Đầu năm 2022, chúng
tôi được tiếp cận, thu thập tư liệu, hoàn thiện hồ sơ và nghiên cứu sưu tập
trống đồng tư nhân rất đặc sắc tại Hà Nội. Chủ nhân của sưu tập trống đồng này
là kỹ sư Nguyễn Văn Kính, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty TNHH Anh Trí. Ông
là doanh nhân thành đạt và là người rất có tâm trong sưu tầm, bảo vệ, bảo quản
và có kế hoạch khả thi để phát huy giá trị di sản văn hóa những hiện vật trong
sưu tập. Sưu tập của ông có 2 chiếc trống đồng có kích thước lớn với dáng trống
cân đối hài hòa và chia ba phần rõ rệt, hoa văn trang trí rất hoàn mỹ.
Chiếc trống đầu
tiên được đặt tên là trống đồng Kính Hoa đã được công nhận là Bảo vật Quốc gia
năm 2020 (Theo Quyết định số 2283/QĐ-TTg Ngày 31/12/2020 của Thủ
tướng Chính phủ về việc công nhận bảo vật quốc gia năm 2020). Chiếc
trống đồng thứ hai trong sưu tập được đặt tên là trống Kính Hoa II, hiện đang
được nghiên cứu xây dựng hồ sơ hiện vật. Trong bài viết này, chúng tôi trình
bày chi tiết tư liệu về trống đồng Kính Hoa II và điểm qua tư liệu của trống
đồng Kính Hoa cũng như mối tương quan giữa chúng trong hệ thống trống đồng Đông
Sơn.
1. Trống đồng Kính Hoa
II
Trống Kính Hoa II được
người dân phát hiện ngẫu nhiên ở vùng núi phía tây thuộc huyện Mường Lát, tỉnh
Thanh Hóa. Thanh Hóa là tỉnh đứng đầu cả nước về số lượng trống đồng đã được
phát hiện với hơn 100 chiếc (Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa 2013). Trống Kính Hoa II
là một trong những phát hiện mới và đã tạo sự chú ý đặc biệt trong giới nghiên
cứu.
Trống đồng Kính Hoa II
còn nguyên vẹn, đủ dáng, có kích thước lớn, dáng cân đối, hài hòa, chia ba phần
rõ rệt, chiều cao của tang và thân trống gần tương đương nhau (Hình 1,2).
Toàn bộ trống phủ một lớp patin mỏng màu xanh loang nâu. Thân trống có 3 vết
nứt vỡ lớn, trong đó mảng nứt ở giữa một nửa thân có nhiều lỗ thủng nhỏ.
Kích thước trống:
Đường kính mặt 100,6cm; Đường kính tang 103,7cm; Đường kính chân 102cm; Cao
toàn bộ 72cm; Trọng lượng 90kg. Mỗi quai trống đúc nổi 4 hàng hoa văn bông lúa,
mỗi bên quai rộng 3 - 3,2cm, tạo khe hở ở giữa, cả hai bên rộng 6,9cm.
Mặt trống
Giữa mặt trống là hình
mặt trời với 12 tia nổi. Khoảng trống giữa các tia mặt trời được trang trí xen
kẽ đồ án hoa văn các đường chỉ nổi tạo thành hình nan quạt chụm lại ở đỉnh và
các đường chỉ nổi kèm hoạ tiết hình mỏ neo ở đỉnh (còn gọi là văn hình lông công).
Các tia mặt trời mập, kéo ra tới đường tròn giới hạn vành trung tâm trống.
Đường tròn giới hạn này nổi với bản rộng 0,85cm.
Từ vòng tròn giới hạn
tâm trống ra rìa mặt trống có tất cả 10 vành hoa văn được trang trí trong mỗi
vành như sau:
- Vành 1: Hồi văn dạng
chữ S vuông vức.
- Vành 2, 9: Đường
tròn đơn chấm giữa có tiếp tuyến.
- Vành 3, 8, 10: Vạch
ngắn song song (còn gọi là văn răng lược).
- Vành 4, 7: Hình thoi
lồng (còn gọi là ô trám lồng) nối tiếp.
- Vành 5: là vành
trang trí chính trên mặt trống. Trên vành này có 4 nhà sàn mái vút nhọn ở hai
đầu được bố trí đều và đối xứng qua tâm trống. Các nhà sàn được khắc họa rất
sinh động với các cột chống dọc ở dưới, hai đầu mái có biểu tượng hình đầu
chim. Khoảng giữa các nhà sàn có trang trí từng nhóm người hóa trang cách điệu
đang di chuyển theo hướng ngược chiều kim đồng hồ trong đó có 3 nhóm 8 người và
1 nhóm 9 người (Hình 1).
- Vành 6: trang trí 12
chim mỏ dài xòe cánh đang bay ngược chiều kim đồng hồ. Các hình chim được tạo
chìm dưới nền mặt trống.
|
|
 
|
|
Hình 1. Trống đồng Kính Hoa II
(Nguồn: nhóm tác
giả)
|
Hình 2. Trống đồng Kính Hoa II (Nguồn:
Nguyễn Đăng Cường)
|
Tang trống
Tang trống được trang
trí như sau:
- Phía sát mặt là đồ
án hoa văn nổi với 2 băng vạch ngắn song song ở hai bên, ở giữa là 1 băng đường
tròn đơn chấm giữa có tiếp tuyến.
- Từ phần phình nhất
của tang trống xuống phần tiếp giáp thân trống là băng trang trí chính của
tang. Trong băng này mỗi nửa trống có 3 hình thuyền lớn trên có người hóa
trang. Người được mô tả trong tư thế ngồi với 1 người ở cuối điều khiển bánh
lái và 5 người ngồi chèo thuyền.
Thuyền được tạo hình
cong ở đuôi thuyền gắn liền với 1 hình chim bồ nông. Đầu thuyền trang trí uốn
cong như đầu rồng. Các thuyền được tạo hình có hướng di chuyển từ trái qua
phải. Khoảng giữa hai thuyền liên tiếp có 1 chim bồ nông lớn trong tư thế đứng
nghỉ, đầu chim ngoái về phía sau (bên trái). Thân thuyền trang trí hồi văn dạng
chữ S gãy khúc. Băng trang trí hình thuyền được tạo chìm dưới nền tang trống.
