Tóm tắt: Đối với mỗi dân tộc cũng như với mỗi con người, một trong những giá trị hết sức tự nhiên và chính đáng, thiêng liêng mà họ cần và phải được hưởng đó là tự do. Bài viết này tập trung luận giải để khẳng định rằng, Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới, người chiến sĩ kiên cường đã luôn suy tư về giá trị tự do, coi đấu tranh vì quyền tự do là lẽ sống và mục đích cách mạng cao cả; đồng thời, làm rõ một số nội dung cơ bản, sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do được hình thành và phát triển trên cơ sở nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn hoạt động cách mạng của Người.
Từ khóa: Hồ Chí Minh,
tự do.
Trong tiến trình phát triển lịch sử xã hội loài
người, tự do vừa là bản chất tự nhiên, vừa là khát vọng hết sức chính đáng của
con người. Đấu tranh cho tự do không chỉ góp phần xóa bỏ triệt để sự áp bức,
bất công trong xã hội, mà còn hướng tới hiện thực hóa quyền tự nhiên của con
người, đồng thời đó cũng chính là thước đo lòng tự trọng của mỗi con người và
mỗi dân tộc. Mang trong mình khát vọng tự do mãnh liệt và lòng yêu thương con
người sâu sắc, Hồ Chí Minh đã trở thành người* chiến sĩ đấu
tranh không mệt mỏi cho quyền tự do của nhân dân và dân tộc Việt Nam, cũng như
của toàn nhân loại. Ngay từ thuở thiếu thời và trong hành trình đấu tranh không
khoan nhượng với cường quyền, bạo ngược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc nhằm
giải phóng con người và dân tộc, Hồ Chí Minh đã không ngừng suy tư về giá trị
tự do, coi tự do là lẽ sống, là mục đích cách mạng cao cả. Người không chỉ để
lại một hệ thống quan điểm sâu sắc về tự do - một giá trị vĩnh hằng của toàn
nhân loại, mà quan trong trọng hơn - còn biến tư tưởng đó thành sức mạnh vô
địch của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì quyền làm người chân chính,
đưa Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập, tự do, có chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ, đưa nhân dân Việt Nam lên vị thế người chủ thực sự.
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, phương
Tây là nơi khởi phát tư tưởng tự do. J.Rútxô - người đấu tranh quyết liệt cho
tự do đã khẳng định trong Khế ước xã hội rằng, tự do là bản chất con
người và do vậy, từ bỏ tự do là từ bỏ phẩm chất con người, từ bỏ quyền làm
người và cả nghĩa vụ làm người. Tư tưởng tiến bộ của các nhà cách mạng Thế
kỷ Ánh sáng về “Tự do, bình đẳng, bác ái” đã trở thành ngọn cờ của cách
mạng tư sản. Tuy nhiên, trên thực tế đã xảy ra những điều hết sức trái ngược:
Nơi ra đời của tư tưởng tự do lại cũng là nơi khởi phát chủ nghĩa thực dân -
thế lực đã tước đi quyền độc lập, tự do và chà đạp lên quyền con người của bao
dân tộc khác, trong đó có Việt Nam. Chứng kiến những tội ác man rợ, phi nhân
tính mà chủ nghĩa thực dân Pháp đã gây ra cho nhân dân Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc
hết sức căm phẫn và Người đã đưa ra bản án chế độ thực dân Pháp, vạch trần bộ
mặt thật của chủ nghĩa thực dân ở các nước thuộc địa. Sau này, Hồ Chí Minh đã
từng kể lại: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi nghe được ba chữ Pháp:
Tự do, Bình đẳng, Bác ái (…). Và từ thưở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn
minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy” [6, tr.461]. Là một
người thanh niên trẻ nhưng với sự nhạy cảm chính trị đặc biệt, Hồ Chí Minh
không muốn tiếp cận những biểu hiện bề ngoài của nền văn minh Pháp mà muốn tìm
hiểu thực chất tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái và bản chất của chủ
nghĩa tư bản. Với chủ đích đó, Người quyết định ra nước ngoài, tới các nước
phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc và giành lại tự do cho đồng bào
của mình.
