Ô
nhiễm vi nhựa hiện nay như thế nào?
Ô nhiễm
nhựa đang trở thành một thách thức môi trường nghiêm trọng trên toàn
cầu. Theo ước tính của UNEP, mỗi phút, lượng nhựa tương đương một xe tải
rác bị đổ ra đại dương. Theo thời gian, dưới tác động của các tác nhân vật
lý trong môi trường, chất thải nhựa bị phân thành các mảnh nhỏ. Quá trình phân
rã của các sản phẩm chứa nhựa đã tạo ra các loại hạt nhựa với kích thước khác
nhau từ dưới dưới 1 µm đến dưới 100 nm (0,0001 mm) hay con gọi là nano nhựa và
các mảnh nhựa có kích thước nhỏ hơn 5 mm còn gọi là vi nhựa vi nhựa
(microplastics - MPs) và nano nhựa (nanoplastics - NPs). Các hạt vi nhựa với
kích thước từ và nano nhựa theo vòng tuần hoàn vật chất đã xâm nhập vào hầu hết
các thành phần môi trường trên Trái Đất. Nó có mặt từ đại dương sâu thẳm đến
không khí đô thị và thực phẩm hàng ngày (Zhu et al., 2024). Chính vì thế,
thông quan hoạt động sống, con người tiếp xúc với các hạt này qua ba con đường
chính gồm ăn uống, hít thở và tiếp xúc qua da (Zhu et al., 2024). Cụ thể
là vi nhựa trong nước uống, nano nhựa bay trong không khí và nhựa tiếp xúc trực
tiếp với cơ thể (quần áo, thiết bị y tế, trang thiết bị hàng ngày. Ước tính
lượng hạt vi nhựa nạp vào cơ thể đạt từ vài chục nghìn đến hàng trăm nghìn mỗi
năm (39.000 đến 121.000 hạt) (Emenike et al., 2023). Các nguồn phát thải
nhựa bao gồm phân mảnh rác thải nhựa dưới tác động tia UV, vi sợi từ quần áo
tổng hợp, hạt nhựa công nghiệp và mài mòn lốp xe (Zhu et al.,
2024)... Đặc biệt, vi nhựa tồn tại trong bộ ba phơi nhiễm, kết hợp với hóa
chất phụ gia và chất ô nhiễm hấp phụ trên bề mặt (Alijagic et al., 2024).

Phơi nhiễm vi nhựa và nano nhựa
Nguồn: Ảnh do AI sáng tạo dựa trên thông tin
đầu vào từ nghiên cứu của (Hernandez et al., 2019)
Tác
động của ô nhiễm vi nhựa đối với môi trường, hệ sinh thái và sức khỏe con người
Đối với
môi trường nói chung và hệ sinh thái, vi nhựa gây ra những hậu quả nghiêm trọng
và kéo dài. Quá trình phân hủy diễn ra cực kỳ chậm: một túi ni lông được sử
dụng chỉ trong 12 phút có thể mất tới 1.000 năm để phân hủy hoàn toàn do vậy
chúng có rất nhiều thời gian để xâm nhập và tác động đến các quyển khác trong
môi trường chung của trái đất; góp phần làm thay đổi thành phần và chức năng
của các quyển này trong môi trường tự nhiên. Đối với sinh vật, các hạt vi nhựa
gây hại cho cơ thể động vật biển khi chúng nhầm lẫn các hạt nhựa với thức ăn hoặc
bị mắc kẹt trong các “bẫy” nhựa” khắp nơi trong đại dương. Theo ước tính thế
giới có khoản 270 loài được ghi nhân tổn thương bởi ngư cụ “ma”, và khoảng 240
loài được ghi nhận nuốt phải nhựa. Trong khi đó các dự báo đến năm 2050 cho
thấy nhựa và vi nhựa có thể ảnh ưởng đến khoảng 15% loài sinh vật biển (tương
đương với khoảng 600 loài) . Đây là nguy cơ lớn dẫn đến suy giảm đa dạng sinh
học nghiêm trọng. Ngoài ra, theo chuỗi thức ăn, vi nhựa từ cơ thể sinh vật biển
xâm nhập vào cơ thể động vật trên cạn cũng như con người.

