Một số vấn đề về công bằng kinh tế và công bằng kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Tóm tắt: Công bằng kinh tế là một vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nước ta hiện nay, là một tiền đề thúc đẩy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh, lành mạnh và bền vững. Trong bài viết này, một mặt, tác giả luận giải một số quan điểm về công bằng xã hội và công bằng kinh tế, từ đó khẳng định, các giá trị của công bằng kinh tế được thể hiện ở các nguyên tắc của nó; mặt khác, tác giả khẳng định qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước tiến nhảy vọt trong tăng trưởng kinh tế, cùng với đó là những cải thiện căn bản về tiến bộ và công bằng xã hội. Tuy nhiên, việc thực hiện công bằng kinh tế ở Việt Nam hiện nay còn một số vấn đề đặt ra cần được tiếp tục nhận thức và giải quyết.

Từ khóa: Công bằng xã hội, công bằng kinh tế, công bằng kinh tế ở Việt Nam hiện nay.

1. Vấn đề công bằng kinh tế

Từ góc độ công lý quốc tế và công bằng xã hội, Liên Hợp Quốc luôn nhấn mạnh vấn đề công bằng xã hội. Theo quan điểm này, mặc dù trước đây đã có nhiều nhà triết học bàn đến vấn đề công bằng, song công bằng xã hội lại là một quan niệm tương đối mới. Các nhà triết học phương Đông hay phương Tây cổ trung đại, thậm chí cho đến cả thời Khai sáng cũng chưa thấy được nhu cầu thừa nhận công bằng hay khắc phục những bất công từ góc độ xã hội. Vấn đề công bằng xã hội nổi lên cùng với cách mạng công nghiệp và học thuyết xã hội chủ nghĩa. “Nó (công bằng xã hội) xuất hiện với tư cách biểu thị cho cuộc biểu tình chống lại sự khai thác tư bản chủ nghĩa về lao động và với tư cách là tâm điểm của sự phát triển các biện pháp cải thiện điều kiện sống của con người. Nó được sinh ra như một khẩu hiệu cách mạng thể hiện những lý tưởng của sự tiến bộ và tình đoàn kết anh em. Sau cuộc cách mạng làm rung chuyển châu Âu vào giữa thập niên 80, công bằng xã hội trở thành lời kêu gọi tập hợp của các nhà tư tưởng và các nhà hoạt động chính trị tiến bộ. Đáng chú ý là Proudhon đã đồng nhất công bằng với công bằng xã hội và công bằng xã hội có liên quan đến nhân phẩm con người” [2, tr.11-12].

Vấn đề công bằng xã hội ngày càng được làm rõ hơn khi có sự phân biệt giữa lĩnh vực xã hội và lĩnh vực kinh tế, ngày càng gắn với công bằng kinh tế nói chung và công bằng phân phối nói riêng [Xem: 2, tr.12]. Mặc dù thừa nhận cách hiểu và sự thực hiện công bằng xã hội của mỗi quốc gia là không giống nhau, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể, bối cảnh kinh tế chính trị, truyền thống văn hóa, tâm lý dân tộc,… song, theo quan điểm của Liên Hợp Quốc, công bằng xã hội có những chiều cạnh mang tính phổ quát, có những tiêu chuẩn nhất định được thừa nhận bởi nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế.

Hiến chương Liên Hợp Quốc, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Hiệp ước quốc tế về quyền con người đã nhấn mạnh đến ba lĩnh vực then chốt của bình đẳng và tính công bằng, đó là bình đẳng về quyền, về cơ hội và về điều kiện sống. Thứ nhất, bình đẳng về quyền nhấn mạnh đến quyền dân sự của các cá nhân; thứ hai, bình đẳng về cơ hội nhấn mạnh đến quyền tiếp cận bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; thứ ba, bình đẳng về điều kiện sống nhấn mạnh đến việc thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, tạo đồng thuận chung trong xã hội.

Vậy, công bằng xã hội là gì, hay nói cách khác, đặc trưng căn bản nhất của nó thể hiện ở đâu? Câu trả lời là công bằng xã hội tương đương với công bằng phân phối. “Trong bối cảnh hiện nay, công bằng xã hội mang ý nghĩa đặc trưng là công bằng phân phối. Các thuật ngữ nhìn chung được hiểu là đồng nghĩa và có thể thay thế được cho nhau trong cả lối nói thông thường lẫn trong ngôn ngữ về quan hệ quốc tế. Khái niệm công bằng xã hội/ phân phối được nói đến trong các công trình lý luận học thuật và trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế (như Hiến chương và Tuyên ngôn quốc tế) có thể chỉ nói đến nghĩa rộng của “công bằng” [2, tr.13]. Tuy nhiên, việc đồng nhất công bằng xã hội với công bằng phân phối là đầy đủ hay chưa thì vẫn còn tạo ra nhiều tranh luận.

