Tóm tắt: Nguyễn Dữ là tác giả của Truyền kỳ mạn lục – tác phẩm được mệnh danh là “thiên cổ tùy bút”. Với trách nhiệm của một trí thức Nho học, dù chọn con đường ở ẩn, nhưng Nguyễn Dữ không bàng quan trước những vấn đề cấp bách đang được đặt ra của xã hội Việt Nam thế kỷ XVI, như vấn đề thời cuộc, nhân sinh. Ông trăn trở về nguyên nhân khiến xã hội loạn lạc, các giá trị đạo đức bị băng hoại; cái ác xuất hiện dưới nhiều hình thức, thậm chí ngày càng trở nên phổ biến. Xuất phát từ quan điểm của Nho giáo, Nguyễn Dữ cho rằng con người là một thực thể đạo đức phân biệt với muôn loài vì được trời phú bẩm cho tính thiện. Vậy tại sao trong xã hội lại tồn tại cái ác? Nguồn gốc của nó từ đâu? Và làm thế nào để diệt trừ cái ác? Trong bài viết này, tác giả luận giải để làm rõ quan điểm của Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục về: (1) Nguồn gốc của cái ác; (2) Sự biểu hiện của cái ác; (3) Các hình thức trừng phạt cái ác.
Từ khóa: Cái ác, trừng phạt, Truyền kỳ mạn lục, Nguyễn Dữ.
Nguyễn
Dữ là một trí thức Nho học tiêu biểu của Việt Nam thế kỷ XVI. Ông là tác giả
của Truyền kỳ mạn lục – tác phẩm được mệnh danh là “thiên cổ tùy bút”. Tác phẩm
không chỉ có giá trị trên phương diện nghệ thuật, mà còn bao chứa những nội
dung tư tưởng phong phú, sâu sắc, có sức mạnh cảm hóa, chinh phục nhân tâm các
thế hệ người Việt Nam bởi triết lý mang đậm phong cách tư duy của người Việt.
Các
truyện trong Truyền kỳ mạn lục đều được viết bằng văn xuôi, xen lẫn văn biền
ngẫu và thơ ca. Tập truyện chứa đựng nhiều yếu tố thần linh ma quái mang tính
chất siêu nhiên, hoang đường, trái với truyền thống bất ngữ “quái, lực, loạn,
thần” của Nho gia, nhưng lại được Nguyễn Dữ hư cấu trong các truyện nhằm phản
ánh hiện thực xã hội đương thời. Đó là chế độ chính trị hủ bại của giai cấp
phong kiến suy thoái với những tên bạo chúa, tham quan nhũng lại, đồi phong bại
tục; nhân dân rơi vào cảnh đói khổ, lầm than; trật tự xã hội bị đảo lộn.
Với
trách nhiệm của một trí thức Nho học, dù chọn con đường ở ẩn, nhưng Nguyễn Dữ
không bàng quan trước những vấn đề cấp bách đang được đặt ra về thời cuộc, về
nhân sinh của xã hội đương thời. Điều đó được thể hiện một cách sâu sắc trong
những lời bình của tác giả ở cuối mỗi truyện trong Truyền kỳ mạn lục. Ông trăn
trở về nguyên nhân khiến xã hội loạn lạc, các giá trị đạo đức bị băng hoại,
nhân tâm mất phương hướng và lệch chuẩn luân thường đạo lý; cái ác xuất hiện
dưới nhiều hình thức, thậm chí ngày càng trở nên phổ biến. Xuất phát từ quan
điểm của Nho giáo, Nguyễn Dữ cho rằng, con người là một thực thể đạo đức phân
biệt với muôn loài vì được trời phú bẩm cho tính thiện. Vậy tại sao trong xã
hội lại tồn tại cái ác? Nguồn gốc của nó từ đâu? Và làm thế nào để diệt trừ cái
ác? Trong Truyền kỳ mạn lục, bằng cách dẫn truyện tinh tế, Nguyễn Dữ cố gắng đi
tìm lời giải đáp cho các vấn đề nêu trên.
