Tiến sĩ Lê Khắc Cẩn sinh
năm 1833, khi vương triều Nguyễn đang tiến tới giai đoạn cực thịnh. Nhưng chỉ
hơn 20 năm sau, khi ông đậu Giải nguyên khoa thi Hương năm Ất Mão (1855) và đậu
Hoàng giáp khoa thi Hội năm Nhâm Tuất (1862) thì triều đình Nguyễn đã lâm vào
cuộc khủng hoảng triền miên, dẫn đến một bi kịch lớn nhất của cả dân tộc: Đất
nước mất quyền độc lập, dân tộc rơi vào cảnh nô lệ ngoại bang.
Là một trí thức Nho giáo
tin vào Đạo, vào trách nhiệm phải gánh vác trước đất nước và dân tộc, Lê Khắc
Cẩn đã có nhiều trăn trở trước tai họa ngoại xâm, trước nguy cơ quốc gia suy
vong, có hoài bão đền ơn vua trả nợ nước. Nhưng cho đến khi mất, ông chỉ giữ các
chức văn quan, lại không phải ở chỗ then máy của triều đình, nên ông đành ngụ
tâm sự của mình vào những gì đã trước thuật, mặc dù trong điều kiện chuyên chế
ngặt nghèo lúc ấy, việc gửi gắm tâm hồn vào câu thơ, bài văn cũng chẳng dễ dàng
gì, và việc lưu giữ chút di sản tinh thần ấy cũng thực không đơn giản. Có tìm
hiểu điều đó, mới thấy những Hải Hạnh văn phái, Hải Hạnh thi tập, Hải
Hạnh văn tập, Hải Hạnh thi văn tập… còn lại được đến ngày nay, thực đã là
điều may mắn cho ông và cho cả chúng ta, lớp hậu thế muốn thưởng thức thơ văn
điêu luyện của ông, muốn lý giải một thời kỳ lịch sử bi tráng của dân tộc.
Cũng cần thấy rằng, ngay
từ rất sớm, thơ văn của ông đã lọt vào mắt xanh của những công trình tuyển tập
nổi tiếng như Quốc triều danh biên, Danh nhân văn tập, Hải Vân am thi
tập…
Đọc thơ Lê Khắc Cẩn, có
cảm giác bất cứ ở đâu, trong hoàn cảnh nào, ông cũng có thể làm thơ; cảnh vật,
con người xung quanh đều có thể đi vào thơ ông một cách tự nhiên không gượng
ép. Ông làm rất nhiều thơ mừng tặng, xướng họa, nhưng hầu như bài nào cũng có
tứ hay, lời đẹp. Thơ mừng bạn thăng chức:
Nam phố
vị tri hà nhật hội,
Tây hồ do hệ cách niên tình.
(Nam phố chưa hay ngày gặp gỡ,
Tây hồ vẫn vậy mối tình bền).
(Giản phụng Bùi Các đại nhân thăng Lại bộ tham tri)
Mừng người đỗ đầu khoa Cử
nhân:
Quản
giao nhật nguyệt phao nhàn quá,
Đáo để hoàng hoa nhập mộng trì.
(Mặc cho ngày tháng vèo trôi mất,
Rốt cuộc hoa vàng chậm giấc mơ).
(Hạ Yên Trung Cử nhân Đặng Đình Tuân trưởng khoa ông)
Cho đến tiệc mừng đầy
tháng đứa con của vị Cử nhân, cũng có niềm vui chàng trai trẻ được làm bố, bà
chị được bế cháu, rất gần gũi, rất người:
Tài
lang kim nhật tri vi phụ,
Hiền tẩu cao niên úy bão tôn.
(Chị dâu nhiều tuổi mừng
ôm cháu,
Chàng trẻ hôm nay biết chức cha).