Từ một góc độ khác, Diễn đàn phát triển xã hội quốc tế của Liên Hợp Quốc nhận thức rằng, công bằng kinh tế chính là một hợp phần của công bằng xã hội. Công bằng kinh tế ở đây được hiểu là các cơ hội việc làm tốt và phân phối thu nhập công bằng cho hoạt động sản xuất của các cá nhân, vì vậy công bằng kinh tế là một khía cạnh của công bằng xã hội.

Diễn đàn phát triển xã hội quốc tế đã xác định 6 lĩnh vực chủ yếu của sự bất bình đẳng về phân phối hàng hóa, cơ hội và quyền, đó là: 1) Bất bình đẳng về phân phối thu nhập; 2) bất bình đẳng trong phân phối tài sản; 3) bất bình đẳng về phân phối cơ hội nghề nghiệp và việc làm có thù lao; 4) bất bình đẳng về phân phối trong việc tiếp thu tri thức; 5) bất bình đẳng trong việc phân phối các dịch vụ y tế, an sinh xã hội và sự an toàn môi trường; 6) bất bình đẳng về cơ hội với sự tham dự mang tính công dân và chính trị [Xem: 2, tr.17-19]. Theo quan điểm này, từ cách tiếp cận 3 lĩnh vực ưu tiên về bình đẳng/công bằng và 6 lĩnh vực bất bình đẳng, khái niệm công bằng phân phối được hiểu với nghĩa rất rộng, bao quát toàn bộ các khía cạnh phân phối trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường. Đây là một khung tham khảo có giá trị khi tìm hiểu về mô hình công bằng kinh tế.

Bên cạnh quan điểm của Liên Hợp Quốc, các học giả thiên về tư tưởng Công giáo không ít lần nêu lên vấn đề công bằng kinh tế. Một trong các tuyên ngôn về vấn đề này của Giáo hội Công giáo chính là Lá thư mục vụ “Công bằng kinh tế cho mọi người” (Economic Justice for All) của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 1986 [Xem : 5]. Bức thư được viết trong bối cảnh Ronald Reagan triển khai thực hiện các chính sách tự do của chủ nghĩa tư bản tự do (Laissez - Faire Capitalism). Giáo hội Công giáo Hoa Kỳ đã coi chủ nghĩa tư bản tự do đi ngược lại với công bằng xã hội, tinh thần tương trợ, chủ nghĩa cộng đồng.

William E.Murnion, giáo sư triết học và tôn giáo của Ramapo College, Hoa Kỳ, đồng thời là người sáng lập Philosophy Works, cho rằng, Lá thư mục vụ này đã nêu lên các nguyên tắc căn bản của công bằng xã hội, về bản chất không khác với tư tưởng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa. Các giám mục đã bày tỏ sự đối lập với tư tưởng của các nhà tư bản, khẳng định “sự ưu tiên cho người nghèo”, phát triển học thuyết công bằng xã hội với nguyên tắc nền tảng giống như tư tưởng của C.Mác là “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” [Xem: 6, tr.847-857]. “Sự ưu tiên cho người nghèo” là một trong những nội dung quan trọng nhất của học thuyết xã hội Công giáo. Vấn đề ở đây là có sự phân biệt giữa công bằng dựa trên đóng góp và công bằng dựa trên phân phối. “Hình thức của nguyên tắc công bằng bao gồm một mệnh đề trên nền tảng công bằng đóng góp - nghĩa vụ của mỗi cá nhân đóng góp cho phúc lợi chung - tương xứng với mệnh đề dựa trên công bằng phân phối - quyền mỗi cá nhân chia sẻ cái lợi (và điều xấu) của xã hội. Sự bất đồng ý kiến về hai mệnh đề này nảy sinh: Cái gì mới là bản chất nền tảng, công bằng đóng góp hay công bằng phân phối. Vì vậy, sự khác biệt giữa những tư tưởng công bằng xã hội có thể được biểu thị bằng sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa những khái niệm khác nhau của chúng về cơ sở của công bằng đóng góp và công bằng phân phối” [6, tr.848]. Quan niệm cơ sở của phân phối là năng lực hay nhu cầu tác động đến việc phân định chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản.