1. Nguồn gốc của cái ác
Thiện
và ác là những phạm trù đạo đức, trong đó thể hiện sự đánh giá về mặt đạo đức
hành vi của con người, cũng như hiện tượng xã hội theo quan điểm giai cấp nhất
định. Thiện được hiểu là cái mà xã hội coi là hợp đạo đức, đáng noi theo. Ác có
ý nghĩa ngược lại: Phi đạo đức, đáng lên án. Theo lý luận đạo đức của I.Kant,
thiện là cái phù hợp với những mệnh lệnh của quy tắc đạo đức nằm trong mỗi thực
thể có lý tính và không lệ thuộc vào những điều kiện mà con người sinh sống
trong đó [Xem: 5, tr.545]. Đạo đức học mácxít cho rằng, hành vi của con người
có thể được đánh giá là thiện hay là ác tùy theo hành vi đó thúc đẩy hoặc ngăn
trở việc thỏa mãn những nhu cầu lịch sử của xã hội nói chung và lợi ích của
giai cấp tiến bộ thể hiện những nhu cầu đó [Xem: 5, tr.546].
Nguyễn
Dữ là một người trưởng thành từ “cửa Khổng sân Trình”. Do đó, về cơ bản, ông đi
tìm nguồn gốc xuất hiện cái ác theo quan điểm Nho giáo. Ông đặt xuất phát điểm
từ con người, lấy bản tính con người làm gốc để tư duy, luận giải về cái ác.
Nguyễn
Dữ kế thừa tư tưởng về “thiên lý”, “nhân dục” của các nhà triết học Tống Nho và
trực tiếp từ thầy mình là Nguyễn Bỉnh Khiêm trong quan niệm về tính. Họ cùng
thống nhất với nhau ở điểm coi con người được trời phú tính cho, tính là lý.
“Nhân, lễ, nghĩa, trí đó là tính vậy. Tính không có hình ảnh nên không thể chạm
được; trong nó chỉ có lý. Chỉ có Tình là nhìn thấy được, đó là lòng trắc ẩn,
lòng từ nhượng, và phân biệt thị phi” [3, tr.619]. Nhưng trong thực tế hành
động của mình, cái tính được biểu hiện thông qua tình, nên nó chịu sự chi phối
của ngoại vật và “đường lối của nó thì khúc khuỷu tùy theo vật” [3, tr.618].
Chu Hy ví: “Tính đứng yên như sự yên tĩnh của nước; tình thi hành như sự xao
động của nước. Lòng dục là cái làm cho nước chảy đến mức tràn bờ” [3, tr.618].
Nguyễn Bỉnh Khiêm viết: “Xét lẽ, con người ta tính vốn là thiện, do bị câu thúc
vào khí chất bẩm thụ, bị che lấp vì vật dục, hoặc có người không bảo toàn được
cái tính ban đầu; [vì thế], kiêu căng, bỉ lận, tà vạy, thiên lệch… không điều
gì không làm” [4, tr.123]. Tiếp tục quan điểm đó, Nguyễn Dữ cho rằng, con người
sinh ra là thiện bởi con người được trời phú bẩm cho “thiên lý”: “Trời, đất gây
dựng, chia ra hình âm đục dương trong,/ Dân vật bẩm sinh, khác ở chỗ duyên lành
nghiệp dữ./ Biết bao sự trạng,/ Khôn xiết kể bày./ Bởi trời lấy lý phú cho con
người, sao được người đều hiền thánh,/ Người đem mình noi theo tính, khỏi đâu
tính hoặc sáng mờ./ Cho nên thiên lệch có người,/ Hư tồi lắm kẻ” [1,
tr.209-210]. Như vậy, theo ông, con người là chủ thể mang tính thiện tiên
thiên. Nhưng mặt khác, con người được cấu tạo từ khí chất, do đó còn chịu sự
chi phối của nó thông qua các giác quan. Nó cũng là nguồn gốc của dục vọng con
người. Các nhà nho gọi “nhân dục” với ý nghĩa đối lập với “thiên lý”.
