Khảo cổ học tiền sơ sử Ninh Bình được biết đến từ năm 1924 với cuộc khai quật của M. Colani, người đầu tiên phát hiện và khai quật di chỉ công xưởng chế tác vòng tay ở hang Chợ Gành. Nhưng chỉ đến những năm cuối cùng thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI mới thật sự được các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước chú ý. Sau khi di tích nổi tiếng Mán Bạc được phát hiện, thám sát, khai quật với kết quả hết sức rực rỡ đã khiến cho các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước không chỉ quan tâm, chú ý hơn mà còn đến Ninh Bình, nhất là đến Mán Bạc trực tiếp tham gia khai quật và nghiên cứu.
Ngoài hiện vật khảo cổ thu được ở di tích Mán Bạc thì
nhân chủng học cũng là một thành tựu rất lớn. Cho đến thời điểm hiện nay di
tích Mán Bạc đã phát hiện được 105 ngôi mộ với 107 cá thể, phần nào giúp chúng
ta có một sự hiểu biết nhất định về chủ nhân của di tích Mán Bạc, cũng như
những vấn đề liên quan như giới tính, tuổi, bệnh lý và nguồn dinh
dưỡng...
Nếu chúng ta coi văn hóa Phùng Nguyên là sự mở đầu văn
minh sông Hồng thì có thể xem di tích Mán Bạc cũng là những nhân tố tham gia
góp phần tạo nên diện mạo nền văn minh đó. Thông qua những đặc trưng và hội tụ
của các yếu tố văn hóa ở Mán Bạc, càng minh chứng cho sự lan tỏa của văn hóa
Phùng Nguyên ra phía biển. Nếu như văn hóa Phùng Nguyên lan ra phía biển, cư
dân vùng duyên hải Đông Bắc trên đường Nam tiến, các bộ lạc Cồn Chân Tiên, Hoa
Lộc cũng dịch chuyển vào sâu nội địa. Có thể bấy giờ đã bắt đầu có sự cư trú
xen kẽ giữa một số bộ lạc có văn hoá khác nhau.
Do có sự tiếp xúc, trao đổi và giao thoa văn hoá giữa
các cộng đồng cư dân sống ở các vùng miền khác nhau ngày càng mở rộng và phát
triển. Mà sự hội tụ các sản phẩm văn hóa hay các dấu ấn văn hóa từ vùng đồng
bằng Thanh Hóa, vùng châu thổ sông Hồng và vùng Đông Bắc Việt Nam ở di tích Mán
Bạc là một bằng chứng rất rõ ràng và sinh động.
Vị trí các hố khai quật tại di tích Mán Bạc
Di
tích Mán Bạc nằm ở toạ độ 20008’085’’ vĩ
Bắc, 105059’025’’ kinh Đông, thuộc thôn
Bạch Liên, xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình nay là xã Đồng Thái, tỉnh
Ninh Bình. Di tích Mán Bạc nằm trong hệ thống đứt gãy của dãy núi đá vôi Tam
Điệp chạy ra tới biển. Phía nam dãy núi Mán Bạc là khu đất thấp có tên gọi gò
Giải Phướn trải dài cho đến núi Lò Sảng, qua núi Lò Sảng đến dãy núi Lè Lè, bên
kia dãy núi Lè Lè là cánh đồng Ba Tra, cánh đồng ông Lê, ở gần đó có hai quả
núi đá vôi thấp có tên gọi Đồi Lẻ và Đồi Trăn.
Thôn
Bạch Liên nằm về phía đông nam của dãy núi Mán Bạc, nếu nhìn từ ngoài vào thì
di tích này nằm trong một vùng kín.
Tháng 3 năm 1998, cán
bộ Viện Khảo cổ học và cán bộ Bảo tàng tỉnh Ninh Bình đến làng Bạch Liên (Bạch
Bát) với mục đích tìm hiểu những dấu tích khảo cổ liên quan đến nguồn gốc của
làng gốm Bát Tràng. Trong quá trình điều tra, đã phát hiện được di tích Mán
Bạc.