- Dưới cùng của tang
có 1 băng hoa văn hình thoi lồng nối tiếp nhau. Các hình thoi in chìm dưới nền
tang trống.
Quai trống
Quai được tạo hình dấu
hỏi dài 19cm nối từ tang xuống thân. Trống có 2 đôi quai kép, bề mặt trang trí
2 hàng văn bông lúa. Bản quai mỗi bên rộng 3 - 3,2cm, tạo khe hở ở giữa, cả hai
bên rộng 6.9cm.
Quai trống đè lên băng
hoa văn dọc trên thân. Điều này cho thấy quai được đúc rời và hàn/gắn vào trong
quá trình đúc trống theo phương pháp làm quai thứ ba thường được dùng ở các lò
đúc đồng thủ công truyền thống hiện nay (Nguyễn Thơ Đình, Lê Minh Đạo 2016:
209).
Lưng trống
Mỗi nửa thân trống ở
phần lưng được chia thành 3 ô hình chữ nhật với đồ án văn hình học nổi ở dưới
cùng (hai bên là vạch ngắn song song, ở giữa là hình tròn đơn chấm giữa có tiếp
tuyến). Đồ án này đối xứng với đồ án tương tự trang trí ở trên cùng của tang
trống. Bên cạnh đó có 4 đồ án trang trí thành các cột dọc (hai bên là vạch chéo
song song hình xương cá, ở giữa là hình tròn đơn chấm giữa có tiếp tuyến). Hai
đồ án dọc ở hai đầu mỗi nửa thân kéo dài lên tới phần tiếp giáp thân - tang
trống. Hai đồ án dọc ở giữa mỗi nửa ngắn hơn vì phía trên có 1 băng hình thoi
lồng nối tiếp kéo từ hai băng dọc hai đầu tạo thành đường giới hạn trên của 3 ô
hình chữ nhật.
Trong mỗi ô hình chữ
nhật có trang trí 8 hình người hóa trang đang múa. Các hình người cách điệu
được tạo chìm dưới nền thân trống.
Chân trống
Chân trống choãi và
không trang trí hoa văn.
Đến đây chúng ta có
thể xác định trống đồng Kính Hoa II là trống đồng Đông Sơn thuộc loại Heger I.
Trống được trang trí rất chi tiết với nhiều hoa văn phong phú ở mặt, tang và
lưng trống. Các hoa văn tả thực (hình người, nhà, thuyền, chim…) rất sinh động
và đã ở trình độ ước lệ khá cao.
2. Trống đồng Kính Hoa
Trống Kính Hoa được
phát hiện trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Theo những người phát hiện đầu tiên thì
trống được chôn trong lòng đất.
Trống còn nguyên vẹn,
dáng trống rất cân đối. Mặt trống tròn với rìa mặt chưa chờm khỏi tang, thân
trống chia thành ba phần rõ rệt với tang trống nở đều, lưng trống hình nót cụt,
chân trống hơi choãi ra (Hình 3). Giữa tang và lưng trống có 4 cặp quai
trống nằm đối xưng qua tâm trống. Trên mặt và thân trống có nhiều dấu vết con
kê, dọc thân có 2 đường chỉ đúc đối xứng là những dấu vết kỹ thuật đúc trống.
Bề mặt trống phủ kín lớp patin màu xanh với nhiều sắc độ như xanh ngọc, xanh
nhạt và nâu, dày gần 2mm.
Kích thước trống:
Đường kính mặt trống 89cm; Đường kính chân trống 98,5cm; Chiều cao 59,5cm; Độ
dày thân 0,5 - 0,6cm; Trọng lượng 110kg. Mỗi quai trống đúc nổi 4 hàng hoa văn
bông lúa, quai có chiều cao 9,6cm, độ rộng của một cặp quai 6,9cm.
|
Mặt trống
- Giữa mặt là hình
mặt trời nổi với 10 tia, khoảng trống giữa các tia có 10 cặp “giao long”. Đây
là hoa văn quen thuộc đã tìm thấy trên một số đồ đồng Đông Sơn, như trên
chuôi rìu lưỡi xéo và tấm che ngực. Trên trống đồng chưa có trống nào xuất
hiện hoa văn này, trống Kính Hoa là trường hợp duy nhất.
- Từ mặt trời trung
tâm ra rìa mặt trống có 9 vành hoa văn:
+ Vành 1, 7, 8: Hoa
văn vòng tròn đồng tâm chấm giữa có tiếp tuyến. Mỗi bên đường tiếp tuyến có 1
chấm nổi nhỏ.
+ Vành 2: Có 10 con
vật có đuôi dài giống con sam, trang trí ngược chiều kim đồng hồ. Đây cũng là
hoa văn lần đầu tiên phát hiện trên trống đồng. + Vành 3: Có 16 con thú con thú 4 chân, đuôi dài, mõm dài, thân thon và cong giống con cáo, trang trí ngược chiều kim đồng hồ. Loại motif hoa văn này đã thấy ở một số đồ đồng và trống đồng Đông Sơn như Hòa Bình, Phú Xuyên. + Vành 4: Có 17 họa tiết chữ S nối tiếp nhau, hai bên chữ S có móc xoắn. Loại hoa văn hình chữ S (tả thực) này chưa thấy trên trống Đông Sơn ở Việt Nam. Nhưng có hoa văn cách điệu hoặc biến điệu chữ S đã gặp trên các trống Vũ Xá, Lũng Xuyên, Xuân Lập II, Nha Trang, Vĩnh Ninh... + Vành 5: Có 21 họa tiết chim bay ngược chiều kim đồng hồ. Chim trong tư thế dang cánh, cổ và mỏ dài tương tự như vành chim trên mặt trống Pha Long (Lào Cai). Ở vành này và vành 4 có một số dấu vải in trên bề mặt trống (Hình 4). + Vành 6, 9: Hoa văn răng cưa với các hình tam giác nổi và chìm liên tiếp nhau. Trong mỗi hình tam giác chìm có thêm 3 chấm nổi nhỏ. Các họa tiết của vành số 6 và 9 đối ngược nhau, viền trong của vành 6 và viền ngoài của vành 9 có thêm hàng chấm nổi nhỏ.
|


Hình 3. Trống đồng Kính Hoa
(Nguồn: Trịnh Sinh,
Nguyễn Văn Kính 2021)
|
Hình 4. Hình chim và dấu vải in trên mặt trống Kính Hoa (Nguồn:
nhóm tác giả)
Tang trống
- Băng 1, 4: Hoa văn
răng cưa với các hình tam giác nổi và chìm liên tiếp nhau. Trong mỗi hình tam
giác chìm có thêm 3 chấm nổi nhỏ. Các họa tiết của vành số 6 và 9 đối ngược
nhau, viền trên của vành 1 và viền dưới của vành 4 có thêm hàng chấm nổi nhỏ.