Theo
các nhà triết học Tống Nho, sự khác nhau của con người là do sự bẩm thụ khí
chất trong đục khác nhau. Nguyễn Dữ đồng tình với quan điểm đó khi cho rằng
không phải ai cũng trở thành hiền thánh, trong xã hội cũng luôn tồn tại nhiều
kẻ hư tồi. Như vậy, ở con người với tư cách một thực thể đạo đức, ngoài tính
thiện trời phú cho, còn có cả tính bản năng động vật. Luận điểm này được Nguyễn
Dữ thể hiện trong nhận định con người là loài chim thiêng nhất trong vạn vật.
Cái phân biệt con người với con vật chính là ở tính người, tính đạo đức. Chỉ
khi con người xa rời tính đạo đức đó khiến cho “tâm thuật không chính” thì sẽ
bị dục vọng, mê lạc quyến rũ, lôi kéo và sa ngã. Do đó, ông nói: “Thanh lòng
không bằng ít dục, dục nếu yên lặng thì lòng trống rỗng mà điều thiện sẽ vào, khí
bằng phẳng mà cái lý sẽ thắng, tà quỷ còn đến quấy nhiễu làm sao được” [1,
tr.72-73].
Ông
nhấn mạnh sức tàn phá của nhân dục đối với cái thiện khi con người không được
định hướng hành động bởi sự chỉ dẫn của lương tri hay tính thiện ban đầu. Vì
thế, một khi “lòng dục thả ra thì khe ngòi không đủ lấp, thói ác giở ra thì hùm
sói chưa là dữ. Hễ lợi mình được, dù tấm áo mảnh giấy cũng không từ, hễ no lòng
được, dù ống dập chậu vỡ cũng không thẹn. Hì hục đi tìm chai lọ, hăm hở đi kiếm
cơm cháo. Gieo rắc tai vạ, trộm quyền của Hóa công, kêu nóc dòm buồng, rối lòng
của dân chúng” [1, tr.247].
Tuy
nhiên, dù kế thừa và tiếp thu các quan điểm của Tống Nho về Tính, thiên lý,
nhân dục, song ở Nguyễn Dữ, con người còn có quyền lựa chọn hành động của mình
tùy thuộc vào hoàn cảnh và thông qua rèn luyện bản thân: “Chao ôi! Nước sông
Thương Lương, trong thì để rửa mũ, đục thì để rửa chân, đều do tự mình cả đó
thôi” [1, tr.193]. Đây cũng là lý do mà trong bối cảnh hỗn loạn đương thời,
Nguyễn Dữ đã chọn con đường ở ẩn, không ra làm quan theo tinh thần “giữ trong
lánh đục”.
Như đã
trình bày ở trên, con người vốn thiện nhưng khi bị chi phối và mất kiểm soát
trước những dục vọng cá nhân thì hệ quả tất yếu dẫn đến sự tha hóa, xói mòn về
mặt đạo đức và làm nảy sinh cái ác trong xã hội. Nho giáo là học thuyết hướng
con người tới hành động thiện thông qua hệ thống nguyên tắc, chuẩn mực xã hội
với đạo lý luân thường. Nó ràng buộc con người trong các mối quan hệ vua tôi,
cha con, vợ chồng, thầy trò, bạn bè. Ở cả năm phương diện này, theo nhận định
của Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục, đều bị phá vỡ và rạn nứt nghiêm trọng.
Thực tế đó phản ánh sự khủng hoảng ý thức hệ độc tôn Nho giáo trong khi chưa có
một hệ tư tưởng nào đủ mạnh để thay thế. Con người rơi vào tình trạng mất
phương hướng khi chưa có một chuẩn và nguyên tắc hành vi để làm phương châm
sống với chính mình và người khác.
Như
vậy, đứng từ góc độ học thuyết tính thiện của Mạnh Tử, sau nữa là Tống Nho, bản
tính người thiện nhưng do dục vọng lôi kéo nên tham lam vật chất, ham mê sắc
dục, từ đó, tạo tác ra hành động ác. Nguồn gốc của nó, do sự bẩm thụ khí mang
tính vật chất của thể xác khiến cho con người xa rời và lãng quên các giá trị
đạo đức Nho giáo. Vì thế, một khi dục vọng không được kiềm tỏa, nó sẽ lấn sâu
vào hành vi của từng thành viên xã hội và cấu thành một xã hội bất thiện.