1. Di tích Mán Bạc là một di
chỉ cư trú - mộ táng, được phát triển từ sự hợp nguồn của di tích Cồn Chân
Tiên, văn hóa Hoa Lộc và văn hóa Phùng Nguyên (Gò Bông, Xóm Rền). Trong
đó yếu tố Cồn Chân Tiên đậm nhất, yếu tố Hoa Lộc và Phùng Nguyên nhạt hơn. Đến giai
đoạn muộn, còn có sự tham gia của cư dân vùng duyên hải Đông Bắc (Tràng
Kênh, Đầu Rằm (lớp văn hóa sớm). Đó chính là lý do vì sao ở di tích Mán Bạc
có nhiều yếu tố văn hóa của các nền văn hóa ở các vùng, miền khác nhau hội tụ ở
đây.
Mán
Bạc đối với nhóm di tích hang Gióng Lở (Hà Nam), Núi Lê, Núi Hổ (Nam Định), Mả
Đống, núi Phượng Hoàng (Hà Nội) có thể có mối liên hệ tộc thuộc qua mối quan hệ
với văn hóa Hoa Lộc, nhóm di tích Cồn Chân Tiên cũng như mối quan hệ chặt chẽ
với cư dân văn hóa Phùng Nguyên.
Niên
đại di tích Mán Bạc có thể khoảng trên, dưới 4.000BP (muộn hơn niên đại Cồn
Chân Tiên, Hoa Lộc, Gò Mả Đống, Gò Bông và Xóm Rền một chút) và kết thúc
vào khoảng thời gian trên, dưới 3.500BP (cùng bình tuyến với Tràng Kênh, Đầu
Rằm (lớp văn hóa sớm) và là một di chỉ thuộc giai đoạn cuối hậu kỳ đá mới -
sơ kỳ đồng thau.
2. Địa tầng di tích Mán Bạc gồm 3
tầng văn hóa đại diện cho 2 giai đoạn phát triển:
-
Giai đoạn văn hóa I (tầng văn hóa I): Độ sâu trung bình từ 15cm đến
80cm, đất trong tầng văn hoá màu nâu đen, màu đen có sắc đỏ pha cát mịn và màu
đen lẫn cát mịn, thành phần đất chiếm số lượng lớn. Đất trong tầng văn hoá cứng
trong ken dày mảnh gốm, than tro, xương động vật, di vật đá, hố chân cột và di
tích mộ táng.
-
Giai đoạn văn hóa II (tầng văn hóa II và tầng văn hóa III): Độ sâu trung
bình từ 80cm đến 181cm. Đất trong tầng văn hóa II màu nâu, màu nâu tối, tơi
xốp, ở một phần phía bắc (năm 2004 - 2005) đất trong tầng văn hóa có chứa đất
pha cát màu xám sáng và màu nâu sẫm, phần còn lại là đất màu đen nhạt, đất
trong tầng văn hoá lẫn nhiều vụn vỏ nhuyễn thể và vỏ nhuyễn thể to phân bố
không đều trong tầng văn hóa. Đến tầng văn hóa III (hố HI năm 1999) tầng văn
hóa phân bố đều khắp trên toàn bộ diện tích hố khai quật. Trong các hố khai
quật HII (năm 1999), năm 2001, năm 2004 - 2005 và hố H1 năm 2007 gần một phần
hai diện tích của hố khai quật về phía nam là đất pha cát hạt mịn màu nâu đỏ,
màu nâu sẫm hơi vàng, màu vàng hơi nâu. Phần còn lại về phía bắc là vỏ nhuyễn
thể vỡ vụn màu nâu đỏ sẫm, màu đen và màu nâu hơi vàng cứng, trong lẫn rất
nhiều cát hạt thô màu nâu và sạn sỏi. Tuy có sự khác nhau về cấu trúc địa tầng,
nhưng ở cả hai phạm vi này đều có tính chất chung là tập trung nhiều xương động
vật, di vật đá, gốm và di tích mộ táng.
3. Các loại hình di tích khảo cổ ở di
tích Mán Bạc rất phong phú và đa dạng:
-
Ở di tích Mán Bạc phát hiện được di tích nền đất và hệ thống hố chân cột ở cả
hai giai đoạn sớm, muộn đã bước đầu góp thêm tư liệu để phác thảo về diện mạo
cư trú và ngôi nhà của người Mán Bạc. Di tích nền đất ngoài ý nghĩa là nền nhà
thì liệu còn có ý nghĩa khác như nền của những khu vực đun nấu (bếp) hay khu
vực nung gốm?.