Sự hài hòa giữa công bằng đóng góp và công bằng phân phối sẽ tạo ra công bằng kinh tế, người lao động sẽ chủ động tham gia vào đời sống kinh tế, độc lập, phát triển, thoát khỏi tha hóa và trở nên tự do, giàu có, khắc phục được sự bất bình đẳng, bất công trong xã hội. Đương nhiên, ở đây cũng cần nói thêm rằng, các giám mục không chủ trương thu hẹp quyền sở hữu tư nhân, mà ngược lại, ủng hộ sự mở rộng quyền sở hữu tư nhân. Đồng thời, họ cũng không chấp nhận lập trường của chủ nghĩa tư bản tự do, tương tự chủ nghĩa Mác, họ xuất phát từ quan điểm của người nghèo và những người bị áp bức để bàn về công bằng kinh tế. Vậy công bằng trong kinh tế phải tuân theo những nguyên tắc nào? Edward J.O'Boyle đã nêu ra 3 nguyên tắc của công bằng kinh tế, đó là nguyên tắc tương đương, nguyên tắc công bằng phân phối, và nguyên tắc công bằng đóng góp [Xem: 4, tr.43-60].

C.Mác cho rằng, xã hội loài người phải có công bằng và xã hội tư bản là một xã hội không có công bằng, trong đó “người công nhân sản xuất càng nhiều của cải, sức mạnh và khối lượng sản phẩm của anh ta càng tăng, thì anh ta càng nghèo. Người công nhân càng tạo ra nhiều hàng hóa, anh ta lại trở thành một hàng hóa càng rẻ mạt. Thế giới vật phẩm càng tăng thêm giá trị thì thế giới con người càng mất giá trị. Lao động không chỉ sản xuất ra hàng hóa mà thôi: Nó sản xuất ra bản thân nó và sản xuất ra người công nhân với tính cách là hàng hóa, hơn nữa sản xuất theo cùng một tỷ lệ theo đó nó sản xuất ra hàng hóa nói chung” [1, tr.128]. C.Mác đã đề cập đến công bằng kinh tế khi ông yêu cầu phải thực hiện công bằng trong sản xuất, công bằng trong trao đổi và công bằng trong phân phối.

Các giá trị của công bằng kinh tế được thể hiện ở các nguyên tắc của nó, đó là công bằng kinh tế: (1) Các bên cùng có lợi: Tôn trọng, bảo vệ các tiền đề dân chủ, bình đẳng, có lợi của chủ thể các hoạt động kinh tế, đồng thời yêu cầu các chủ thể này chia sẻ quyền lợi một cách công bằng, bình đẳng, tuân thủ các nghĩa vụ và trách nhiệm để đạt tới mục tiêu các bên đều có lợi; (2) Nguyên tắc trung thực: Trung thực phải trở thành một nguyên tắc đạo đức cơ bản của xã hội để điều tiết các hành vi kinh tế cho phù hợp với yêu cầu lợi ích của toàn xã hội; (3) Nguyên tắc bình đẳng: Bình đẳng trong chế độ kinh tế xã hội và các pháp luật liên quan, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, v.v. ; (4) Nguyên tắc trình tự: Trong điều kiện kinh tế thị trường, mọi hoạt động kinh tế đều phải tuân theo các quy tắc, trình tự nhất định. Điều này yêu cầu xây dựng một hệ thống pháp luật và các chính sách làm nền tảng cho sự vận hành có trình tự của hoạt động kinh tế, từ sản xuất, phân phối, trao đổi đến tiêu dùng, vừa để cho nền kinh tế có môi trường tự do phát triển, vừa để nhà nước có thể quản lý, điều tiết cho nền kinh tế vận hành tốt hơn; (5) Nguyên tắc sửa chữa: Phát hiện, sửa chữa, chỉnh đốn những hành vi kinh tế xâm phạm hay đi ngược lại những nguyên tắc công bằng, đưa hoạt động kinh tế quay lại với những giá trị công bằng. Ở đây, nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa nhà nước và thị trường. Xét từ góc độ đạo đức học, các nguyên tắc trên đáp ứng hai yêu cầu đạo đức của công bằng kinh tế: (1) Đảm bảo quyền sống của con người, đặc biệt là những quyền tự nhiên của con người; (2) Đảm bảo quyền tự do của con người, đặc biệt là nhân phẩm con người.

2. Công bằng kinh tế ở Việt Nam hiện nay

Ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung tạo ra cơ chế công bằng theo hướng bình quân, cào bằng, vừa không giúp kinh tế phát triển nhanh, vừa không giải quyết tốt công bằng xã hội do nghèo đói và thiếu hụt điều kiện vật chất. Qua hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước tiến nhảy vọt trong tăng trưởng kinh tế, cùng với đó là những cải thiện căn bản về tiến bộ và công bằng xã hội, đặc biệt là việc thực hiện tốt mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói giảm nghèo cùng với những thành quả đáng ghi nhận về y tế và giáo dục.