Thực dân Pháp chính là kẻ đã tước đoạt quyền tự
do của nhân dân Việt Nam, nên muốn giành lại tự do, nhân dân Việt Nam phải
chống lại thế lực đó. Muốn chiến thắng kẻ thù thì phải hiểu sâu sắc về nó. Đó
là một chân lý đã được lịch sử phát triển xã hội của loài người kiểm chứng. Vì
vậy, sau một hành trình dài đến nhiều nước và châu lục khác nhau, cuối năm
1917, Hồ Chí Minh đã trở về Pháp. Luôn theo đuổi lý tưởng tự do, nên năm 1919,
Hồ Chí Minh gia nhập Đảng Xã hội Pháp vì nhận thấy “đây là tổ chức duy
nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý
của Đại cách mạng Pháp: Tự do - Bình đẳng - Bác ái” [5, tr.47]. Cũng
trong năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã ký vào bản Yêu sách của nhân dân An Nam
gửi Hội nghị Vécxay để đòi những quyền tự do, dân chủ trong khuôn khổ dân chủ
tư sản cho nhân dân Việt Nam. Mặc dù bản Yêu sách đó không được Hội nghị
đáp ứng, nhưng nó đã gây một tiếng vang rất lớn trên trường quốc tế, bởi đây là
lần đầu tiên một bản yêu sách đòi các quyền tự do của người Việt Nam được công
bố ở một Hội nghị quốc tế và được đăng tải trên một số tờ báo lớn. Cũng từ sự
kiện này, Hồ Chí Minh hiểu rõ rằng, các dân tộc muốn giành được tự do “chỉ có
thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình” [15, tr.43].
Đó phải là công cuộc tự giải phóng của những con người nô lệ, chứ tuyệt
nhiên không thể trông chờ vào sự “rộng lượng” hay sự “tỉnh ngộ” của những kẻ
cướp nước.
Cũng theo Hồ Chí Minh, tự do không đơn thuần là
việc đảm bảo các quyền tự do cá nhân ở các nước tư bản như quan niệm của giai
cấp tư sản; thế giới chỉ có tự do thực sự khi không còn áp bức giai cấp và áp
bức dân tộc. Với quan niệm như vậy, Hồ Chí Minh coi việc bảo vệ quyền tự do
của các dân tộc nhỏ là tiêu chí quan trọng để đánh giá một tổ chức chính
trị có thực chất là cách mạng hay không. Do đó, vào ngày 30-12-1920, khi được
hỏi vì sao lại bỏ phiếu cho Quốc tế III cho dù chưa hiểu rõ về tổ chức này, Hồ
Chí Minh giải thích: “Đệ tam quốc tế nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành
lại tự do và độc lập của họ… Vì thế, tôi đã bỏ phiếu tán thành Đệ tam quốc tế. Tự
do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi
muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu” [15, tr.65]. Với luận điểm đó, Hồ Chí
Minh đã cho thấy tự do chính là khát vọng lớn nhất, là mục tiêu đấu tranh cao
nhất của mình. Tuyên bố đó sau này được Người nhiều lần tái khẳng định.
Thấu hiểu thân phận nô lệ và khát vọng tự do của
nhân dân Đông Dương dưới sự cai trị của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh kịch liệt
phê phán luận điệu mị dân cho rằng “Đông Dương không muốn cách mạng và bằng
lòng với chế độ bây giờ” [6, tr.39]. Người khẳng định sự tàn bạo của chủ nghĩa
thực dân chính là mảnh đất nuôi dưỡng khát vọng tự do, ý chí giải phóng của
nhân dân Đông Dương, bởi càng mất tự do thì con người lại càng khao khát tự do:
“Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục,
đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm, khi thời cơ đến” [6, tr.40].
Nhiệm vụ của người cách mạng, của đảng cách mạng là phải tập hợp những con
người ấy vào một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc theo quỹ đạo của cách mạng
vô sản để giành lại độc lập, tự do.