- Băng 2, 3: Hoa văn
vòng tròn đồng tâm chấm giữa có tiếp tuyến. Mỗi bên đường tiếp tuyến có 3 chấm
nổi nhỏ.
- Băng 5: Là băng rộng
nhất và chủ đạo trên tang trống với 6 hình thuyền nối đuôi nhau theo hướng từ
trái sang phải. Thuyền dài và cong hai đầu, đầu thuyền hình đầu chim. Trên
thuyền có từ 6 - 7 người đang chèo thuyền hoặc cầm giáo. Xen giữa các thuyền là
hoa văn hình chim đậu trên lưng cá sấu và hình tượng bộ phận của ngôi nhà sàn
với 4 cột phía trên có nét ngang thể hiện sàn nhà. Bên trên 1 nhà có hình đôi
chim xòe cánh mỏ hướng về nhau. Bên trong nhà có hình 2 con vật. Ở một nhà sàn
khác có hình con hươu ở cạnh nhà (Hình 4). Motif hoa văn chim đậu trên
lưng cá sấu và hình nhà sàn đến nay mới chỉ thấy ở trên trống Kính Hoa.
Lưng trống
- Giữa lưng trống chia
thành 8 ô trang trí 8 cặp người hóa trang đầu đội mũ lồng chim đang múa, phía
trên có 1 chim bay hướng lên trên. Hình chim giống trên mặt trống. Đây cũng là
motif mới chỉ thấy ở trên trống Kính Hoa.
Hai bên mảng trang trí
người và chim có hai cột trang trí theo chiều dọc với đồ án thống nhất: 2 băng
bên ngoài là hình răng cưa, hai băng ở giữa là đường tròn đồng tâm có châm giữa
và tiếp tuyến.
Có 4 cột dọc hoa văn
hình học dưới 4 đôi quai không kéo dài lên sát ranh giới với tang trống mà kết
thúc cách mép dưới của quai với khoảng cách không đều từ 2-4cm. Hiện tượng này
gặp khá phổ biến trên trống Đông Sơn.
- Phần dưới của lưng
trống trang trí băng hoa văn tạo thành đồ án giống như phần trên cùng của tang
trống: 2 băng bên ngoài là hình răng cưa, hai băng ở giữa là đường tròn đồng
tâm có châm giữa và tiếp tuyến.
Chân trống
Chân trống không trang
trí hoa văn.
Tóm lại, trống đồng
Kính Hoa là một chiếc trống đồng văn hóa Đông Sơn hoàn hảo, trống thuộc loại I
Heger. Trống đẹp toàn mỹ, hình dáng cân đối với hoa văn trang trí trên mặt và
thân rất sinh động.
3. Dấu vết kỹ thuật
đúc
- Dấu vết đường ghép
khuôn
Thân hai chiếc trống
để lại dấu vết ghép khuôn là hai đường chỉ đúc đối xứng và chạy dọc thân. Đường
chỉ đúc nổi rõ chia thân trống thành hai phần bằng nhau; Chỉ đúc dày gần 0,2cm.
Việc ghép khuôn trong quá trình đúc có độ xê dịch nên các băng hoa văn ở hai
nửa thân có độ lệch nhau khoảng 0,55cm.
- Dấu con kê
Trên mặt, tang, lưng
và chân trống có nhiều dấu con kê là dấu vết kỹ thuật sử dụng trong quá trình
đúc trống. Các dấu con kê có hình gần vuông, kích thước khoảng 0,8x0,8cm, có
tác dụng giới hạn độ dày và được đặt giữa khuôn trong - khuôn ngoài tạo khe hở
để dung dịch kim loại chảy khắp khuôn trong quá trình đúc.
Thống kê chi tiết các
dấu con kê trên trống Kính Hoa II như sau: mặt trống có 20 dấu con kê; tang
trống có 34 con kê; lưng trống có 57 con kê; chân trống có 76 con kê. Đa số con
kê đều được bố trí tránh các vành/băng hoa văn trang trí.
- Vị trí đổ hợp kim
khi đúc trống
Vị trí mở đậu rót, đậu
ngót của hai chiếc trống trong sưu tập không lưu lại dấu vết trên trống. Từ
quan sát dân tộc học và quá trình thực nghiệm tại làng Chè Đông chúng tôi cho
rằng với chiếc trống có kích thước lớn như Kính Hoa và Kính Hoa II, việc đặt
khuôn đứng và rót thẳng vào vị trí mặt trời trung tâm là an toàn nhất cho mẻ
đúc (Nguyễn Thơ Đình 2015). Sau khi đúc chỉ việc cắt phần thừa lên ở mặt trời
là được trống hoàn thiện và xóa hết dấu đậu rót-ngót. Quan sát kỹ ở tâm của mặt
trời trên trống Kính Hoa II nhận thấy có những vết rỗ bọt khí nhỏ có thể liên
quan tới quá trình đổ đúc này. Các mẫu xác định thành phần hợp kim ở mặt hai trống
với hàm lượng chì lớn hơn cũng đưa tới nhận định này.