Công bằng xã hội là nền tảng và bản chất của một xã hội tốt đẹp, là giá trị nền tảng của mọi xã hội, đặc biệt là xã hội xã hội chủ nghĩa. Công bằng xã hội là một chỉnh thể hữu cơ gồm 4 thành phần chủ yếu: (1) Bảo đảm những quyền lợi cơ bản cho mọi cá nhân trong xã hội; (2) Bình đẳng về cơ hội; (3) Phân phối theo cống hiến, (4) Điều tiết xã hội (tái phân phối xã hội).

Như trên đã trình bày, nhiều học giả và các tổ chức quốc tế đề cập đến công bằng kinh tế với tư cách công bằng trong phân phối, hay nói cách khác là công bằng xã hội mang ý nghĩa đặc trưng là công bằng phân phối. Tuy nhiên, công bằng kinh tế không chỉ là công bằng trong phân phối, mà nó còn phải được nhìn nhận dưới góc độ bình đẳng về cơ hội, bình đẳng về nguyên tắc. Công bằng kinh tế phải được hiểu như một môi trường cho mọi người, mọi thành phần kinh tế được tham gia một cách bình đẳng vào các hoạt động kinh tế, từ việc bình đẳng trước pháp luật, công bằng trong việc tiếp cận chính sách, các nguồn vốn, tín dụng, đất đai,… Với cách hiểu này, trong điều kiện kinh tế thị trường, nhà nước ngoài việc đóng vai trò sửa chữa khuyết tật của thị trường bằng công cụ tái phân phối của cải, thì còn phải tạo ra môi trường công bằng kinh tế làm tiền đề quan trọng để thực hiện công bằng xã hội. Công bằng kinh tế là điều kiện tất yếu để kinh tế có thể phát triển nhanh và bền vững, là tiền đề để tăng của cải xã hội, tăng phúc lợi cho mọi người, nâng cao đời sống nhân dân. Ngược lại, nếu mọi người không có quyền công bằng và bình đẳng trong các hoạt động kinh tế thì nền kinh tế đó sẽ không hiệu quả, tăng trưởng chậm, gây lãng phí nguồn lực xã hội, nới rộng khoảng cách phát triển cũng như gây sức ép cho tiến bộ và công bằng xã hội.

Định hướng phát triển của Việt Nam là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, tựu trung về mặt kinh tế là phồn vinh, về mặt xã hội là công bằng và dân chủ. Nghĩa là, kinh tế phải tăng trưởng và mọi người đều được hưởng lợi từ sự tăng trưởng đó(*)[1]. Song, mọi người hưởng lợi từ sự tăng trưởng không chỉ là bị động, nhận lại sự tái phân phối từ nhà nước hay doanh nghiệp, mà phải là chủ động, tham gia ngay từ đầu, không chỉ trong quá trình gặt hái, mà còn phải cả trong quá trình gieo cấy, công bằng trong mọi khâu và hưởng thụ sự công bằng đó.

Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, nhiều vấn đề mới nảy sinh xung quanh việc giải quyết công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay. Hệ số Gini phần nào thể hiện phần nổi của tảng băng chìm. Hiện tượng bất công trong xã hội không chỉ có nguồn gốc từ di sản lịch sử, cấu trúc xã hội, năng lực cá nhân, giới tính, địa vị xã hội, ảnh hưởng chính trị hay cơ hội trong cuộc sống, mà còn xuất phát từ chính sự không công bằng trong kinh tế. Những lợi ích kinh tế mang tính chất quyết định đối với công bằng xã hội. Ngược lại, bất công bằng kinh tế là nguồn gốc của phân hóa và mâu thuẫn xã hội. Chính vì vậy, công bằng kinh tế là một yếu tố quan trọng tác động đến việc thực hiện công bằng xã hội. Nói cách khác, công bằng kinh tế không chỉ là một hợp phần của công bằng xã hội, mà còn là một tiền đề quan trọng để giải quyết công bằng xã hội.

Văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định, không hy sinh công bằng xã hội cho tăng trưởng kinh tế, mà đòi hỏi “thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội” [3, tr.103]. Chính vì vậy, khi đề cập đến việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước về kinh tế - xã hội và phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, Văn kiện đặt ra yêu cầu bức thiết: “Nhà nước thể chế hóa nghị quyết của Đảng, xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách, bảo đảm các loại thị trường ngày càng hoàn thiện và vận hành thông suốt, cạnh tranh công bằng, bình đẳng và kiểm soát độc quyền kinh doanh; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh” [3, tr.112]. Đồng thời, bảo đảm hài hòa hơn giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường.