-
Qua kết quả phân tích xương răng động vật với các thành phần giám định được cho
thấy về cơ bản quần động vật của di tích Mán Bạc là các đại diện nóng ẩm vùng
nhiệt đới, ven biển. Di tích Mán Bạc thu được một số lượng lớn vỏ nhuyễn thể
với nhiều loài, chúng có sự thay đổi về số lượng ở mỗi giai đoạn văn hoá. Sự
thay đổi này phù hợp với điều kiện tự nhiên trong vùng, đó là giai đoạn sớm
người Mán Bạc khai thác nguồn sản phẩm biển sâu, biển nông, biển nội địa và
sông, đầm hồ nước ngọt. Đến giai đoạn muộn người Mán Bạc khai thác sản phẩm ở
vùng sông, đầm, hồ ven biển.
-
Kết quả phân tích bào tử phấn hoa cho thấy số lượng bào tử nhiều hơn số lượng
hạt phấn. Thành phần loài thực vật xuất hiện trong tầng văn hoá I nhiều hơn so
với thành phần loài thực vật ở tầng văn hoá III. Số lượng hạt phấn Poaceae tìm
được ở lớp I (10 hạt) nhiều hơn ở tầng văn hoá III (1 hạt). Như vậy, có thể nói
rằng thảm thực vật ở tầng văn hoá I phong phú hơn so với thảm thực vật ở tầng
văn hoá III. Số lượng hạt phấn Poaceae (họ Hoà thảo) cũng tìm
thấy nhiều hơn, phải chăng cư dân Mán Bạc đã trồng trọt cây lương thực?.
-
Qua tài liệu mộ táng, chúng ta bước đầu có thể nhận thức được xã hội Mán Bạc
thời cổ có tổ chức khá chặt chẽ. Bằng chứng là các di tích mộ được chôn có tổ
chức, cùng với sự chăm sóc cận thận mộ táng như đặt hòn đá đánh dấu mộ, kè gốm
xung quanh hay là việc đặt đồ tùy táng... Tổ chức xã hội Mán Bạc còn bộc lộ qua
các đồ tuỳ táng trong mộ, sự quy định hoặc quy ước độ tuổi hay địa vị của người
quá cố mà chôn theo đồ tuỳ táng. Những vật phẩm chôn theo đã thể hiện địa vị
của chủ nhân, hoặc các mối quan tâm sâu sắc của một tổ chức xã hội. Đồng thời,
sự phân bố số lượng đồ tùy táng ít/nhiều cũng như các loại hình hiện vật chôn
theo quý giá hay bình dân đã thể hiện rõ sự phân hoá giàu/nghèo trong tầng lớp
xã hội.
Đối
với xã hội Mán Bạc một xã hội nguyên thuỷ có lẽ tinh thần là một cơ sở đạo đức
thuần tuý làm chỗ dựa cho các mối quan hệ bình đẳng cộng đồng chính là đạo đức
tâm linh. Những chuẩn mực cộng đồng, hầu hết có quan hệ tới cuộc sống tâm linh
là một công cụ phổ biến. Cho dù là lựa chọn tập thể, nhưng các thành viên trong
cộng đồng vẫn phải dựa vào một sự mách bảo của lực lượng siêu nhiên. Tuy nhiên,
sự bất bình đẳng trong xã hội Mán Bạc được thể hiện qua số lượng đồ tuỳ táng
theo từng độ tuổi, giới tính cũng như những cá thể không có đồ tuỳ táng chôn
theo. Điều này càng chứng tỏ xã hội Mán Bạc lúc đó rất phát triển. Với một nền
kinh tế phát triển, nhiều nhóm người cùng cộng cư tất sẽ có những cuộc đụng độ
có thể để bảo vệ cộng đồng hay nguồn thức ăn... Điều này được thể hiện ở vết
chém phía trên ổ mắt phải trên sọ Mộ 11 (năm 2004 - 2005).