(Thịnh Liệt Nguyễn Cử nhân nam chu nguyệt tức tịch tặng)
Có lẽ chưa có một nhà thơ
nào lại để cho các nhân vật lịch sử đương thời đi vào thơ mình đông đúc như Lê
Khắc Cẩn. Chỉ trong 118 bài thơ tuyển chọn trong Thơ văn Lê Khắc Cẩn (1),
ta gặp những Tri huyện Vũ Bá Ngọc, Cử nhân Đặng Đình Tuân, Hàn lâm Vũ Oánh Phủ,
Tri huyện Trần Nhược Sơn, Thượng thư Bùi Văn Dị, Hiệp biện Đại học sỹ Trần Bích
San, Chánh sứ Nguyễn Thuật, Minh hương Sơ Bang Tú, Sơn phòng sứ Nguyễn Tuân
Nhất, án sát Nguyễn Huy Quỳnh, Thương biện Nguyễn Tế, Sơn phòng Ngô Trọng
Đương, Đốc học Vũ Hữu Lợi, Đại nhân Trần Trọng Cung, Thông phán Nguyễn Gia
Tích, Hàn lâm tu soạn Trần Cầu Anh, Cố chế đài Hoàng Diệu, Phác Hiên, Tổng đốc
Trần Đình Túc, Suất đội Hoàng Tú, Thượng thư Nguyễn Hữu Độ, Tuần phủ Vũ Đông
Phần, Tri huyện Thọ Xương Hoàng Văn Khải, Tri huyện Hoàng Dụng Tân, Tri huyện
Nguyễn Đường, Biện lý Hoàng Hữu Thường, Bố chính Lê Tuấn, Bang tá Nguyễn Văn
Nhã, Bố chính Vũ Văn Báo, Lê Kính Tư, Cử nhân Mai Lập Chính, Cai tổng họ Vũ, Cử
nhân Nguyễn Túc, ông Lê Phong người xã Nhân Mục, Bang biện Lê Sỹ Tiên, Tri phủ
Phan Hữu Thường, Điển ty Nguyễn Ngọc Chấn, Thừa biện Ngô Quang Dụ, Thất phẩm
văn giai Vũ Khiêm Thiện, quan Phái biện Tập Phúc, Đốc học Tô Ngọc Nữu, Bạn già
Phan Chí Phủ, ông họ Bùi ở Trích Sài, Đại sứ viện Thái y thời Lê La tiên sinh,
Bố chính Tuyên Quang Nguyễn Khắc Đỉnh, án sát Nguyễn Đại nhân, Tuần phủ Lạng
Sơn Lã Xuân Oai, Ngự sử trung thừa Lã Xuân Trang, Tri huyện Hàm Yên họ Nguyễn,
Tổng đốc Tống Phước Trạch, nguyên Tri huyện Nghi Xuân họ Vũ, đồng hương, Tú tài
họ Phạm, Đại thần Nguyễn Trọng Hợp, Tham tri họ Vũ quê Côi Trì, ấm sinh người
Nam Định, Tri huyện Thăng Bình Nguyễn Công Chính, Đốc học Doãn Khuê, Tham tri
Phan Đình Bình, Thương biện Quảng Bình Trần Văn Hệ, Tuần phủ Ninh Bình Phạm Hy
Lượng…
Có thể thấy mối quan hệ
xã hội của ông rộng rãi biết dường nào, cũng có thể thấy mối quan tâm của ông
đối với con người, đối với thời cuộc da diết làm sao. Điều đáng trân trọng là
nhắc tới ai, ông cũng giữ một tấm lòng trung hậu, chân thành. Ông trân trọng
cống hiến của bậc nguyên lão đại thần:
Tứ giao
lộng giáp đan xa chí,
Thất cổn hành canh lũy sớ hưu.
(Bốn bên binh giáp thân
xông tới,
Bảy lượt hành canh(2) mấy bận hưu.)
(Cung thứ Trần đại nhân lưu giản nguyên vận)
Ông lưu luyến tiễn đưa
bạn về Kinh:
Túy bãi
xuân đình tương tạm biệt,
Giang sơn trữ vọng nhất hồi đầu.
(Tỉnh rượu, xuân đình ta
tạm biệt,
Non sông, đứng vọng lại quay đầu.)
(Túy tiễn sơn phòng Nguyễn Tuân Nhất lai Kinh)
Tiễn Vũ Văn Báo đi Nam
Định nhận chức Bố chính, ông cảm thán cuộc thế vẩn đục như nước sông Hồng, càng
ghê sợ thói đen bạc trong hàng quan lại khi ấy, như linh cảm sự tráo trở phản
bội của Báo sau này:
Cục sự
tương khan hà thủy trọc,
Hoạn tình thiên khủng vị giang thâm.
(Cuộc thế nhìn kia dòng
nước đục,
Tình quan ghê sợ hiểm sông sâu.)