2. Những biểu hiện của cái ác trong Truyền kỳ mạn lục
Cuộc
đời Nguyễn Dữ đã trải qua những biến cố lớn của dân tộc trong thế kỷ XVI. Ông
chứng kiến rất nhiều sự kiện “vật đổi sao dời” làm xã hội biến loạn, khiến các
giá trị tinh thần cũng đảo lộn khôn lường. Đó là sự đứt gãy của chế độ phong
kiến, dẫn đến những cuộc nội chiến đẫm máu giữa các tập đoàn thống trị và các
cuộc nổi dậy của nhân dân bần cùng. Các giá trị đạo đức như trung, nghĩa, lễ,
trí, tín trong các quan hệ rường cột của xã hội đều chịu những chấn động mạnh
mẽ của diễn biến lịch sử. Chính trong bối cảnh chính trị - xã hội, văn hóa -
đạo đức phức tạp đó, Nguyễn Dữ đã hình thành một phương thế đặc biệt trong suy
ngẫm và kiểm nghiệm lại những chân giá trị tinh thần của thời đại ông để làm
lăng kính nhìn nhận thực trạng xã hội và khái quát nên những hình thức biểu
hiện của cái ác. Đối với nhà nho, “việc sa vào lợi ích riêng tư và vì thế mà
không thực hiện danh phận xã hội [của mình] chính là điều ác, vi phạm vào nội
dung và mục đích của chính trị (đức trị - V.T.T) là khởi đầu của tội lỗi. Vì
thế, có thể nói rằng cái ác và tội lỗi bắt nguồn từ việc không thực hiện đúng
đắn danh phận xã hội” [6, tr.80]. Do đó, biểu hiện của cái ác, theo Nguyễn Dữ,
là những hành động làm ác của con người như tham lam của cải vật chất, sẵn sàng
chà đạp lên lợi ích và mạng sống của người khác; bất chấp thủ đoạn và luân lý
vì đam mê sắc dục, không thực hiện một cách chính đúng với vị trí và chức phận
của mình. Ở đó, vua chúa không còn là vua hiền sáng, thiếu lòng nhân ái, thương
dân theo đạo thuần vương, thậm chí còn vi phạm đường lối đức trị mà thánh nhân
đã dạy. Theo ông, vua “nói thường dối trá, tính nhiều tham dục, đem hết sức dân
để dựng cung Kim Âu, dốc cạn của kho để mở phố Hoa Nhai; phao phí gấm là, vung
vãi châu ngọc, dối trá, dùng vàng như cỏ rác, tiêu tiền như đất bùn, hình ngục
có của đút là xong, quan chức có tiền mua là được, kẻ dâng lời ngay thì giết,
kẻ nói điều nịnh thì thưởng; lòng dân động lay, nên đã xảy việc quân sông Đáy,
cõi bờ chếch mếch, nên đã mất dải đất Cổ Lâu. Vậy mà các kẻ đình thần trên dưới
theo hùa, trước sau nối vết” [1, tr.159]. Mặc dù Nguyễn Dữ ám chỉ nhà Hồ trong
“Câu chuyện đối đáp của người tiều phu núi Na”, nhưng qua đó, ông đề cập đến
bối cảnh lịch sử đương thời với những ông vua tha hóa cùng sự lũng đoạn của
quan lại nhà Mạc. Nguyễn Dữ cho rằng: “Kẻ làm vua chúa nên lấy sự chính lòng
mình để làm cái gốc, chính triều đình, chính trăm quan, chính muôn dân, đừng để
cho kẻ xử sĩ phải bàn ra nói vào là tốt hơn cả” [1, tr.161].