Vi nhựa : nguồn gốc, phơi nhiễm và tác động đến con
người
Nguồn: He
et al., 2025
Ngoài
ra, đối với đại dương, lượng ô nhiễm nhựa trong đại dương
trôi nổi và tích tụ trên bề mặt nước ven đảo, nó góp phần ngăn chặn quá trình
tương tác, trao đổi giữa bề mặt nước và khí quyển, làm suy yếu khả năng hấp thụ
CO₂ của đại dương và thúc đẩy khủng hoảng khí hậu. Cuối cùng việc sản xuất nhựa
nguyên sinh giải phóng lượng lớn khí nhà kính. Trong khi giảm sử dụng và tăng
cường tái chế có thể cắt giảm tới đáng kể lượng phát thải CO₂ so với
sản xuất mới.
Đối với
con người, các nghiên cứu gần đây cho thấy các hạt nhựa xuất hiện ở hầu hết các
bộ phận trong cơ thể con người và tạo ra nguy cơ với sức khỏe. Từ 2021 các
nghiên cứu trên thế giới đã công bố phát hiện nhựa tồn tại trong nhau thai người (Ragusa
et al., 2021) phân xu của trẻ em (Braun et al., 2021), sữa
mẹ (Ragusa et al., 2021); và các bộ phận khác trên người trưởng thành
như:, tim, , phổi (Han et al., 2021), mạch máu (Leslie et al.,
2022),. não (Nihart et al., 2025). Sự tồn tại của các hạt nhựa trong cơ
thể con người đã được chứng minh là tác động tiêu cực lên các hệ cơ quan chính
như tiêu hóa, sinh sản và hô hấp, thần kinh (Chartres et al., 2024; Tang
et al., 2024); và có mỗi liên hệ có ý nghĩa đối với một số bệnh như: stress oxy
hóa (căng thẳng oxy hóa), viêm mãn tính, rối loạn nội tiết và tổn thương
DNA, dẫn đến. Không chỉ thế nano nhựa có khả năng vượt qua hàng rào
máu-não, gây tổn thương thần kinh nghiêm trọng và đóng vai trò véc-tơ vận
chuyển mầm bệnh cùng chất độc (Prata et al., 2020; Winiarska et al.,
2024). Do đó, cần có những khuyến cáo cụ thể cho việc tình trạng
sủ dụng nhựa hiện nay để hạn chế sự phơi nhiễm của cơ thể con người
nhằm hạn chế tác động đến cơ thể người và sinh vật.
Khoảng
trống trong thể chế về quản lý ô nhiễm nhựa
Thực
trạng thể chế quản lý cho thấy nhiều khoảng trống. Trên phạm vi toàn cầu chưa
có công ước ràng buộc quy định ngưỡng giới hạn vi nhựa trong môi trường, Hiệp
ước nhựa toàn cầu đang đàm phán chủ yếu tập trung giảm nhựa nguyên sinh. Các
tiêu chuẩn chất lượng nước mặt, nước ngầm, đất nông nghiệp và không khí hiện
hành hầu như không có chỉ tiêu vi nhựa. Phương pháp quan trắc và phân tích chưa
thống nhất, thiếu chuẩn ISO (International Organization for Standardization)
hay ASTM (American Society for Testing and Materials) được công nhận rộng
rãi (Winiarska et al., 2024). Quản lý nguồn phát thải khuếch tán như bùn
thải từ nhà máy xử lý nước thải và vi sợi từ giặt quần áo chưa đầy đủ, dẫn đến
tăng tính tuần hoàn của chất ô nhiễm (Alijagic et al., 2024). Hơn nữa các
đánh giá rủi ro sức khỏe chưa tích hợp vi nhựa với giá trị tham chiếu chính
thức từ tổ chức Y tế thế giới WHO hay các cơ quan tương đương (Emenike et
al., 2023). Một số quốc gia đang có theo dõi cụ thể về vi nhựa trong nước uống
(Mỹ) và kế hoạch đo lượng đầu vào đầu ra vi nhựa trong bùn thải từ 2027 (EU).