4. Sưu tập trống Kính Hoa trong hệ thống
trống đồng Đông Sơn
4.1. Phân loại trống
Việc phát hiện một
cách ngẫu nhiên các trống đồng Đông Sơn ở Việt Nam là một hiện tượng khá phổ
biến. Trong đó phần nhiều các trống đồng được chôn độc lập mà không kèm theo
bất kỳ một di vật mang tính chỉ thị nào về niên đại, cũng như không có tầng văn
hoá. Do đó, việc xác định niên đại chính xác cho những trống này chủ yếu dựa
vào so sánh loại hình học của kiểu dáng, hoa văn, kỹ thuật, thành phần hợp kim.
Trống đồng Kính Hoa và
Kính Hoa II có vẻ cũng được phát hiện trong tình trạng như vậy. Do đó việc xác
định niên đại và định vị hai chiếc trống đồng này trong hệ thống trống đồng
Đông Sơn chỉ có thể thực hiện qua nghiên cứu so sánh về loại hình học và phong
cách trang trí.
Hệ thống phân loại
trống đồng của học giả Heger có thể coi là một trong những hệ thống phân loại
có mức độ ảnh hưởng đậm nét nhất đến các nhà nghiên cứu về trống đồng. Theo hệ
thống phân loại này, trống đồng ở Đông Nam Á được phân thành 4 loại chính
(Heger I, II, III, IV) và 3 dạng trung gian (I-II, I-IV, II-IV). Cho đến nay hệ
thống phân loại này vẫn còn giá trị và được sử dụng rộng rãi.
Các nhà khảo cổ học
Việt Nam dựa trên nền tảng là hệ thống phân loại của Heger, trong đó với loại
hình trống Heger I, đã tiến hành phân loại chi tiết hơn thành 5 nhóm với 22
kiểu. Các nhóm được quy ước theo chữ cái A, B, C, D, Đ và các kiểu được ký hiệu
bằng chữ số 1, 2, 3, 4… (Phạm Minh Huyền và cộng sự 1987).
Gần đây nhất, hệ thống
phân loại trống đồng của nhà khảo cổ học người Nhật Bản là Keiji Imamura được
nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ đã chia trống đồng thành các truyền thống khác
nhau. Keiji Imamura cho rằng trống đồng ở Đông Nam Á được bắt đầu từ nhóm trống
tiền Heger sau đó phân thành hai truyền thống khác nhau là Đông Sơn và Thạch
Trại Sơn (Imamura. K. 2010).
Chúng tôi đã tiến hành
nghiên cứu so sánh trống Kính Hoa với một số trống khác lưu giữ tại Bảo tàng
Lịch sử Quốc gia như Miếu Môn I, Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Cổ Loa, Sao Vàng và 4 trống
đồng sưu tầm ở Hải Phòng, Tây Nguyên, Hòa Bình, Yên Bái để có cái nhìn rõ hơn
về trống này (Bảng 1).
Bảng
1. Các chỉ số của
một số trống trống đồng được nghiên cứu
|
TT
|
Tên trống
|
Ký hiệu
|
Đường kính mặt (cm)
|
Đường kính chân
(cm)
|
Chiều cao (cm)
|
Dày chân (cm)
|
Trọng lượng (kg)
|
Tỷ lệ mặt/cao
|
|
11
|
Miếu Môn I
|
5724
|
72
|
83
|
48
|
0,38
|
51,8
|
1.50
|
|
22
|
Sưu tầm Hải Phòng
|
33202
|
64.5
|
70
|
47
|
0,5
|
19,2
|
1.37
|
|
33
|
Sưu tầm Tây Nguyên
|
38068
|
75
|
|
62,2
|
0,5
|
36,1
|
1.21
|
|
44
|
Hòa Bình
|
5725
|
49,3
|
55
|
35,8
|
0,43
|
20
|
1.38
|
|
55
|
Sưu tầm Yên Bái
|
38067
|
61,5
|
66,5
|
45
|
0,5
|
18,4
|
1.37
|
|
66
|
Ngọc Lũ
|
5722
|
79,5
|
82
|
62,6
|
0,7
|
83,6
|
1.27
|
|
77
|
Hoàng Hạ
|
5723
|
78,5
|
81,4
|
60,5
|
0,8
|
83,2
|
1.30
|
|
88
|
Cổ Loa
|
BTH1290
|
73,8
|
80,4
|
58,4
|
0,3
|
87
|
1.26
|
|
99
|
Sao Vàng
|
LSb-3
|
116
|
122,55
|
85
|
|
160
|
1.36
|
|
110
|
Kính Hoa
|
NVK.6180
|
89
|
98,5
|
59,5
|
0.5
|
110
|
1.50
|
|
111
|
Kính Hoa II
|
|
100,6
|
102
|
72
|
0.4
|
90
|
1.40
|
Từ các so sánh về
đường kính mặt, chiều cao, tỷ lệ giữa đường kính mặt so với chiều cao cho thấy
trống Kính Hoa gần gũi với trống Miếu Môn I và dáng thấp hơn chút ít so với các
trống Ngọc Lũ, Cổ Loa khi có tỷ lệ 1.5 so với 1.3 (Nguyễn Duy Hinh 1986;
Trịnh Sinh, Nguyễn Văn Kính 2021). Hai trống này có rất nhiều điểm gần gũi về
mặt hoa văn, cách thức trang trí mặt - tang - thân trống.
Về thành phần hợp kim,
chúng tôi so sánh giữa trống Kính Hoa và trống Ngọc Lũ dựa trên kết quả phân
tích của Trung tâm đánh giá không phá hủy NDE (Bảng 2):
- Trống Ngọc Lũ có
thành phần hợp kim là đồng - thiếc - chì với hàm lượng đồng trong khoảng 48 -
54%, thiếc khoảng 21%, chì khoảng 19%.
- Trống Kính Hoa có
thành phần hợp kim là đồng - thiếc với hàm lượng đồng trong khoảng 66 - 69%,
thiếc khoảng 24 - 29,5%. Hợp kim với hai thành phần hợp đồng - thiếc đã gặp ở
trống đồng Quảng Chính (Quảng Ninh).
Bảng
2. So sánh thành
phần hợp kim trống đồng Kính Hoa và Ngọc Lũ
(Nguồn: Trung tâm đánh
giá không phá hủy NDE)
|
Sample No.