(Tiễn Hà thương Vũ công tuân chỉ phó Nam phiên)
“Cuộc thế” (cục sự) luôn
là nỗi ám ảnh Lê Khắc Cẩn, đến vô cùng vô tận: “Vô cùng cục sự khan hành chỉ”;
nó bao hàm cả nhân thế, cả vũ trụ: “Bách niên vũ trụ vô cùng sự”; nó khiến
người ta hoang mang, không biết khi nào mới chấm dứt: “Cục sự ná tri hà nhật
liễu”…
“Cuộc thế” (cục sự) ấy là
tình hình khủng hoảng trầm trọng của xã hội Việt Nam khi đó, mà với hệ thống
quan điểm Nho giáo, Tiến sỹ Lê Khắc Cẩn không lý giải nổi. Điều đáng quí, đáng
trân trọng ở nhà trí thức này là dù có lúc mỏi mệt như một hành nhân đi mãi
trên đường dài đầy gió bụi (Quyện khách kỷ kinh trần lộ tẩu), hổ thẹn vì
đã già nhưng vẫn vô dụng (Văn chương lão khứ tàm vô dụng), thậm chí lúc
bế tắc, muốn học theo Phạm Lãi mang bầu rượu đi ở ẩn (Hồ du dư dục sách xuy
di), nhưng trước sau, ông luôn luôn tự nhủ mình phải giữ cốt cách thanh tao
(thanh cốt), tâm hồn trong trắng (tố tâm).
Cuộc đời làm quan của ông
hầu như không có lúc nào được vui (Lịch sĩ đa niên vô hỷ sắc), mắt đã
nhìn chán cảnh phù vân (Phù vân giang thượng đa kinh nhỡn), cuộc sống
rất nghèo chỉ có tiếng liêm khiết (Nhất bần hứa cửu hữu liêm danh), ông
cũng hướng lòng mình về luống cúc, về ruộng vườn, về sông nước, về yên hà…
Nhưng nhiều hơn là tự nhủ mình gắng làm cây tùng, cây bách không sợ rét, làm
gừng làm quế càng già càng cay:
Quế
khương tân vị hà phương lão,
Tùng bách trinh tư bất phạ hàn.
(Gừng quế vị cay, già đâu
kể,
Bách tùng dáng đẹp, rét lo chi)
(Thứ vận Đặng ông: Phó xuân thí lưu giản vi tiễn)
Ông luôn luôn khảng khái
tự nhận trách nhiệm của mình, của đạo mình trước mọi hưng phế của đất nước:
Hưng
phế thục phi ngô đạo trách ...
(Hưng, phế thảy đều ở đạo
ta)
(Họa Tô lão ông nhân đăng Ngọc Sơn vịnh “Sơn kiều trùng tân thành” nguyên
vận)
Và ông luôn giữ được niềm
tin, như răng rụng mong có ngày mọc lại, như hoa rụng sẽ có ngày kết trái:
Tuy
nhiên thượng hữu trùng sinh vọng,
Hoa lạc tương khan kết tử kỳ.
(Tuy thế vẫn mong còn mọc
lại,
Hoa rụng có ngày kết trái thôi).
(Xỉ từ ngạc khẩu chiếm)
Như non sông sẽ yên gió
bụi, như cây cỏ sẽ được gặp móc mưa:
Giang
sơn hội kiến phong trần tĩnh,
Thảo mộc tương phùng vũ trạch nhiêu.
(Sông núi sẽ tan cơn gió
bụi,
Cỏ cây đương gặp móc mưa nhuần).
(Bính Tuất nguyên nhật ngẫu thành)
Càng đáng tin tưởng hơn
khi có cả lớp trí thức trẻ tiếp bước theo ông. Trong bài thơ tặng các vị Cử
nhân mới của tỉnh, ông động viên họ:
Thu sắc
vị tu sầu lạc mạc,
Vân thiên do khả trữ phi đằng.
(Sắc thu chẳng phải sầu
dằng dặc,
Trời mây vẫn đợi thuở bay lên).
(Tặng bản tỉnh tân khoa Cử nhân)
Nửa cuối thế kỷ XIX, dân
tộc Việt Nam gặp cơn “kiếp nạn” chưa từng có trong lịch sử. Chủ nghĩa tư bản
phương Tây trên con đường tìm kiếm thị trường đã mở rộng sự xâm lược và bành
trướng của nó ở khắp mọi nơi. Nước ta sớm trở thành đích ngắm cho những tham
vọng ngông cuồng của chúng. Trước ưu thế về sức mạnh của kẻ thù, triều đình nhà
Nguyễn thực hiện chính sách thỏa hiệp, đi tới đầu hàng hèn nhát. Một số trí
thức thời đó quay lưng lại dân tộc, hợp tác với quân xâm lược, tiếp tay cho bọn
chúng đàn áp đồng bào mình. Trước “cuộc thế” (cục sự) “đục ngầu như nước sông
Hồng” như thế, nhà tri thức chân chính Lê Khắc Cẩn có thái độ rất dứt khoát:
Ông coi chúng là kẻ thù không đội trời chung của cả nước (Bất cộng thiên bang
cừu), và gọi chúng là “giặc chó” (cẩu tặc), là “quỉ”, là “man Tây” (Tây man).