Tại
Việt Nam, Luật Bảo vệ Môi trường 2020 và các QCVN hiện hành chỉ quản lý rác
thải vĩ mô, chưa đưa vi nhựa vào danh mục quan trắc bắt buộc mà chỉ quy định
chung về hàm lượng chất rắn lơ lửng lơ lửng (TSS), không có chỉ tiêu vi nhựa
như số lượng hạt, loại polyme, kích thước, hình dạng tồn tại trong nước. Do đó,
phần lớn vi nhựa và nano nhựa với kích thước nhỏ không được kiểm soát, dễ dàng
xâm nhập vào môi trường đất, nước, không khí, sinh vật dẫn đến tác động tiêu
cực.
Bình
luận và trao đổi
Nhựa là
một loại vật liệu tiện dụng và có nhiều đóng góp không thể phủ nhận. Tuy nhiên,
việc quản lý chất thải nhựa và vấn đề ô nhiễm vi nhựa, nano nhựa cũng như những
đánh giá nhằm lượng hóa tiêu chuẩn cho phép và khuyến nghị an toàn vẫn là
khoảng trống. Đây là mấu chốt để đưa ra các khuyến nghị về việc kiểm soát
ô nhiễm nhựa trong môi trường đất, nước, không khí, sinh vật. Do vậy cần có sự
tham gia của nhiều bên liên quan để tăng cường giám sát tiêu
chuẩn chỉ tiêu vi nhựa vì mục tiêu bảo vệ môi trường sinh thái và sức
khỏe con người. Trước hết, cần ưu tiên xây dựng phương pháp quan trắc
chuẩn hóa phù hợp điều kiện địa phương, tiến hành đánh giá rủi ro sức khỏe định
lượng để xác định ngưỡng an toàn, nghiên cứu hiệu quả – chi phí công nghệ lọc
vi nhựa và khảo sát bản đồ phơi nhiễm theo vùng cũng như nhóm dân cư dễ tổn
thương (Tang et al., 2024). Tiếp theo, cần có các nghiên
cứu về thể chế chính sách nhằm đưa nồng độ vi nhựa vào tiêu chí đánh giá
chất lượng môi trường nước, không khí và đất. Việc lấp đầy khoảng
trống nghiên cứu trong lĩnh vực tự nhiên cung cấp cơ sở khoa học
cho các kiến nghị chính sách và xã hội.
Trong
lĩnh vực khoa học xã hội cần nghiên cứu thể chế, chính sách quản lý chất thải
nhựa sinh hoạt. Xây dựng sách hướng dẫn sử dụng cho sản phẩm chứa nhựa; nhận
diện sản phẩm thân thiện với môi trường, thực hành các chiến lược R theo kinh
tế tuần hoàn, nâng cao nhận thức xã hội về phơi nhiễm nhựa, tác động nhựa và
cách thức sống chung hiệu quả. Để triển khai được những nhiệm vụ này cần có sự
kết hợp linh hoạt giữa tài chính công và tư; hợp tác giữa các bên và doanh
nghiệp nhựa theo cơ chế Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR); tạo nền
tảng vững chắc cho quản lý môi trường hiệu quả, bảo vệ sức khỏe con người và
hướng tới một hệ sinh thái bền vững.
Tài
liệu tham khảo
Alijagic,
A., Suljević, D., Fočak, M., Sulejmanović, J., Šehović, E., Särndahl, E., &
Engwall, M. (2024). The triple exposure nexus of microplastic particles,
plastic-associated chemicals, and environmental pollutants from a human health
perspective. Environment International, 188, 108736.
https://doi.org/10.1016/j.envint.2024.108736
Braun,
T., Ehrlich, L., Henrich, W., Koeppel, S., Lomako, I., Schwabl, P., &
Liebmann, B. (2021). Detection of microplastic in human placenta and meconium
in a clinical setting. Pharmaceutics, 13(7), 921.