Hình
thức biểu hiện của cái ác trong tầng lớp quan lại đương thời được Nguyễn Dữ
khắc họa với tính đa dạng của sự tha hóa, sự vượt trội của lòng tham, sự đố kỵ,
tranh giành quyền lực. Một số người “có lượng nhưng chậm chạp”, “có học nhưng
lờ mờ”, “giỏi mưu tính nhưng không quyết đoán”, “quân tử nhưng chưa được là bậc
nhân”; còn lại là đồ tham tiền, “tránh kẻ quyền hào, gác bút không dám xét xử”,
nát rượu, chỉ lấy yên vui làm thích, lấy vị thế mà khuynh loát nhau; chứ chưa
thấy ai “biết những kế lạ mưu sâu để lo tính cho dân chúng” [1, tr.159], có
chức quyền lớn cướp vợ của dân thường như quan họ Thân trong “Truyện nàng Túy
Tiêu”. Tất cả những hành động đó đều trái với chuẩn mực của người làm quan, đi
ngược với những tiêu chí chăm sóc dân, an dân của người được coi là phụ mẫu của
dân. Lúc này, cái sai khiến và điều chỉnh hành vi con người không còn là những
chuẩn mực đạo đức mà đã bị thay thế bởi dục vọng cá nhân.
Tầng
lớp trí thức Nho học cũng không nằm ngoài sự ăn mòn đạo đức đang diễn ra đương
thời, bởi “ngày nay những người mặc áo nhà nho, đeo dải nhà nho thì lại khác
hẳn. Họ thường đổi họ để đi học, thay tên để ra thi, hễ trượt đỗ thì đổ lỗi mờ
quáng cho quan chấm trường, hơi thành danh thì hợm mình tài giỏi hơn cả tiền
bối, chí khí ngông ngáo, tính tình tráo trở, thấy thầy nghèo thì lảng tránh,
gặp bạn nghèo thì làm ngơ, không biết rằng ngày thường dẫn dắt rèn cặp, phần
nhiều là cái công đức của thầy, bạn” [1, tr.130].
Bên
cạnh đó, Nguyễn Dữ vạch trần bản chất của tầng lớp người buôn bán “phần nhiều
là giảo quyệt, đừng nên chơi thân với họ; ban đầu tuy họ thả cho mình được,
nhưng rồi họ sẽ vét hết của mình” [1, tr.129]. Họ còn là những người có tiền
nhưng đời sống ham mê sắc dục, như Trình Trung Ngộ trong “Truyện cây gạo” bị
quyến rũ bởi ma nữ Nhị Khanh, sau khi chết, cứ “phàm đêm tối trời, người ta
thấy hai người dắt tay nhau đi đôi, khi thì hát, khi thì khóc; thường bắt người
ta phải khấn cầu lễ bái, hễ hơi không được như ý thì làm tai làm vạ” [1,
tr.42], hay người lái buôn họ Đỗ trong “Truyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu”
dùng tiền để lừa cướp vợ người khác.
Nguyễn
Dữ đi từ những biểu hiện cái ác của các tầng lớp trong xã hội đến sự tha hóa
đạo đức trong phạm vi gia đình, ông nhấn mạnh mối quan hệ vợ chồng bị phá vỡ
khi người chồng vì ham mê cờ bạc, thua bạc nên bán vợ cho người khác như Trọng
Quỳ trong “Truyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu”. Hay vì sự ghen tuông, vô minh
mà đẩy vợ mình tìm đến cái chết để chứng minh tiết hạnh như trường hợp “Người
con gái Nam Xương”.