4. Về di vật: trong tổ hợp công cụ
lao động của cư dân Mán Bạc, đồ đá giữ địa vị quan trọng, đồ xương là thứ yếu,
không có di vật đồng. Đồ đá Mán Bạc có số lượng tuy không nhiều nhưng kỹ thuật
chế tác cao, loại hình phong phú và có sự phân hoá chức năng rõ rệt.
Ngoài
một số công cụ làm bằng cuội, còn tuyệt đại đa số công cụ lao động ở đây được
làm từ đá nepherite, bazalt, spilite hoặc một số làm từ đá quartzite. Các loại
hình công cụ đá Mán Bạc rất quen thuộc như: rìu hình chữ nhật, rìu có vai, bôn,
bàn đập vải vỏ cây... Chúng được chế tác với trình độ cao, kỹ thuật ghè đẽo, tu
chỉnh, cưa, khoan, mài và tiện đạt đến mức hoàn thiện.
-
Đồ gốm di tích Mán Bạc giữ địa vị chủ đạo, có mật độ phân bố dày đặc, kỹ thuật
chế tác đạt trình độ cao, chất liệu và loại hình phong phú với nhiều đồ án hoa
văn. Đặc trưng nổi bật của đồ gốm Mán Bạc là sự có mặt của nhiều loại chất liệu
gốm và ở mỗi loại chất liệu lại có những loại hình, hoa văn có nét riêng. Sự
khác nhau về chất liệu cũng như hoa văn ở từng loại chất liệu thể hiện rõ quá
trình phát triển nội tại cũng như sự đan xen, kế thừa và giao lưu trao đổi văn
hoá với các vùng khác nhau.
5. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu các
loại di tích (di tích mộ táng, xương cốt động vật, dấu tích thực vật, hố chân
cột, nền đất...) và di vật (đá, gốm...); trên cơ sở so sánh với các nền văn hoá
đương đại (như đã trình bày trên), chúng tôi cho rằng, cư dân cổ Mán Bạc có thể
sống chủ yếu dựa vào làm nông nghiệp lúa nước kết hợp với chăn nuôi, săn bắn
(bắt), đánh cá, thu lượm, làm thủ công và giao lưu rộng mở với các cộng đồng cư
dân đương đại ở châu thổ sông Hồng, vùng ven biển Đông Bắc Việt Nam và vùng
đồng bằng Thanh Hóa. Có thể nói, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Mán
Bạc khá đa dạng và phong phú.
6. Di tích Mán Bạc đã có đóng góp
nhất định vào việc hình thành và phát triển các di tích sơ kỳ kim khí ở Ninh
Bình như Núi Hai, hang Chợ Gành... nói riêng, văn hóa Đông Sơn ở lưu vực sông
Mã, sông Chu nói chung.
Nếu
như chúng ta coi văn hóa Phùng Nguyên là sự mở đầu văn minh sông Hồng thì có
thể xem di tích Mán Bạc cũng là những nhân tố tham gia góp phần tạo nên diện
mạo nền văn minh đó. Thông qua những đặc trưng và hội tụ của các yếu tố văn hoá
ở Mán Bạc, càng minh chứng cho sự lan toả của văn hóa Phùng Nguyên ra phía
biển. Nếu như văn hóa Phùng Nguyên lan ra phía biển, cư dân vùng duyên hải Đông
Bắc trên đường Nam tiến, các bộ lạc Cồn Chân Tiên, Hoa Lộc cũng dịch chuyển vào
sâu nội địa. Có thể bấy giờ đã bắt đầu có sự cư trú xen kẽ giữa một số bộ lạc
có văn hoá khác nhau. Do có sự tiếp xúc, trao đổi và giao thoa văn hoá giữa các
cộng đồng cư dân sống ở các vùng miền khác nhau ngày càng mở rộng và phát
triển. Mà sự hội tụ các sản phẩm văn hóa hay các dấu ấn văn hóa từ vùng đồng
bằng Thanh Hóa, vùng châu thổ sông Hồng và vùng Đông Bắc Việt Nam ở di tích Mán
Bạc là một bằng chứng rất rõ ràng và sinh động.