Hồ Chí Minh khao khát tự do không chỉ bởi Người
thấu hiểu thân phận của một người dân mất nước, luôn dành cho đồng bào tình
thương và sự cảm thông sâu sắc, mà còn bằng sự trải nghiệm của một người từng
bị tước hết mọi quyền tự do tối thiểu khi bị giam cầm trong nhà tù của Tưởng
Giới Thạch (8/1942 - 9/1943): “Trên đời ngàn vạn điều cay đắng. Cay đắng chi
bằng mất tự do”. Với bản lĩnh của một người “Thân thể ở trong lao/ Tinh thần ở
ngoài lao”, Hồ Chí Minh đã khơi dậy tinh thần lạc quan cách mạng, cất lên tiếng
hát tự do bằng thi phẩm Nhật ký trong tù. Nỗi khao khát tự do của Hồ Chí
Minh những năm tháng trong nhà tù Tưởng Giới Thạch không chỉ là tâm lý muốn
được giải phóng của một người tù thông thường, mà còn thể hiện nỗi lo âu, trách
nhiệm của một người đứng đầu phong trào giải phóng dân tộc khi phong trào đang
ở thời điểm đầy những khó khăn, thử thách. Ở Nhật ký trong tù, Hồ Chí
Minh đã 13 lần nhắc đến cụm từ “tự do”. Có thể nói, chính những trải nghiệm
thực tế và những gian truân trên con đường cách mạng càng làm Hồ Chí Minh thấu
hiểu sâu sắc giá trị của tự do, đồng thời là động lực thúc đẩy Người trong cuộc
đấu tranh vì mục tiêu mang lại độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân.
Luôn đề cao lý tưởng tự do, nên vào năm
1946, trong một buổi tiếp kiến ngoại giao ở Pari, Hồ Chí Minh đã tuyên bố:
“Chính ở Pari này, cái thành phố anh hùng và rộng lượng xướng xuất ra những
nguyên tắc tự do, bình đẳng, bác ái, cái thành phố có thói quen bênh vực sự
bình đẳng của các dân tộc, chính ở thành phố này tôi trân trọng tuyên bố nước
Việt Nam gia nhập vào cái sự nghiệp rất nhân đạo ấy” [8, tr.304]. Khẳng định tự
do là khát vọng chung của các dân tộc, Hồ Chí Minh còn nói: “Việt và Pháp là
hai dân tộc tự do, bình đẳng, đều có lý tưởng dân chủ, đều ham muốn tự do”
[8, tr.401]; vì thế, Pháp hãy tôn trọng quyền tự do của dân tộc Việt Nam, cùng
Việt Nam xây đắp tình hữu nghị trên tinh thần bình đẳng. Tuy nhiên, không từ bỏ
dã tâm quyết cướp đi quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, một lần nữa,
chính phủ Pháp đã phản bội lại lý tưởng tự do của cách mạng Pháp. Hồ Chí Minh -
con người coi tự do là lẽ sống của mình, tìm lại tự do cho dân tộc là trọng
trách của mình buộc phải tiến hành cuộc chiến tranh vệ quốc với tinh thần “Hễ
còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải chiến đấu, quét sạch nó
đi”. Có thể khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do đã phản ánh, biểu
đạt cho khát vọng tự do và cuộc đấu tranh quyết liệt để giành quyền tự do của
toàn thể nhân dân Việt Nam. Tư tưởng đó của Người hàm chứa những nội dung hết
sức sâu sắc.
Thứ nhất, Hồ Chí Minh
khẳng định tự do là quyền cao quý nhất của con người và không
ai có quyền tước đoạt quyền thiêng liêng đó.