Mã hóa mẫu
|
Chemical
Compositions / Thành phần hóa học %
|
|
Cu
|
Sn
|
Pb
|
Fe
|
Si
|
GHI CHÚ
|
|
TR.NGOC LU.1
|
47.6
|
20.63
|
18.89
|
9.16
|
2.39
|
Lòng trống, ở mặt
trống
|
|
TR.NGOC LU.2
|
47.93
|
14.88
|
11.90
|
21.71
|
3.58
|
Lòng trống, ở tang
trống
|
|
TR.NGOC LU.3
|
63.46
|
6.77
|
21.19
|
6.82
|
1.4
|
Lòng trống, con kê
ở thân trống
|
|
TR.NGOC LU.4
|
54.17
|
20.44
|
18.15
|
4.22
|
2.46
|
Lòng trống, ở chân
trống
|
|
TR.KINH HOA.1.1
|
69.22
|
23.8
|
2.14
|
1.02
|
0.99
|
Lòng trống, ở mặt
trống
|
|
TR.KINH HOA.1.2
|
67.28
|
24.93
|
2.13
|
1.13
|
0.77
|
Lòng trống, ở mặt
trống
|
|
TR.KINH HOA.2.1
|
89.33
|
0.38
|
0.45
|
0.87
|
6.68
|
Lòng trống, cặn bám
ở thân
|
|
TR.KINH HOA.2.2
|
88.03
|
2.76
|
0.84
|
1.09
|
7.29
|
Lòng trống, cặn bám
ở thân
|
|
TR.KINH HOA.3.1
|
63.3
|
28.42
|
2.97
|
2.23
|
1.12
|
Lòng trống, ở thân
trống
|
|
TR.KINH HOA.3.2
|
64.08
|
27.84
|
2.96
|
2.02
|
1.08
|
Lòng trống, ở thân
trống
|
|
TR.KINH HOA.4.1
|
65.85
|
29.58
|
1.06
|
0.68
|
1.25
|
Lòng trống, ở thân
trống
|
|
TR.KINH HOA.4.2
|
66.6
|
29
|
1.08
|
0.79
|
0.92
|
Lòng trống, ở thân
trống
|
|
TR.KINH HOA.5
|
69.3
|
22.04
|
|
0.90
|
4.47
|
Mặt ngoài, tâm mặt
trời
|
|
TR.KINH HOA.6
|
52.92
|
37.69
|
|
1.68
|
4.63
|
Mặt ngoài, thân
trống
|
|
TR.KINH HOA.7
|
69.32
|
12.72
|
|
3.58
|
12.72
|
Mặt ngoài, con kê ở
thân trống
|
|
TR.KINH HOA.8
|
65.59
|
27.52
|
|
0.43
|
2.75
|
Mặt ngoài, sát mép
chân trống
|
Thành phần kim loại
trong trống Ngọc Lũ tương đối thống nhất, có sự dao động nhẹ về tỷ lệ hợp kim
giữa các bộ phận. Thành phần kim loại của trống Kính Hoa (đối với những điểm
được vệ sinh tương đối kỹ: 1, 2, 3) có tỷ lệ khá thống nhất, sự dao động về tỷ lệ
giữa các vị trí trên trống không nhiều. Chỉ có điểm phân tích số 2 (TR.KINHHOA
2.1 và 2.2) là phần vật chất bám ở trong lòng trống có tỷ lệ đồng vượt trội.
Phần vật chất này có thể là vật chất bám từ môi trường tự nhiên vào nên tỷ lệ
của thành phần hợp kim sẽ khác với phần nguyên bản của trống. Tất cả các điểm
phân tích đều cho thấy trống Kính Hoa có tỷ lệ chì tương đối thấp. Những điểm
phân tích bên ngoài mặt trống - chưa được mài lớp patin, chỉ làm sạch bằng cồn
- không phát hiện chì trong thành phần hợp kim.
Tóm lại, trống đồng
Kính Hoa là một chiếc trống đồng văn hóa Đông Sơn hoàn hảo, trống thuộc loại I
Heger. Có ý kiến xếp trống Kính Hoa thuộc nhóm A-I và có niên đại khoảng thế kỷ
IV - III trước Công
nguyên (Trịnh Sinh, Nguyễn Văn Kính 2021b). Thành phần hợp kim của trống có hai
thành phần chính là đồng - thiếc và gần gũi với hợp kim của một số trống văn
hóa Đông Sơn đã biết như trống Quảng Chính (Quảng Ninh). Trang trí hoa văn và
dáng trống Kính Hoa gần gũi trống Miếu Môn I, Pha Long. Bên cạnh đó trống Kính
Hoa có vành hoa văn hình thú xuất hiện ở những trống thuộc nhóm A-IV như trống
Hòa Bình, Phú Xuyên. Nhóm nghiên cứu xác định trống Kính Hoa thuộc loại I
Heger, phân nhóm A-II, niên đại trống khoảng thế kỷ III trước Công nguyên.
Trống đồng Kính Hoa II
cũng đã được phân tích thành phần hợp kim bằng phương pháp không phá hủy với 25
vị trí được chọn để kiểm tra khắp mặt, tang, lưng, chân, quai trống và một số
con kê ở cả mặt trong và mặt ngoài của trống (Bảng 3). Các vị trí phân
tích ở mặt ngoài của trống được chúng tôi vệ sinh bề mặt sạch sẽ bằng lau cồn
90 độ để không ảnh hưởng tới hoa văn trang trí của trống. Các vị trí phân tích
ở mặt trong của lòng trống được chúng tôi đánh tẩy gỉ kỹ bằng giấy nhám mịn để
lộ hẳn phần hợp kim dưới lớp patin bề mặt.