Chartres,
N., Cooper, C. B., Bland, G., Pelch, K. E., Gandhi, S. A., BakenRa, A., &
Woodruff, T. J. (2024). Effects of Microplastic Exposure on Human Digestive,
Reproductive, and Respiratory Health: A Rapid Systematic Review. Environmental
Science & Technology, 58(52), 22843–22864.
https://doi.org/10.1021/acs.est.3c09524
Emenike,
E. C., Okorie, C. J., Ojeyemi, T., Egbemhenghe, A., Iwuozor, K. O., Saliu, O.
D., Okoro, H. K., & Adeniyi, A. G. (2023). From oceans to dinner plates:
The impact of microplastics on human health. Heliyon, 9(10),
e20440. https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2023.e20440
Han,
Y., Song, Y., Kim, G. W., Ha, C., Lee, J., Kim, M., Son, H., Lee, G., Gautam,
R., & Heo, Y. (2021). No prominent toxicity of polyethylene microplastics
observed in neonatal mice following intratracheal instillation to dams during
gestational and neonatal period. Toxicological Research, 37(4),
443–450. https://doi.org/10.1007/s43188-020-00086-7
He, Z.,
Shen, Z., Zhang, H., Na, C., & Bai, C. (2025). From exposure to
oncogenesis: A review on the multifaceted roles of microplastics in tumor
initiation and progression. Journal of Translational Medicine, 24(1),
73. https://doi.org/10.1186/s12967-025-07553-5
Hernandez,
L. M., Xu, E. G., Larsson, H. C. E., Tahara, R., Maisuria, V. B., &
Tufenkji, N. (2019). Plastic Teabags Release Billions of Microparticles and
Nanoparticles into Tea. Environmental Science & Technology, 53(21),
12300–12310. https://doi.org/10.1021/acs.est.9b02540
Leslie,
H. A., van Velzen, M. J. M., Brandsma, S. H., Vethaak, A. D., Garcia-Vallejo,
J. J., & Lamoree, M. H. (2022). Discovery and quantification of plastic
particle pollution in human blood. Environment International, 163,
107199. https://doi.org/10.1016/j.envint.2022.107199
Nihart,
A. J., Garcia, M. A., El Hayek, E., Liu, R., Olewine, M., Kingston, J. D.,
Castillo, E. F., Gullapalli, R. R., Howard, T., & Bleske, B. (2025). Bioaccumulation
of microplastics in decedent human brains. Nature Medicine, 31(4),
1114–1119.
Prata,
J. C., da Costa, J. P., Lopes, I., Duarte, A. C., & Rocha-Santos, T.
(2020). Environmental exposure to microplastics: An overview on possible human
health effects. Science of The Total Environment, 702,
134455. https://doi.org/10.1016/j.scitotenv.2019.134455
Ragusa,
A., Svelato, A., Santacroce, C., Catalano, P., Notarstefano, V., Carnevali, O.,
Papa, F., Rongioletti, M. C. A., Baiocco, F., Draghi, S., D’Amore, E., Rinaldo,
D., Matta, M., & Giorgini, E. (2021). Plasticenta: First evidence of
microplastics in human placenta. Environment International, 146,
106274. https://doi.org/10.1016/j.envint.2020.106274
Tang,
K. H. D., Li, R., Li, Z., & Wang, D. (2024). Health risk of human exposure
to microplastics: A review. Environmental Chemistry Letters, 22(3),
1155–1183. https://doi.org/10.1007/s10311-024-01727-1
Winiarska,
E., Jutel, M., & Zemelka-Wiacek, M. (2024). The potential impact of nano-
and microplastics on human health: Understanding human health risks. Environmental
Research, 251, 118535.
https://doi.org/10.1016/j.envres.2024.118535
Zhu,
Y., Che, R., Zong, X., Wang, J., Li, J., Zhang, C., & Wang, F. (2024). A
comprehensive review on the source, ingestion route, attachment and toxicity of
microplastics/nanoplastics in human systems. Journal of Environmental
Management, 352, 120039.
https://doi.org/10.1016/j.jenvman.2024.120039