến nhất định thắng lợi, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1955.
4. Võ Nguyên Giáp, Đường lối quân sự của Đảng là ngọn cờ trăm trận trăm thắng của chiến tranh nhân dân ở nước ta, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1973.
5. Lê Hồng Lý, Tìm hiểu lễ hội Hà Nội, Nxb. Hà Nội, 2010.
6. Hồng Nam - Hồng Lĩnh: Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1998.
97. Hoàng Minh, Tìm hiếu tổ tiên ta đánh giặc, Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 1972.
8. Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, (tập 1, 2), Nxb. Văn học Hà Nội, 1984.
9. Lê Đình Sỹ, Thăng Long Hà Nội những trang sử vẻ vang chống ngoại xâm, Nxb. Hà Nội, 2010.
10. Hai trăm năm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa (1789 - 1989), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 1/244 (1989).
11. Nguyễn Thu, Lê quý kỷ sự, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1974.
12. Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Nghệ thuật quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1989