Hồ Chí Minh là một lãnh tụ cách mạng vĩ đại,
đồng thời là một danh nhân văn hóa. Những vần thơ nổi tiếng - “Trên đời nghìn
vạn điều cay đắng. Cay đắng chi bằng mất tự do” không chỉ thể hiện một
cảm hứng thi ca, mà trước hết và trên hết là một tư tưởng đã được nung nấu và
trở thành giá trị cốt lõi của Người. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, tự do là
quyền chân chính, tối thượng của mỗi cá nhân con người, nếu mất nó thì con
người sẽ không được sống một cuộc sống đúng nghĩa của con người. Ở tầng bậc cao
hơn - đối với các dân tộc thì sự mất tự do là khởi nguồn sâu xa của mọi bi
kịch: Đất nước mất tên trên bản đồ thế giới, không còn quyền dân tộc tự quyết,
không có cơ hội để phát triển… Kết quả là con người bị hạ nhục, áp bức về tinh
thần, trở thành nô lệ và phải sống một cuộc sống không phải của con người. Áp
bức dân tộc là một vết nhơ trong lịch sử nhân loại, vì vậy đấu tranh chống lại
nó để giành lấy tự do là lẽ tất yếu của những con người chân chính và của những
dân tộc có phẩm giá. Có thể nói, với bất kể ai và bất kể dân tộc nào, tự do
cũng đều là xuất phát điểm để đi tới phồn vinh, hạnh phúc. Nói cách khác, đã là
con người thì nhất thiết phải có quyền tự do, đồng thời cũng phải
biết tôn trọng quyền tự do của người khác. Trong Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí
Minh đã trịnh trọng tuyên bố trước toàn thể nhân dân và thế giới rằng, “Nước
Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã trở thành một nước tự
do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng,
tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” [8, tr.3]. Khi thực
dân Pháp quyết cướp nước ta một lần nữa, Hồ Chí Minh đã thay mặt toàn thể dân
tộc Việt Nam tuyên bố: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ”;
khi đế quốc Mỹ mưu toan đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá, Người đã đúc kết lên
một chân lý lớn nhất của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự
do” và khẳng định rằng, dù có phải đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải bảo vệ
cho được độc lập, tự do. Chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc là một hiện
tượng quốc tế nên một người yêu nước đấu tranh cho quyền tự do của dân tộc mình
đương nhiên phải trở thành người chiến sỹ đấu tranh cho tự do của cả nhân loại.
Hồ Chí Minh chính là hiện thân, đại diện tiêu biểu của mẫu người cao quý đó.
Thứ hai, Hồ Chí
Minh khẳng định quyền tự do của mỗi con người phải gắn với quyền tự do của
cả dân tộc.
Đây là sự khác biệt trong quan niệm về tự do của
Hồ Chí Minh so với quan niệm về tự do của giai cấp tư sản. Trong Tuyên ngôn
Độc lập, sau khi trích những câu nói nổi tiếng về quyền con người trong Tuyên
ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của
nước Pháp, Người đưa ra kết luận: “Suy rộng ra, câu nói ấy có nghĩa là: Tất cả
các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền
sống, quyền sung sướng và quyền tự do” [8, tr.1]. Sự “suy rộng ra” của
Hồ Chí Minh hoàn toàn hợp lôgíc, bởi giữa quyền con người và quyền
dân tộc có mối quan hệ không thể tách rời. Rõ ràng, nếu mỗi con người trong
một cộng đồng dân tộc đều có quyền tự do thì lẽ nào dân tộc ấy lại không có
quyền độc lập, tự do? Vì thế, nếu quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh
phúc và quyền bình đẳng của con người là hiển nhiên thì quyền sống,
quyền sung sướng, quyền tự do và quyền bình đẳng của từng dân tộc cũng
là hiển nhiên. Như vậy, Hồ Chí Minh đã nâng quyền con người vốn được
phương Tây thừa nhận thành quyền dân tộc và yêu cầu: Cái quyền hiển
nhiên đó của dân tộc Việt Nam phải được các nước đồng minh thừa nhận và tôn
trọng.
Cho rằng trong quyền dân tộc đã bao hàm quyền
của mỗi con người, lợi ích cá nhân, lợi ích giai cấp phải phục tùng lợi ích của
toàn dân tộc, Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân
tộc và giai cấp, phản đế và phản phong của cách mạng Việt Nam. Hội nghị Trung
ương 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương dưới sự chủ tọa của Hồ Chí Minh đã khẳng
định chống đế quốc là nhiệm vụ hàng đầu, bởi “trong lúc này, nếu không giải
quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn dân
tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà
quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” [3,
tr.114]. Đặt quyền tự do của cả dân tộc lên trên quyền tự do của mỗi cá nhân
là sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh và quan điểm đó đã khơi dậy sức mạnh quật khởi
của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập, tự do.