Hơn
thế, cái ác còn được biểu hiện ở sự hỗn loạn các giá trị đạo đức dưới hình thức
thế giới yêu ma tồn tại song hành, trà trộn, quấy phá, mê hoặc con người. Trước
hết, đó là ma quỷ đói khát trong “Truyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều”:
Chúng rủ nhau “quấy nhiễu dân chúng, họa hại cả đến loài lục súc”; cứ nửa đêm
xuất hiện “thò tay khoắng xuống một cái ao, rồi bất cứ vớ được cá lớn, cá nhỏ
đều bỏ vào mồm nhai nuốt hết” [1, tr.166]. Đó còn là các yêu nữ không đoan
chính sau khi chết “tác quái, biến huyễn đủ vẻ, hoặc nhập vào chị ả buôn tương,
hoặc ốp vào cô nàng bán rượu, người có vai vế thì bị dâm sát, người có tiền thì
bị bóc lột, suốt một dải đường mười dặm, người ta đều phải đi trưa về sớm” [1,
tr.136]. Khi xác lập thế giới yêu ma quyến rũ con người như vậy, Nguyễn Dữ đã
mượn lời của Diêm Vương trong phiên xét xử “Truyện yêu quái ở Xương Giang” để
đưa ra cảnh báo đối với những người “theo đòi Nho học, đọc sách thánh hiền,
trải xem những sự tích xưa nay, há không biết lời răn sắc đẹp, cớ sao lại đi
vào con đường ấy […]. Bỏ nết cương cường, theo đường tà dục, giảm thọ một kỷ”
[1, tr.144].
Với nhà
nho Nguyễn Dữ, các yếu tố ma quỷ thường xa lạ, nhưng ông đã sử dụng với chủ ý
lột tả bức tranh cái ác hoành hành và ăn mòn trên toàn xã hội. Sợi dây kết nối
“ái nhân” giữa con người với nhau dưới sự mô tả của Nguyễn Dữ gần như không
còn. Cái thiện được ông nhắc đến trong các truyện, nhưng điểm nhấn vẫn là những
gam màu tối với sự hiện diện của cái ác. Sự đan xen giữa người và ma quỷ - ẩn
dụ khía cạnh dục vọng của con người trên cùng một bình diện trần thế phản ánh
một xã hội hỗn loạn, phức tạp giữa cái thiện và cái ác; con người phải thường
xuyên đối diện với cái ác, với dục vọng của chính mình. Nó điều khiển hành động
của con người đến việc làm tội lỗi, sai trái khi làm mất sự chính tâm, chính
đúng theo các giá trị đạo đức Nho giáo. Do đó, Nguyễn Dữ cho rằng, cái đáng lo
không phải là sự quấy phá của ma quỷ mà chính là sự không kiểm soát được dục
vọng của con người [Xem: 1, tr.44].
Như
vậy, có thể nói, Nguyễn Dữ đã cho chúng ta thấy diện mạo của xã hội đương thời
thế kỷ XVI với những biểu hiện của cái ác xuất phát từ khía cạnh dục vọng của
con người. Ở đó có sự trỗi dậy của lòng tham vật chất, sự đam mê sắc dục, sự
lãng quên các giá trị đạo đức Nho giáo vốn là nguyên tắc sống và kim chỉ nam
cho hành động của mỗi cá nhân. Vậy, cần làm gì để con người thực hiện điều
thiện? Để trả lời cho câu hỏi này, Nguyễn Dữ đã đưa ra các hình thức trừng phạt
cái ác mang tính răn đe theo cách riêng, độc đáo của ông.
3. Các hình thức trừng phạt cái ác
Nguyễn
Dữ là một trí thức Nho học, do vậy, ông thấm nhuần chủ trương đức trị với tư
cách nguyên lý cơ bản duy trì trật tự và hài hòa xã hội của Nho giáo. Tinh thần
vốn có của nó “nằm trong tư tưởng ái nhân – quý trọng sinh mệnh con người và tư
tưởng sùng đức – tôn trọng phẩm giá, nhân cách con người” [6, tr.80]. Theo đó,
phương pháp chính trị trong Nho giáo đặt sự giáo hóa lên trên hình phạt. Trên
lập trường đó, các hình thức trừng phạt cái ác được Nguyễn Dữ đề cập đến trong
Truyền kỳ mạn lục là phương thức nhằm răn đe những hành động ác và hướng đến
việc xây dựng xã hội đạo đức.
Trước
hết, theo Nguyễn Dữ, trời là một thế lực rất lớn, vốn hiếu sinh nhưng cũng rất
công minh trong thưởng phạt thiện ác: “Trời dùng đức chứ không dùng uy, người
ưa sinh chứ không ưa giết. Vậy mà lũ ngươi tự làm họa phúc, thả quá kiêu dâm.