Để thực hiện công bằng trong kinh tế, Đại hội XII của Đảng yêu cầu: “Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật. Khuyến khích đẩy mạnh quá trình khởi nghiệp kinh doanh. Có chính sách thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp Việt Nam cả về số lượng và chất lượng, thật sự trở thành lực lượng nòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bảo đảm quyền tự do kinh doanh các lĩnh vực mà luật pháp không cấm; xây dựng, thực thi đồng bộ, hiệu quả cơ chế hậu kiểm, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh, tăng cường tính minh bạch đối với độc quyền nhà nước và độc quyền doanh nghiệp, kiểm soát độc quyền kinh doanh” [3, tr.105].

Công bằng kinh tế là một vấn đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay. Nó là một tiền đề để kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển nhanh, lành mạnh và bền vững, ngược lại, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng tạo ra các điều kiện nhằm thực hiện công bằng kinh tế.

Trong hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên phương diện thực hiện công bằng kinh tế. Chính điều này góp phần tạo động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế nước ta có sự tăng trưởng khá cao và ổn định trong thời gian dài. Tuy nhiên, việc thực hiện công bằng kinh tế ở Việt Nam hiện nay còn một số vấn đề đặt ra cần được nhận thức và giải quyết. Đó là, thứ nhất, vẫn còn hiện tượng bất công bằng kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, như sản xuất tự phát, thiếu kế hoạch, quy hoạch dẫn đến những hậu quả to lớn: Phá hoại hoặc làm lãng phí tài nguyên, cung vượt cầu. Những hiện tượng tiêu cực, như nhóm lợi ích, sản xuất hàng giả, hàng nhái,… gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công bằng kinh tế. Thứ hai, bất công bằng kinh tế trong lĩnh vực phân phối thể hiện ở biên độ khoảng cách giàu nghèo có xu hướng dãn rộng chênh lệch về thu nhập giữa các vùng miền, địa phương, giữa các ngành nghề... Thứ ba, bất công bằng kinh tế trong lĩnh vực trao đổi. Trong trao đổi trên thị trường lao động, mặc dù trong một số năm gần đây, thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh hơn tốc độ tăng tương ứng của GDP bình quân đầu người theo giá so sánh trong cùng thời gian, song tỉ lệ tổng thu nhập của người lao động tính trên GDP còn thấp, ngoài ra còn các vấn đề về địa vị, quyền lợi của người lao động. Trong trao đổi hàng hóa, các hiện tượng chủ yếu là bất bình đẳng giữa các chủ thể của hoạt động kinh tế gây ra những tác hại nhất định cho nguyên tắc vận hành của kinh tế thị trường; bất bình đẳng và vấn đề an ninh quốc gia khi có ngày càng nhiều các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Thứ tư, bất công bằng kinh tế trong lĩnh vực tiêu dùng. Sự lãng phí trong chi tiêu của các cơ quan nhà nước sẽ xâm hại đến quyền lợi của nhân dân. Sự chênh lệch về tiêu dùng gây hại cho quyền lợi của nhóm người yếu thế,…

Giải quyết một cách hiệu quả vấn đề công bằng kinh tế là một trong những tiền đề quan trọng để thúc đẩy tiến bộ xã hội, công bằng xã hội. Công bằng kinh tế giúp mọi người chủ động tham gia các hoạt động kinh tế một cách bình đẳng, góp phần đảm bảo quyền sống của con người, đặc biệt là những quyền lợi tự nhiên của con người; đồng thời đảm bảo quyền tự do của con người, nhất là nhân phẩm con người.

Tài liệu tham khảo

[1] C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t.42. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

[2] Department Of Economic And Social Affairs (2006), Division For Social Policy And Development, The International Forum for Social Development “Social Justice in an Open World - The Role of the United Nations”, United Nations, New York.

[3] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.

[4] Edward J. O'Boyle (2004), Principles of Economic Justice: Marketplace and Workplace Applications, Forum for Social Economics, September 2004, vol.34.

[5] United States Catholic Bishops (1986), Economic Justice for All: Pastoral Letter on Catholic Social Teaching and the U.S. Economy, Washington, D.C.

[6]  William E. Murnion (1989), The Ideology of Social Justice in Economic Justice For All, Journal of Business Ethics, 8/1989.    


(*) Văn kiện Đại hội XII cũng thẳng thắn đánh giá: “Trên một số mặt, một số lĩnh vực, một bộ phận nhân dân chưa được thụ hưởng đầy đủ, công bằng thành quả của công cuộc đổi mới. Xem thêm: Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr.67-68.

Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Triết học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1