Các mẫu ở mặt ngoài có
hàm lượng kẽm khá lớn, mặt trong khi được tẩy hết gỉ thì gần như không có kẽm
cho thấy đây là yếu tố ảnh hưởng bởi lớp gỉ bên ngoài. Chúng tôi cho rằng kết
quả phân tích từ các mẫu số 19 - 23 sẽ phản ánh chính xác thành phần hợp kim
của trống Kính Hoa II. Trong các mẫu này, tỷ lệ đồng trong khoảng 69 - 82%,
trung bình khoảng 76%, tỷ lệ chì trong khoảng 17 - 18%, hàm lượng thiếc trong
hợp kim không đáng kể (đa số 0,6 - 0,7%, 2 mẫu chứa 1,24%). Hàm lượng antimon
(Sb) trong hợp kim trống Kính Hoa II khá ổn định ở mức 2,2%. Như
vậy, hợp kim của trống Kính Hoa II là đồng - chì (tỷ lệ trung bình Cu - 76%, Pb
- 18%) với sự pha trộn có chủ đích thêm antimon (2,2%).
Về tổng thể, trống
Kính Hoa II có kích thước lớn, có thể được xếp vào nhóm những trống đồng Đông
Sơn có kích thước lớn nhất. Về hình dáng thân trống, trống Kính Hoa II có thân
thẳng, tuy nhiên, không thẳng hoàn toàn như trống thân thẳng ở nhóm A, B mà ở
phần tiếp giáp giữa thân và chân có một đoạn choãi khá mạnh làm cho cảm giác
thân được thu thót lại. Đặc điểm này giống với đặc điểm của thân trống nhóm C
và phase 2 theo cách phân loại của Imamura.
Về các hoạ tiết hoa
văn, ở chính tâm mặt trống là hoa văn mặt trời 12 tia, hoa văn này gặp ở hầu
hết các trống đồng (trừ nhóm trống D, nhóm Vạn Gia Bá hoặc Tiền Heger). Giữa
các cánh sao được trang trí xen kẽ bởi 2 hoạ tiết khác nhau gồm hoạ tiết các
đường chỉ nổi tạo thành hình nan quạt chụm lại ở đỉnh xen kẽ với các đường chỉ
nổi có hoạ tiết hình mỏ neo ở đỉnh (lông công). Phong cách trang trí xen kẽ
kiểu này thường gặp trong các trống nhóm B và các trống nhóm C. Với hệ thống
phân loại của Imamura thì phase 2 của loại hình Đông sơn mới có kiểu này.
Bảng
3. Thành phần hợp
kim trống đồng Kính Hoa II
(Nguồn: Cty TNHH một
thành viên Đồng vị phóng xạ)
|
Location [Vi trí]
|
ANALYSIS RESULTS
(%) Kết quả phân tích
|
Vị trí
|
|
Cu
|
Pb
|
Zn
|
Ti
|
Sn
|
Fe
|
V
|
Sb
|
|
1
|
24.7
|
32.5
|
8.44
|
14.7
|
1.14
|
6.62
|
8.14
|
2.46
|
mặt trống
|
|
2
|
43.72
|
15.69
|
8.43
|
12.49
|
1.34
|
5.84
|
7.25
|
2.66
|
mặt trống
|
|
3
|
44.98
|
26.77
|
4.7
|
10.34
|
1.26
|
2.97
|
5.58
|
2.43
|
mặt trống
|
|
4
|
49.13
|
22.73
|
5.38
|
9.84
|
1.01
|
2.4
|
5.81
|
2.25
|
mặt trống
|
|
7
|
40.59
|
30.34
|
4.69
|
10.92
|
1.18
|
3.38
|
5.33
|
2.76
|
mặt trống
|
|
8
|
16.7
|
7.4
|
23.63
|
22.04
|
3.52
|
8.36
|
13.79
|
0.945
|
Tang trống
|
|
9
|
36.91
|
47.64
|
0.21
|
0
|
12.8
|
0
|
0
|
0.308
|
Tang trống
|
|
10
|
20.88
|
22.48
|
14.49
|
16.32
|
0.82
|
8.23
|
10.66
|
2.92
|
Tang trống
|
|
11
|
18.16
|
16.83
|
19.23
|
19.37
|
0.93
|
3.66
|
13.97
|
3.63
|
Tang trống
|
|
12
|
30.84
|
15.42
|
13.43
|
17.07
|
1.06
|
3.82
|
10.78
|
3.88
|
Thân trống
|
|
13
|
42.74
|
26.88
|
5.08
|
9.02
|
1.05
|
4.24
|
5.26
|
3.18
|
Thân trống
|
|
14
|
21.23
|
25.56
|
12.53
|
19.35
|
0.48
|
4.88
|
11.04
|
1.71
|
Thân trống
|
|
16
|
35.43
|
27.96
|
7.04
|
11.77
|
0.85
|
4.9
|
6.89
|
2.74
|
Chân trống
|
|
24
|
36.48
|
43.89
|
0.19
|
0
|
17.42
|
0.6
|
0
|
0.368
|
Chân trống
|
|
17
|
18.37
|
32.4
|
10.31
|
14.59
|
0.83
|
8.8
|
9.19
|
3.13
|
Chân trống
|
|
25
|
30.33
|
11.98
|
13.07
|
19.46
|
6.87
|
4.12
|
10.77
|
0.635
|
Chân trống
|
|
19
|
73.86
|
22.15
|
0
|
0
|
1.24
|
0.3
|
0
|
2.38
|
Mặt - trong
|
|
20
|
79.39
|
17.03
|
0.22
|
0
|
0.61
|
0.29
|
0
|
1.83
|
Tang - trong
|
|
21
|
82.53
|
13.35
|
0
|
0
|
0.63
|
0.23
|
0
|
2.24
|
Thân - trong
|
|
22
|
69.22
|
18.93
|
1.68
|
3.45
|
1.24
|
0.67
|
0
|
2.22
|
Thân - trong
|
|
23
|
78.4
|
17.08
|
0.2
|
0
|
0.7
|
0.25
|
0
|
2.37
|
Chân – trong
|
|
5
|
13.62
|
10.34
|
12.55
|
18.83
|
18.97
|
13.62
|
10.07
|
0.264
|
Con kê
|
|
6
|
32.44
|
22.94
|
1.57
|
2.93
|
20.69
|
17.15
|
1.67
|
0.308
|
Con kê
|
|
18
|
13.78
|
63.17
|
0
|
0
|
10.98
|
11.19
|
0
|
0
|
Con kê
|
|
15
|
39.9
|
15.56
|
10.39
|
9.75
|
1.13
|
9.83
|
6.56
|
4.46
|
Quai trống
|
Băng hoa văn chính
trên mặt trống là băng người cách điệu dạng hoa văn cờ, đặc biệt còn có 4 ngôi
nhà sàn được trang trí đối xứng. Trên các trống đồng nhóm A thường là các hoạ
tiết tả thực như hình người, chim, thú. Riêng nhóm C, một trong những đặc trưng
nổi bật là hoa văn hình người được cách điệu dạng cờ. Có thể thấy rằng, băng
hoa văn chính của trống Kính Hoa II mang đặc trưng của hoa văn trống nhóm C như
trống Hữu Chung, Thành Vân, Phú Phương (Hình 5,6). Đặc điểm này giống
với trống Sao Vàng (trống LSb-3 của Bảo tàng Lịch sử). Băng hoa văn hình chim
cũng tương đồng với hoa văn hình chim trên trống nhóm C.
Phần lớn trống loại C
đã có tượng cóc ở trên mặt. Bên cạnh đó trống nhóm C có các loại hoa văn tả
cảnh sinh hoạt, hình thuyền… gợi nhắc lại phong cách trang trí trên trống nhóm
A nhưng đã được cách điệu cao độ. Trống Thành Vân, Đông Hòa, Làng Bèo (đều phát
hiện ở Thanh Hóa) không có tượng cóc trên mặt nhưng vẫn được xếp vào loại C do
có những đặc điểm hoa văn tương tự nhóm này (Phạm Huy Thông 1990; Bảo tàng tỉnh
Thanh Hóa 2013). Trống Kính Hoa II cũng không có tượng cóc, hoa văn trang trí
trên mặt và thân cũng được cách điệu cao giống như các trống Thành Vân, Làng
Bèo và Đông Hòa.
Hình 5. Trống đồng Thành Vân (Thanh Hóa) (Nguồn: Phạm Huy Thông 1990)
Hình 6. Trống đồng Hữu Chung (Hải Dương) (Nguồn: Phạm Huy Thông 1990)
Hoa văn hình thuyền
trên tang trống và hoa văn người hóa trang cách điệu dạng cờ trên thân trống
của trống Kính Hoa II rất giống với phong cách trang trí hoa văn trên trống Sao
Vàng (LSb 32960), trống Bá Thước (LSb 33202) là hai trống phát hiện ở Thanh Hóa
hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Hoa văn cách điệu này còn có thể
gặp trên trống đồng Hữu Chung (Hải Dương).
Qua những phân tích
đặc điểm về kiểu dáng và phong cách hoa văn của trống Kính Hoa II ở phần trên,
chúng tôi cho rằng trống đồng Kính Hoa II là trống đồng Đông Sơn loại Heger I.
Phân loại chi tiết hơn thì trống Kính Hoa II thuộc nhóm C-I theo phân loại của
các nhà khảo cổ học Việt Nam và tương ứng với phase 2a theo phân loại của nhà
khảo cổ học Nhật Bản.
4.2. Niên đại của
trống Kính Hoa và Kính Hoa II
Do không có bối cảnh
địa tầng cụ thể, cũng như không có mẫu hữu cơ để xác định C14, chúng ta chỉ có
thể dựa vào so sánh loại hình học về hoa văn, kiểu dáng để xác định niên đại
tương đối cho trống Kính Hoa và Kính Hoa II.
Trống Kính Hoa được xác
định thuộc loại I Heger, phân nhóm A2. Các trống nhóm A1-3 được xác định niên
đại tương đối sớm hơn so với niên đại 14C của mộ thuyền Việt
Khê, khoảng thế kỷ III trước Công nguyên (Phạm Minh Huyền và cộng sự 1987). Các
nhà nghiên cứu gần đây cho rằng niên đại xuất hiện trống đồng trong khoảng thế
kỷ III trước Công nguyên và đây có thể lấy làm mốc xác định niên đại của trống
đồng Kính Hoa.
Trên mặt và thân trống
đồng Kính Hoa II có những vành/băng hoa văn hình ô trám lồng. Đây là một loại
hoa văn đặc trưng thường xuất hiện trên gạch bìa đầu Công nguyên. Dạng hoa văn
hình trám lồng nối tiếp này cũng là hoa văn đặc trưng xuất hiện chủ yếu trên
các trống nhóm C. Nhóm A chỉ có trống Sông Đà và trống Miếu Môn II trong khi
nhóm B không có trống nào có trang trí vành/băng hoa văn hình trám lồng.
Theo Imamura thì những
chiếc trống thuộc phase 2a có thể xác định niên đại dựa vào gương đồng Tây Hán
phát hiện trong các mộ chum gỗ nắp trống đồng ở Phú Chánh, những chum mộ bằng
gỗ này đã được xác định niên đại 14C, cho niên đại xấp xỉ 2000
năm cách ngày nay.
Trống Kính Hoa II có
thể có niên đại trong khoảng thế kỷ I trước Công nguyên. Niên đại này khá phù
hợp khi so sánh với niên đại của trống Đa Bút phát hiện cùng một số hiện vật
đồng thời Hán hay niên đại 14C của tấm ván đặt trong trống
Kampong Sungailang (Phạm Minh Huyền và cộng sự 1987: 220).
5. Nhận dịnh chung
- Hai chiếc trống đồng
(Kính Hoa và Kính Hoa II) trong sưu tập được nghiên cứu là trống đồng Đông Sơn
thuộc loại Heger I. Các trống đều có kích thước nằm trong nhóm trống Đông Sơn
lớn nhất hiện biết, hình dáng hài hòa, cân đối. Trống Kính Hoa có thể xếp vào
phân nhóm A-II. Trống Kính Hoa II có thể được xếp vào những trống sớm nhất của
nhóm C-I khi có dáng trống gần giống các trống nhóm A nhưng hoa văn trang trí
đặc trưng nhóm C-I. Hình dáng và hoa văn của trống Kính Hoa có thể so sánh với
các trống Miếu Môn I, Pha Long; trống Kính Hoa II có thể được so sánh với các
trống khác trong nhóm C-I như trống đồng Thành Vân, Đông Hòa, Làng Bèo, Bá
Thước (Thanh Hóa), Hữu Chung (Hải Dương)…
Cả hai trống được
trang trí rất chi tiết với nhiều hoa văn phong phú ở mặt, tang và lưng trống.
Các hoa văn tả thực (hình người, nhà, thuyền, chim…) rất sinh động và ở trống
Kính Hoa là phong cách tả thực, ở trống Kính Hoa II đã được cách điệu khá cao.
- Niên đại trống Kính
Hoa khoảng thế kỷ III trước Công nguyên và trống Kính Hoa II vào khoảng thế kỷ
I trước Công nguyên.
- Sưu tập hai chiếc
trống đồng Kính Hoa và Kính Hoa II trống đồng Đông Sơn thuộc nhóm trống lớn,
hoa văn đẹp. Trống có giá trị văn hóa lịch sử và giá trị nghệ thuật cao. Trống
đồng Kính Hoa cùng nhiều hiện vật đồng phát hiện ở khu vực Lào Cai - Yên Bái từ
trước tới nay càng khẳng định khu vực này là một tung tâm lớn của văn hóa Đông
Sơn tương đương như trung tâm Cổ Loa thời Âu Lạc (Phạm Minh Huyền, Masanari
2011: 255). Trống đồng Kính Hoa II cùng hàng trăm chiếc trống đồng khác được
phát hiện ở lưu vực sông Mã cho thấy giá trị đặc biệt tiêu biểu của văn hóa
Đông Sơn văn minh Việt cổ ở khu vực này. Nó góp phần chứng minh quá trình cư
trú ổn định, lâu dài của người Việt cổ ở lưu vực sông Mã - một trung tâm lớn
thời văn hóa Đông Sơn.
- Trống đồng là hiện
vật tiêu biểu nhất của nền văn hóa Đông Sơn nên có sức hấp dẫn với nhiều nhà
nghiên cứu khoa học, Bảo tàng và các nhà sưu tầm tư nhân. Việc mở cửa cho hoạt
động của bảo tàng tư nhân những năm gần đây đã tận dụng được thêm nguồn
lực của xã hội cho sự phát triển giá trị di sản, giúp công chúng có thêm nhiều
cách tiếp cận tri thức, mở mang văn hóa và chia sẻ áp lực về đầu tư văn
hóa với Nhà nước. Do gắn liền với điều kiện và kế hoạch hoạt động của
riêng từng chủ nhân sưu tập nên họ phải nỗ lực, phát huy mọi giá trị của các
hiện vật đang nắm giữ đi liền với nuôi dưỡng đam mê với văn hóa dân tộc. Trống
đồng Kính Hoa được công nhận Bảo vật Quốc gia đã ghi nhận giá trị văn
hóa - lịch sử của hiện vật. Trống đồng Kính Hoa II đang được lập hồ sơ hiện vật
để đăng ký quản lý với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội cùng với
kế hoạch trưng bày phát huy giá trị các trống đồng của ông Nguyễn Văn Kính -
chủ nhân sưu tập - sẽ mang đến sự đa dạng cho các hoạt động trưng bày
và lưu giữ hiện vật tại Hà Nội theo đúng Luật Di sản Văn hóa.
TÀI LIỆU DẪN
BẢO TÀNG TỈNH THANH
HÓA 2013. Trống đồng Thanh Hóa. Nxb Khoa học Xã hội.
IMAMURA, K.
2010. The Distribution of Bronze Drums of Heger I and Pre-I
Types: Temporal Changes and Historical Background: 29-44.
NGUYỄN DUY HINH 1986.
Suy nghĩ quanh hai số đo cơ bản của trống đồng. Khảo cổ học, số 3:
23–70.
NGUYỄN THƠ ĐÌNH
2015. Nghiên cứu thực nghiệm đúc trống đồng tại Thanh Hoá theo phương
pháp truyền thống. Tư liệu Viện Khảo cổ học.
NGUYỄN THƠ ĐÌNH, LÊ
MINH ĐẠO 2016. Quai trống và các khối tượng được gắn lên trống đồng thế nào?
Trong Những phát hiện mới về khảo cổ học (NPHMVKCH) năm 2015:
209-211.
PHẠM HUY THÔNG
1990. Dong Son drums in Viet Nam. The Vietnam Social Sciences
Publishing House. Japan.
PHẠM MINH HUYỀN,
MASANARI, N. 2011. Sưu tập hiện vật chôn cùng với trống Đông Sơn phát hiện ở
thành phố Lào Cai, năm 1994-1995. Trong NPHMVKCH năm 2009:
251-255.
PHẠM MINH HUYỀN,
NGUYỄN VĂN HUYÊN, TRỊNH SINH 1987. Trống Đông Sơn. Nxb Khoa học
Xã hội.
TRỊNH SINH, NGUYỄN VĂN
KÍNH 2021a. Trống đồng Kính Hoa bảo vật Quốc gia Việt Nam. Nxb Thế
giới.
TRỊNH SINH, NGUYỄN VĂN
KÍNH 2021b. Trống Kính Hoa: Phân loại và định niên đại. Trong NPHMVKCH
năm 2020: 277-279.
BRONZE DRUM KÍNH HOA
II
BÙI VĂN LIÊM, NGUYỄN
THƠ ĐÌNH
This article refers
the research data from the two bronze drums (Kính Hoa và Kính Hoa II) of Heger
I type in Nguyễn Văn Kính’s private collection. Their sizes are among the
largest known Đông Sơn bronze drums, which are harmonious and balanced in
shape. The Kính Hoa drum can be classified into subgroups A-II, from about the
3rd BC century. The Kính Hoa II drum can be classified as one of the earliest
drums in the C-I group, from about the 1st BC century.
The opening of private
museums in recent years has taken advantage of more social resources for the
preservation and valorization of the cultural heritage values. With the
collection of bronze drums and the plan for a feasible preservation and display
to valorize the cultural heritage values, Nguyễn Văn Kính is very dedicated to
the preservation of the national cultural heritage. This private collection
also brings about the diversity for the activities of display and preservation
in Hà Nội in accordance with the Law on Cultural Heritage.