Thượng đế không dung, hình phạt tất đến, lũ ngươi định trốn đi đàng nào để khỏi
tru lục” [1, tr.247]. Sự trừng phạt của trời đối với các hành vi ác được thực
hiện rất công tâm: “Dữ lành báo ứng, không lầm đực cái, đen vàng,/ Nhân quả rõ
ràng, giống hệt tiếng vang, hình bóng./ Ngẫm lẽ ấy vốn là rõ rệt,/ Nhưng con
người thật quá ngoan ngu./ Ghen tức nhiều điều,/ Riêng tây lắm chuyện./ Chìm
sông ngã giếng, đắm đuối càng sâu,/ Lấp giếng vùi hầm, xô bồ đã lắm./ U trầm
đến vậy,/ Đọa lạc càng thương./ Vì thế mà, trời có đường bạt độ, thức tỉnh
người mê,/ Đất có ngục luân hồi, khuyên răn kẻ xấu./ Lỗi mà chẳng đổi,/ Tội ắt
không dung” [1, tr.210]. Nhưng, Nguyễn Dữ cũng nhìn nhận vấn đề theo cả hai
chiều cạnh trừng phạt của trời và sự thi hành của nó trong hiện thực đương thời
để sự luận giải được kín kẽ, thấu đáo và đầy đủ hơn. Qua câu chuyện đối đáp của
Đạo nhân, người cảnh báo những lỗi lầm của Thiên Tích và chính Thiên Tích làm
cho chúng ta hiểu hơn: “Tôi nghe đạo trời công minh như cái cân cái gương, có
thần minh để gây dấu vết, có tạo hóa để giữ công bằng; gương tất soi suốt mà
không riêng, lưới tuy thưa thớt mà không lọt. Phép thật chí nghiêm mà chí mật,
người nên không oán cũng không hờn”. Nhưng trong hiện thực cuộc sống “những sự
khuyến khích răn đe” của đạo trời lại “thấy lắm điều lộn xộn”: “Làm lợi sự vật,
chưa nghe thấy được phúc; làm sự hại nhân, chưa nghe thấy mắc nạn. Kẻ nghèo có
chí cũng thành không; người có muốn gì cũng được nấy. Có người chăm học mà suốt
đời không đỗ, có nhà xa hoa mà lũy thế vẫn giàu. Ai bảo rằng trao mận giả quỳnh,
thế mà vẫn trồng dưa được đậu” [1, tr.51].
Nguyễn
Dữ nhận thấy thuyết trời công minh chưa đủ luận giải về kiếp nghiệp của con
người, ông viện dẫn cả các giáo lý Phật giáo và Đạo giáo trong sự trừng phạt
nghiêm minh ở thế giới bên kia. Ông lý giải qua lời của đạo nhân: “Thiện ác tuy
nhỏ cũng rõ rệt, báo ứng dù chậm nhưng lớn lao. Âm công có khi rõ ràng ra, phải
đợi quả thiện được tròn trặn, dương phúc khi tiêu tán mất, phải chờ mầm ác đã
cao dài. Có khi sắp duỗi mà tạm co, có khi muốn đè mà thử nống. Có hạnh mà
nghèo hoặc bởi tội khiên kiếp trước, bất nhân mà khá, hẳn là phúc thiện đời
xưa. Tuy rằng khó biết sâu xa, nhưng thực không sai tơ tóc. Cho nên không nên
lập luận một bề và xem trời một mặt” [1, tr.51-52].
Từ đây
có thể thấy, trong quan niệm về sự trừng phạt cái ác của Nguyễn Dữ có sự hội tụ
của ba học thuyết Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo trong cùng một thời điểm, một
sự việc. Đó là thuyết nhân quả của Phật giáo, thuyết ỷ phục họa phúc, thiện ác
của Đạo giáo, thuyết công bằng của Nho giáo.