Trước cảnh đất nước bị xâm lược, ông cảm thấy như mình có lỗi, không có kế sách
gì hay để dâng lên, chỉ biết nhìn về phương Nam bị giặc dầy xéo mà xót xa tuôn
lệ:
Vô tài
dục hiến lai vương tụng,
Nhẫn kiến nam ngung lệ mãn thùy.
(Bất tài xin hiến “Lai
vương tụng”,
Nỡ thấy trời Nam lệ ướt đầm).
(Dương di xuất cảng cảm tác)
Dẫu nói đến “chiến thư”,
đến “hòa nghị” là hai sách lược ứng xử với bọn xâm lược Pháp thời ấy, dẫu phải
viện dẫn cái lẽ “Trời đất vẫn còn tha nước chó, Đường Ngu chẳng chấp lũ di
Miêu”(3) có ý thanh minh cho triều đình, nhưng hình như chính bản thân ông cũng
không tin vào điều đó. Lập trường của ông là: không nên coi hòa nghị là quốc
sách để thực hiện đến cùng, hãy vì muôn dân mà xử trí bọn giặc Tây.
“Hãy vì muôn dân mà xử
trí bọn giặc Tây”, “đừng để bao người lao khổ chốn sa trường hàng mấy năm trời
mà phải ngồi nhìn sứ giặc nghênh ngang đến chốn minh đường”, đó mới là tâm
nguyện, là ý chí của ông. Xin hãy đọc lại cả bài thơ thể hiện tâm nguyện ấy, ý
chí ấy:
Văn
Dương sứ để quán
Lao khổ sa trường kỷ tuyết sương,
Tọa khan lỗ sứ đạt minh đường.
Cánh vô kê áp sung trường chủy,
Ninh hữu quan thường giảo quỉ trang.
Khổn ngoại lục quân hoàn đối lũy.
Chu trung nhất giới dị lai vương.
Vị ưng quốc kế cùng hòa học,
Thả vị sinh linh trí quỉ phương.
Dịch nghĩa:
Nghe
tin sứ Tây đến dịch quán
(Biết bao người) lao khổ chốn sa trường, đã trải mấy tuyết sương,
Phải ngồi nhìn sứ giặc (nghênh ngang) đến chốn minh đường.
Không còn gà vịt đâu nữa mà nhét vào mỏ dài (của bọn bay).
Ta chỉ có mũ áo (lịch sự) để chọi lại sự ngụy trang quỉ quyệt (của bọn bay).
Ngoài chiến trường, toàn quân vẫn đang đối lũy với giặc,
(Thế mà) ở trong thuyền, chỉ một cỗ áo giáp mà chúng dễ dàng đến chầu như vậy.
Không nên coi học thuyết hòa nghị là “quốc kế” để thực hiện đến cùng,
Hãy vì sinh linh trăm họ mà mau xử trí bọn giặc Tây(4).
Tạm dịch thơ:
Lao khổ sa trường mấy tuyết
sương,
Ngồi nhìn sứ giặc tới minh đường.
Chẳng còn gà vịt nuôi dài mỏ,
Chỉ có cân đai chọi ngụy trang.
Ngoài trận toàn quân còn đối lũy,
Trên thuyền bộ giáp dễ chầu vương.
Quốc kế chẳng nên hòa nghị mãi,
Vì dân sớm liệu rợ Tây phương.
Ý tưởng “vì dân sớm liệu
rợ Tây phương” của Lê Khắc Cẩn ai ngờ mãi đến 56 năm sau, với cuộc cách mạng
Tháng Tám vĩ đại, chúng ta mới thực hiện được. Dễ hiểu nỗi đau mất nước dầy vò
tâm trí lớp trí thức như ông thời đó. Và ngày nay, đọc thơ ông, chúng ta trân
trọng một tài thơ, càng trân trọng một tấm lòng yêu nước thương dân của lớp trí
thức như ông.
CHÚ THÍCH:
(1) Hội sử học Hải
Phòng: Thơ văn Lê Khắc Cẩn, Nxb. Hải Phòng, 2003.
(2) Mỗi hành canh là 10
năm, 7 hành canh là 70 năm, chỉ khi ấy Trần đại nhân đã 70 tuổi.
(3) Nguyên văn: Thiên
địa thả do dung cẩu tặc, Đường Ngu ưng bất tiết Miêu di.
(4) Giặc Tây: nguyên văn
là “Quỉ phương”. Quỉ Phương vốn là một địa danh cổ. Dịch kinh: Cao Tông đánh
Quỉ phương. Các sách Hậu Hán thư, Thông điển, Thông khảo đều
cho rằng Quỉ phương là Tây nhung. Nhung nghĩa là “rợ”, là “mọi”, ở đây tác giả
dùng “Quỉ phương” với hàm nghĩa “giặc Tây”.