Thứ ba, Hồ Chí Minh khẳng định tự
do là kết quả của cuộc đấu tranh bền bỉ theo tinh thần “tự lực cánh sinh”.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh
đã thử nghiệm các phương pháp đấu tranh khác nhau để giành lại tự do cho nhân
dân. Với bản Yêu sách gửi Hội nghị Vécxay năm 1919, Người đã sử
dụng quyền hạn trong phạm vi dân chủ tư sản để đòi những quyền dân chủ tối
thiểu cho nhân dân Việt Nam. Sự kiện này đã giúp Hồ Chí Minh hiểu rằng, kẻ thù
không bao giờ tự nguyện rời bỏ lợi ích của nó và trao trả tự do cho các dân tộc
khác; muốn có tự do thì mỗi con người, mỗi dân tộc phải can đảm đứng lên bẻ gãy
gông xiềng nô lệ, phải “đem sức ta mà giải phóng cho ta” và sử dụng bạo lực
cách mạng là một quy luật tất yếu trong đấu tranh cách mạng.
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, khi nói
về mối quan hệ giữa cách mạng chính quốc và cách mạng thuộc địa, Hồ Chí Minh đã
đưa ra luận điểm hết sức sáng tạo: Cách mạng ở thuộc địa có thể thành công
trước cách mạng ở chính quốc, nhưng “công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể
thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em” [7, tr.138]. Tự lực cánh
sinh là điều kiện tiên quyết để có tự do, vì mọi sự phụ thuộc hay dựa dẫm đều
có thể dẫn đến sự lệ thuộc. Thấm nhuần quan điểm tự lực cánh sinh, nên khi
chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền, Đảng ta dưới sự chỉ đường của Hồ Chí
Minh đã xác định: “Đừng có ảo tưởng rằng: quân Tàu và quân Anh, Mỹ sẽ mang lại
tự do cho ta. Không, trong cuộc chiến đấu giải phóng cho ta, cố nhiên là phải
kiếm bạn đồng minh dầu rằng tạm thời bấp bênh có điều kiện, nhưng công việc
của ta trước hết ta phải làm lấy” [3, tr.244]. Thực hiện chủ trương đó,
trong thời cơ ngàn năm có một vào tháng 8 - 1945, Hồ Chí Minh đã kêu gọi “toàn quốc
đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Khi buộc phải
kháng chiến chống Pháp, với quan điểm “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ
ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập” [10, tr.445],
Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đề ra phương châm kháng chiến là “toàn dân, toàn
diện, trường kỳ và tự lực cách sinh”. Từ năm 1950, Nhà nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa đã được Trung Quốc và Liên Xô công nhận và đặt quan hệ ngoại giao,
cách mạng Việt Nam bắt đầu nhận được sự viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa;
song, Hồ Chí Minh vẫn xác định: “Các nước bạn ta, trước hết là Liên Xô và Trung
Quốc ra sức giúp đỡ ta một cách vô tư, khảng khái, để chúng ta có thêm điều
kiện tự lực cánh sinh” [12, tr.103].
Có thể khẳng định: Tự do là khát vọng vĩnh
hằng, nhưng không có nền độc lập, tự do vĩnh hằng nếu mỗi dân tộc, mỗi con
người không đem hết sức mình để bảo vệ nó, nếu còn bị phụ thuộc vào ai đó. Hồ
Chí Minh căn dặn nhân dân: “Mỗi một người dân phải hiểu: Có tự lập mới độc lập,
có tự cường mới tự do” [9, tr.553]. Chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”
là một mệnh đề hành động, nó đòi hỏi mỗi người phải nỗ lực góp phần vào việc
bảo vệ, gìn giữ quyền độc lập, tự do thiêng liêng của Tổ quốc.
Thứ tư, Hồ Chí Minh đặt tự do vào
hệ giá trị cốt lõi là độc lập, tự do, hạnh phúc.