Nguyễn
Dữ còn lý giải thông qua thuyết phúc họa trong quan điểm Đạo giáo qua lời người
đạo nhân trong “Truyện gã Trà bồng giáng sinh”: “Đức là nền từ thiện. Tích đức
như mầm non rỏ một giọt nước, sẽ nảy nở lên, tích của như lửa đỏ gieo một khối
băng, sẽ tàn lụi. Huống chi không vun mà lớn là mầm thiện ác, không giữ mà đầy
là cơ phúc họa, cái tình hình ỷ phục trong đó thật đáng sợ. Ông nên trân trọng,
cố gắng mà làm điều nhân” [1, tr.51].
Từ sự
phân tích về thiện ác và mối quan hệ của nó với phúc họa trong đời sống con
người, Nguyễn Dữ cho rằng con người làm ác thì phải chịu sự trừng phạt công
minh của trời. Sự trừng phạt đó có thể không biểu hiện ngay trên trần thế khi
con người còn sống mà nó được thực thi sau khi con người chết đi. Do đó, trong
nội hàm quan niệm về cái ác, chúng ta không chỉ thấy sự kết hợp giữa Nho giáo,
Phật giáo và Đạo giáo mà còn có sự tham gia của cả yếu tố tín ngưỡng dân gian.
Nguyễn Dữ đề cập đến một thế giới con người sau khi chết. Khi con người sống và
làm điều ác thì sẽ phải chịu hình phạt ở địa ngục. Bởi “người hiền xưa nói
rằng: […] hễ trồng dưa thì được dưa, mà trồng đậu thì được đậu, lưới trời lồng
lộng thuy thưa mà chẳng lọt được đâu” [2, tr.41]. Tùy theo mức độ phạm tội có
các hình phạt tương ứng. Có thể giảm tuổi thọ, có thể không được thác sinh,
hoặc đầu thai vào gia đình nghèo đói, hoặc phải chịu hình như rửa ruột, thanh
lòng. Có thể minh chứng bằng một tòa án xét xử dưới địa ngục trong “Truyện Lý
tướng quân”:
Đối với
những người sống tham bẩn, hối lộ, hợm hĩnh, ngông nghênh, khinh miệt những
người có đức, chưa từng cất nhắc kẻ hiền sĩ để giúp nước sẽ bị tước tên ra khỏi
tòa Nam Tào [Xem: 1, tr.206]. Đối với người sống bất mục với anh em, không hòa
với tông tộc, chữa lại chúc thư để chiếm cướp ruộng nương, khiến họ không có
miếng đất cắm dùi. Đức vua cho thác sinh vào nhà kẻ hèn, đói khát, nằm vạ vật ở
ngòi rãnh để đền tội cho sự tranh cướp trước kia [Xem: 1, tr.206].
Đối với
những người phạm nhiều tội ác không thể dung thứ như tướng quan họ Lý: “Kết bạn
thì mây mưa tráo trở,/ Cư tâm thì yêu quái gớm ghê./ Văn học xem khinh/ Bạc
tiền coi trọng./ Chiếm cướp ruộng người như Hồng Dương đời Hán,/ Giết hại mạng
người như Dương Tố đời Tùy./ Vu oan giá họa, so hùm beo gấu sói còn độc hơn,/
Cực dục bởi lòng tham sai khiến,/ Thực tuồng gian hoạt tót vời./ Phải dùng phép
nghiêm,/ Làm răn kẻ khác” [1, tr.210-211]. Đối với tội dâm với vợ người khác,
vì đắm chìm trong bể ái nên lấy nước sôi rửa ruột để cho tình dục không sinh;
chiếm ruộng đất của người khác vì suối tham dìm nó, nên lấy lưỡi chủy thủ moi
ruột để cho lòng tham không nổi lên nữa; tội phá mồ mả của người xưa, hủy đạo
với người ruột thịt bị áp giải vào ngục Cửu U lấy dây da chét lấy đầu, lấy dùi
lửa đóng vào chân, chim cắt mổ vào ngực, rắn độc cắn vào bụng, trầm luân kiếp
kiếp không bao giờ được ra khