Vườn tháp chùa Vĩnh Nghiêm (Đức La)
Chùa Vĩnh Nghiêm còn có tên là chùa Đức La, thuộc thôn La, xã Trí Yên. Chùa nằm trên một quả đồi thấp, sau lưng là dãy núi Cô Tiên. Toàn bộ khu chùa chiếm gần 3 mẫu Bắc Bộ. Một phía chùa Đức La ngay sát bờ sông Lục, phía bên kia xa hơn một chút, dòng sông Thương chảy vòng tới, trước mặt chênh chếch đó là ngã ba Phượng Nhỡn, nơi sông Lục gặp sông Thương. Chính điện nhìn thẳng ra một bãi đất rộng, thoáng, trải ra tới sát bờ những tràn ruộng trũng, rồi tới thôn xóm xanh um tre lá. Trên sân chùa có một tấm bia đá lục lăng dựng trên bệ chạm cánh sen. Thân bia cao 1,18m, mỗi mặt bia rộng 0,32m, trang trí hình rồng. Bia dựng năm Hoằng Định thứ 7 (1606) nội dung ghi việc tu sửa chùa năm đó.
Anh-tin-bai
Chùa Vĩnh Nghiêm (Đức La) nhìn từ trên cao. Nguồn: VOV

Vườn tháp chùa Vĩnh Nghiêm được xây ở vườn rau phía trước chùa, thuộc góc bên trái. gồm 9 ngôi tháp gạch thuộc thời Nguyễn và hiện đại và 1 ngôi mộ. Nơi đây chứa di hài của các sư tăng từng trụ trì ở đây như Hòa thượng Phù Lãng Trung, sư Thanh Quýnh, sư Tâm Viên, sư Thanh Hanh. Các tháp có hướng cùng hướng với chùa. Các tháp được đặt xen kẽ nhau, hiện đã được kè thành các bậc, có độ cao chênh nhau không nhiều. Bậc cao nhất gồm các tháp 2, 3, 4, 5. Bậc 2 gồm tháp 1 và 9. Bậc cuối cùng ở phía trước, gồm các tháp 6, 7, 8. Trong đó, tháp 7 là tháp chính, được đặt ở vị trí đầu tiên và trung tâm trong vườn tháp. Các ngôi tháp thời Nguyễn đã bị xuống cấp nghiêm trọng, bong tróc mất lớp vữa trát trên bề mặt, phần trang trí trên các ô trống của tháp. Các đao mái và họa tiết trang trí gẫy vỡ. 

Tháp hiện đại: 2 tháp 1 tầng (tháp 1, tháp 2), 1 tháp 2 tầng (tháp 8).

Tháp Nguyễn: 5 tháp 2 tầng (tháp 3, 4, 5, 6, 7), 1 tháp 1 tầng (tháp 9).

Bảng  Thống kê tháp Phật Giáo tại vườn tháp chùa Vĩnh Nghiêm

(Nguồn: Mai Thùy Linh)

STT

Tháp

Niên đại

Số tầng

Chủ nhân

Nguyễn

Hiện đại

1

Tháp 1

x

1

2

Tháp 2

x

1

Thanh Quýnh (?) Viên Giác

3

Tháp 3

x

2

4

Tháp 4

x

2

Tâm Viên tỳ khưu bồ tát

5

Tháp 5

x

2

6

Tháp 6

x

2

7

Tháp 7

x

2

8

Tháp 8

x

2

9

Tháp 9

x

1

TỔNG

6

3

Tháp 1: Tháp mới xây bằng gạch hiện đại (Ba 8.2), có 1 tầng, để mộc, xây bằng gạch bìa và xi măng cát. Đế chỉ có 1 bậc. Bệ được tạo hình tu di tọa, giản lược, 4 mặt được tạo thành các ô trang trí hình chữ nhật, trát vữa trên bề mặt. Tầng tháp trổ 1 cửa tò vò, trong tạo thành khám thờ, có đặt bia khắc chữ Hán còn rõ nhưng thuộc kiểu chữ Triện Lệ nên chúng tôi chưa đọc được. Chân tầng tháp có đắp trang trí hoa văn dây cuốn. Mái tháp hình mui luyện, uốn cong, 4 góc tạo thành gờ nổi cao, uốn cong thanh thoát, kéo dài xuống thành đao mái, bề mặt được trát vữa. Diềm mái bên dưới được xây bằng các hàng gạch giật cấp, tạo độ loe rộng cho mái tháp. Chóp tháp gồm 2 phần; phía dưới có bình đồ hình vuông, ở giữa thắt ngẫng, mặt trên và dưới được tạo thành mặt phẳng để đặt bệ sen và đặt lên trên phần đệm của mái; phía trên hình bông sen có bình đồ hình tròn, nổi khối, lớp cánh ngoài cùng nở rộng, quay xuống dưới, búp sen bên trên gồm 3 lớp cánh đan xen nhau.

Tháp 2: Có cấu trúc tương tự như tháp 1 nhưng cũ hơn. Tháp mới xây bằng gạch hiện đại, có 1 tầng, chóp hình búp sen. Ba mặt của tầng tháp tạo thành các ô trang trí hình chữ nhật, bề mặt trát vữa, trong vẽ hoa văn kiểu chữ Hán và chữ Phạn cách điệu, do không được tô màu nên rất khó nhìn. Trong lòng khám thờ có gắn bài vị bằng đá, có khắc chữ Hán, xung quanh vẽ hoa văn trang trí, tô 2 màu trắng, đỏ. Đây là bài vị của ngôi tháp cũ trước đây, được sử dụng khi dựng lại tháp. Bài vị khắc “Túc duyên ư Thái Bình xứ Xương Thư trì khuông Lâm Hữu Lộc, sinh Canh Tuất, hưởng thọ ngũ thập bát tuế, nam mô Vĩnh Nghiêm đương gia Quang Lộc sa môn Thanh Quýnh (?) Viên Giác linh thiền tọa hạ ? ? ư Thành Thái thập cửu niên nhị nguyệt sơ nhất nhật vãng sinh Tây Phương cực lạc”.

Tháp 3: Tháp 2 tầng, xây bằng gạch bìa. Gạch bị bong tróc, mủn. Cấu trúc tháp 3 và tháp 4 tương tự nhau. Tầng 1 có khám thờ, trong có gắn bài vị bằng đá. Bài vị khắc “? ? tháp bảo chư giác linh thiền tọa hạ” (Tháp thờ nhiều vị sư - vậy đây có thể là tháp tưởng niệm các sư đã quá cố hay được chôn nhiều người như tháp ở chùa Kem, điều này cần được nghiên cứu thêm). Ba mặt còn lại của tầng 1 tạo thành các ô hình chữ nhật, để trống. Bốn mặt của tầng 2 tạo thành các ô hình chữ nhật, bề mặt trát vữa nhưng đã bị bong tróc gần hết nên không biết có được viết chữ hay không. Mái tháp hình mui luyện, uốn cong, 4 góc tạo thành gờ nổi cao, uốn cong thanh thoát, kéo dài xuống thành đao mái, bề mặt được trát vữa. Đao mái bên trái phía trước đã bị gẫy, mới được đắp lại bằng xi măng cát. Diềm mái bên dưới được xây bằng các hàng gạch giật cấp, tạo độ loe rộng cho mái tháp. Chóp tháp gồm 3 phần; phía dưới có bình đồ hình vuông, ở giữa thắt ngẫng, mặt trên và dưới được tạo thành mặt phẳng để đặt bệ sen và đặt lên trên phần đệm của mái, bên trên được đắp thêm, cạnh hơi vát khiên chóp tháp cao và thanh thoát hơn; tiếp theo là phần bệ sen có bình đồ hình tròn, tạc theo lối nhìn chính diện gồm 2 lớp cánh đan xen nhau, nổi khối; trên cùng là bình hồ lô.

Tháp 4: Tháp 2 tầng, xây bằng gạch bìa. Tháp bị sụt lún nghiêm trọng, nghiêng sang bên trái. Gạch bị bong tróc, mủn. Mái tháp bị vỡ nhiều, cây cỏ mọc trên các khe nứt. Đế xây bằng gạch vuông, phần còn lại xây bằng gạch bìa. Tầng 1 có khám thờ, trong có gắn bài vị bằng đá, xung quanh vẽ hoa văn trang trí, tô 2 màu trắng, đen. Bài vị ghi “Nam mô Tịch ? bản sư sa môn Tâm Viên tỳ khưu bồ tát thiền tọa hạ” dòng chữ nhỏ bên phaair rất khó đọc, dòng chữ bên trái đọc được “... tăng ... tứ thập lục Kỷ ? niên nhị nguyệt thập ngũ nhật”. Chân bài vị có khắc chìm họa tiết văn mây và bệ sen hình tai. Hai diềm bài vị khắc chìm họa tiết hoa sen, hoa cúc. Ba mặt còn lại của tầng 1 tạo thành các ô hình chữ nhật, trang trí phù điêu hoa lá, 2 mặt bên đắp phù điêu cây tùng, mặt lưng đắp hình hoa sen. Do vữa bị bong tróc nên các họa tiếp không còn rõ nhưng vẫn có thể đoán định được motip hoa văn. Hoa sen được thể hiện là 1 đầm sen, có sóng nước, các lá sen, bông sen (có bông đang nở, có bông hơi hé nở, nụ sen hoặc đài sen) với nhiều góc độ, mềm mại. Tùng được thể hiện với dáng cây cổ thụ, gốc to, sù sì, thân cành uốn lượn như hình rồng đang bay. Bốn mặt của tầng 2 tạo thành các ô hình chữ nhật, bề mặt trát vữa, trong viết 3 chữ ở mỗi ô, trước được tô màu đen. Mặt trước có viết tên tháp, kiểu chữ triện, mờ nên không đọc được, 3 mặt còn lại có viết chữ nhưng rất mờ, chỉ còn lại dấu vết, không đọc được. Mái tháp hình mui luyện, uốn cong, 4 góc tạo thành gờ nổi cao, uốn cong thanh thoát, kéo dài xuống thành đao mái, bề mặt được trát vữa. Đao mái đã bị gẫy, mới được đắp lại bằng xi măng cát. Diềm mái bên dưới được xây bằng các hàng gạch giật cấp, tạo độ loe rộng cho mái tháp. Chóp tháp gồm 3 phần; phía dưới có bình đồ hình vuông, ở giữa thắt ngẫng, mặt trên và dưới được tạo thành mặt phẳng để đặt bệ sen và đặt lên trên phần đệm của mái; tiếp theo là phần bệ sen có bình đồ hình tròn, tạc theo lối nhìn chính diện gồm 2 lớp cánh đan xen nhau, nổi khối; trên cùng là bình hồ lô.

Tháp 5: Tháp có 2 tầng, cấu trúc tương tự tháp 3. Bề mặt bị bào mòn nhiều, gạch mủn. Tầng 1 trổ 1 cửa tò vò, trong tạo thành khám thờ. Tầng 1 có khám thờ, trong có gắn bài vị bằng đá, trên khắc chữ Hán nhưng được khắc theo chữ Triện, lại khắc dày nên các nét chữ liền nhau, hiện chúng tôi chưa đọc được. Chữ trên tầng 2 ở 4 mặt bị bong tróc gần hết, không đọc được.

Tháp 6: Tháp 2 tầng, xây bằng gạch bìa, bị xuống cấp nghiêm trọng. Gạch bị bong tróc, mủn. Tầng 1 có khám thờ, nhỏ hẹp. Ba mặt còn lại của tầng 1 tạo thành các ô hình chữ nhật, để trống. Bốn mặt của tầng 2 tạo thành các ô hình chữ nhật, bề mặt trát vữa, có viết chữ, mặt sau còn dấu vết của 3 chữ Hán màu đen nhưng đã bị bong tróc gần hết nên không đọc được. Mái tháp hình mui luyện, uốn cong, 4 góc tạo thành gờ nổi cao, uốn cong thanh thoát, kéo dài xuống thành đao mái, bề mặt được trát vữa. Đao mái bên trái đã bị gẫy. Diềm mái bên dưới được xây bằng các hàng gạch giật cấp, tạo độ loe rộng cho mái tháp. Chóp tháp gồm 2 phần; phía dưới có bình đồ hình vuông, ở giữa thắt ngẫng, mặt trên và dưới được tạo thành mặt phẳng để đặt bệ sen và đặt lên trên phần đệm của mái; tiếp theo là phần búp sen có bình đồ hình tròn gồm 3 lớp cánh đan xen nhau, nổi khối.

Tháp 7: Tháp 2 tầng, xây bằng gạch bìa hiện đại, để mộc, mạch xi măng cát, có lan can bao quanh, chất lượng tháp còn tương đối tốt. Lan can rộng 4,7m, cao 60cm, mặt trước có cửa ra vào, gắn chấn song con tiện, 3 mặt còn lại xây kín. Tầng 1 có khám thờ, trong lòng khám thờ có gắn bài vị bằng đá xanh, diềm trang trí văn hoa lá. Mặt lưng của tầng 1 tạo thành ô hình chữ nhật, bề mặt trát vữa, viết chữ màu đen. Bốn mặt của tầng 2 tạo thành các ô hình chữ nhật, bề mặt trát vữa, trong viết 3 chữ ở mỗi ô, trước được tô màu đen. Mặt trước có viết tên tháp “Tịch Tĩnh tháp”, 3 mặt còn chữ viết còn rõ nhưng thuộc kiểu chữ Triện Lệ nên chúng tôi chưa đọc được. Mái tháp hình mui luyện, uốn cong, 4 góc tạo thành gờ nổi cao, uốn cong thanh thoát, kéo dài xuống thành đao mái, bề mặt được trát vữa. Chóp tháp gồm 2 phần; phía dưới có bình đồ hình vuông, ở giữa thắt ngẫng, mặt trên và dưới được tạo thành mặt phẳng để đặt búp sen và đặt lên trên phần đệm của mái; tiếp theo là phần búp sen có bình đồ hình tròn gồm 3 lớp cánh đan xen nhau, nổi khối.

Tháp 8: Tháp 2 tầng, xây bằng gạch bìa hiện đại, để mộc, mạch xi măng cát, có lan can bao quanh giống tháp 7. Tầng 1 có khám thờ, trong lòng khám thờ có gắn bài vị bằng đá màu đen, còn rõ nhưng thuộc kiểu chữ Triện Lệ nên chúng tôi chưa đọc được. Ba của tầng 1 và các mặt tầng 2 tạo thành ô hình chữ nhật, không trang trí. Chân tầng 1 tạo thành hoa văn hình học giống tháp 1 và tháp 2. Mái tháp hình mui luyện, uốn cong, 4 góc tạo thành gờ nổi cao, uốn cong thanh thoát, kéo dài xuống thành đao mái, bề mặt được trát vữa. Đao mái được tạo thành hình dây lá cách điệu khiến mái tháp thêm thanh thoát. Chóp tháp gồm 2 phần; phía dưới có bình đồ hình vuông, ở giữa thắt ngẫng, mặt trên và dưới được tạo thành mặt phẳng để đặt búp sen và đặt lên trên phần đệm của mái; tiếp theo là phần búp sen có bình đồ hình tròn gồm 3 lớp cánh đan xen nhau, nổi khối, bên dưới búp sen được tạo hình như một lớp cánh sen tỏa rộng ra xung quanh.

Tháp 9: Tháp có 1 tầng, để mộc, xây bằng gạch bìa và vôi vữa (B. Bệ được tạo hình tu di tọa giản lược, 4 mặt được tạo thành các ô trang trí hình chữ nhật, trát vữa trên bề mặt. Tầng tháp trổ 1 cửa tò vò. Mái tháp hình mui luyện, uốn cong, 4 góc tạo thành gờ nổi cao, uốn cong thanh thoát, kéo dài xuống thành đao mái, bề mặt được trát vữa. Diềm mái bên dưới được xây bằng các hàng gạch giật cấp, tạo độ loe rộng cho mái tháp. Chóp tháp gồm 2 phần; phía dưới có bình đồ hình vuông, ở giữa thắt ngẫng, mặt trên và dưới được tạo thành mặt phẳng để đặt bệ sen và đặt lên trên phần đệm của mái; phía trên hình bông sen có bình đồ hình tròn, nổi khối, lớp cánh ngoài cùng nở rộng, quay xuống dưới, búp sen bên trên gồm 3 lớp cánh đan xen nhau.

Mai Thùy Linh
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Khảo cổ học
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1