Tiếp thu những giá trị trong chủ nghĩa tam dân
của Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh coi tự do là một giá trị nằm trong chuỗi giá trị
thiêng liêng. Theo Người, độc lập chính là điều kiện tiên quyết để có
được tự do; đến lượt mình, độc lập và tự do lại là tiền đề căn bản để
vươn tới hạnh phúc. Có thể nói, với Hồ Chí Minh, tự do và hạnh phúc của
nhân dân chính là thước đo của một nền độc lập thực sự. Bởi độc lập, tự do và
hạnh phúc luôn gắn kết với nhau, nên trong Chương trình
Việt Minh do Hồ Chí Minh chỉ đạo soạn thảo và được thông qua vào tháng 10-1941 đã
khẳng định: Mặt trận Việt Minh “cốt thực hiện hai điều mà toàn thể đồng bào
đang mong ước: 1. Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. 2. Làm cho
nhân dân Việt Nam được sung sướng tự do” [3, tr.470]. Đây chính là điểm khác
biệt trong quan niệm về độc lập của Hồ Chí Minh so với các bậc cách mạng tiền
bối trước đó của dân tộc ta. Người nói rõ: “Nếu nước được độc lập mà nhân dân
không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa ý gì” [8,
tr.64]. Người cho rằng, “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải
phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách
nô lệ” [13, tr.563]; rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đảm bảo cho sự thực thi
các giá trị Độc lập, Tự do và Hạnh phúc. Vì thế, độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội là tư tưởng cốt lõi của Hồ Chí Minh, giành độc
lập dân tộc để đi lên chủ nghĩa xã hội là định hướng chính trị dứt khoát của Hồ
Chí Minh.
Thứ năm, Hồ Chí Minh
khẳng định trong một nhà nước dân chủ, quyền tự do của con người phải được
khẳng định và bảo đảm bằng Hiến pháp, pháp luật.
Theo Hồ Chí Minh, tự do phải được thực thi trên
thực tế, chứ không phải là thứ “bánh vẽ” như chủ nghĩa thực dân và đế quốc dùng
để mị dân, lừa dân. Trước đây, trong cuộc đấu tranh cách mạng, tự do là khẩu
hiệu, ngọn cờ tập hợp và động viên lực lượng cách mạng; khi cách mạng thắng lợi
và chính quyền thuộc về nhân dân thì quyền tự do của nhân dân phải được thực
thi và đảm bảo bằng luật pháp. Do đó, bản Hiến pháp năm 1946 và năm 1959 do Hồ
Chí Minh làm trưởng ban soạn thảo đều khẳng định công dân Việt Nam có đầy đủ
các quyền tự do cơ bản, trong đó có quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận và
tự do tín ngưỡng.
Về mặt lý thuyết, con người tự do trước hết là
con người được tự do trong nhận thức và sau đó là được tự do trong hành động. Tự
do trong nhận thức, trong tư tưởng là khát vọng của mọi con người, bởi đó
là cội nguồn của sự sáng tạo. Chế độ dân chủ mà Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương
xây dựng sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công chính là một chế độ trong đó
nhân dân được đặt vào vị thế người làm chủ, tự do sáng tạo để xây dựng cuộc
sống mới. Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người dân phải biết sử dụng cái quyền tự do
hết sức thiêng liêng đó. Người từng khẳng định: “Chế độ ta là chế độ dân chủ,
tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do
bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là
một nghĩa vụ của mọi người” [12, tr.378]. Ở đây, tự do rất gần với dân chủ và
thực hành dân chủ là điều kiện để đảm bảo cho nhân dân có quyền tự do trên thực
tế.
Theo Hồ Chí Minh, một chế độ xã hội tiến bộ nhất
thiết phải đảm bảo cho con người quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.
Lên án gay gắt chế độ thuộc địa của thực dân Pháp đã tước bỏ những quyền quan
trọng này của nhân dân Việt Nam, Người đã viết: “Giữa thế kỷ XX này, ở một nước
có đến 20 triệu dân mà không có lấy một tờ báo! Các bạn có thể tưởng tượng được
như thế không? Không có lấy một tờ báo bằng tiếng mẹ đẻ của chúng tôi”
[6, tr.428]. Với quan điểm coi báo chí là diễn đàn để nhân dân thể hiện ý chí
và nguyện vọng của mình, là thước đo tinh thần dân chủ của một xã hội mới, sau
Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã ký nhiều sắc lệnh nhằm đảm bảo quyền tự do
ngôn luận của nhân dân trên báo chí. Nhờ đó, báo chí đã trở thành một “kênh”
thông tin hữu ích để Đảng và Nhà nước điều chỉnh, bổ sung đường lối, chính sách
cho phù hợp với thực tiễn.
Trong các quyền tự do cá nhân, Hồ Chí Minh đặc
biệt chú trọng đến quyền tự do tín ngưỡng của công dân Việt Nam. Luôn
cho rằng niềm tin tôn giáo là quyền của mỗi con người và niềm tin ấy cần được
tôn trọng, ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời
ngày 3-9-1945, Hồ Chí Minh đã đề nghị: “Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO
và lương giáo đoàn kết” [8, tr.8]. Phát biểu tại buổi lễ mừng Liên
hiệp quốc gia ngày 5-1-1946, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tín đồ Phật giáo tin ở
Phật, tín đồ Giatô tin ở Đức Chúa trời; cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó
là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng” [8, tr.169]. Dưới sự chỉ đạo của Hồ
Chí Minh, Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 đều khẳng
định: Nhân dân có quyền “tự do tín ngưỡng”, có quyền theo hoặc không theo một
tôn giáo nào. Hồ Chí Minh kiên quyết chống lại mọi hành vi vi phạm quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân nên trong Tám điều lệnh của chính phủ
Dân chủ Cộng hòa Việt Nam có điều lệnh số 4 là “Chính quyền, quân đội và đoàn
thể phải tôn trọng tín ngưỡng, phong tục, tập quán của đồng bào” [10, tr.488].
Người căn dặn cán bộ trong mọi trường hợp “không nên xúc phạm đến tín ngưỡng
phong tục của dân” [9, tr.501]. Luôn trân trọng những giá trị tốt đẹp ẩn chứa
trong giáo lý tôn giáo, luôn coi trọng những người sáng lập tôn giáo, luôn đảm
bảo cho nhân dân quyền tự do tín ngưỡng là điểm vượt trội trong tư
duy chính trị của Hồ Chí Minh so với nhiều nhà mácxít đương thời.
Kế thừa truyền thống chống giặc ngoại xâm bất
khuất của dân tộc, tiếp thu tư tưởng tự do của nhân loại tiến bộ, phát huy tinh
thần cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng tự do Hồ Chí Minh
đã chung đúc một giá trị vĩnh hằng của nhân loại và bản thân Người đã trở thành
biểu tượng cao cả của khát vọng tự do.
Đúng như các học giả quốc tế đã nhận xét: Hồ Chí
Minh là một con người mà “không có Người, lịch sử đã có thể đi theo một con
đường khác” [1, tr.152]. Kết tinh khát vọng tự do của cả dân tộc, biểu đạt giá
trị căn cốt của cả loài người, tư tưởng tự do Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục soi rọi
cho dân tộc Việt Nam trên hành trình xây dựng một nước Việt Nam “hòa bình,
thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” [14, tr.614] như di nguyện cuối cùng
của Người - người chiến sỹ đã trọn đời đấu tranh cho tự do.
Tài liệu tham khảo
[1]
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc - nhà
văn hóa lớn (1990), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[2]
Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội.
[3]
Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Văn kiện Đảng toàn tập,
t.7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[4]
Phạm Minh Hạc (2001), Về phát triển con người toàn diện
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
[5]
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh và
các lãnh tụ của Đảng (2016), Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, t.1, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[6]
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập (Bộ gồm 15 tập), t.1,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[7]
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
[8]
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
[9]
Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
[10] Hồ
Chí Minh (2011), Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[11] Hồ
Chí Minh (2011), Toàn tập, t.9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[12] Hồ
Chí Minh (2011), Toàn tập, t.10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[13] Hồ
Chí Minh (2011), Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[14] Hồ
Chí Minh (2011), Toàn tập, t.15, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[15]
Trần Dân Tiên (2015), Những mẩu chuyện về hoạt động của
Hồ Chủ tịch, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
* Bài viết là kết quả nghiên cứu
được rút ra từ đề tài cấp Bộ: “Quan niệm của các nhà kinh điển mácxít về tự do
và sự vận dụng quan điểm đó ở Việt Nam hiện nay” do TS. Vũ Kiều Phương làm chủ
nhiệm.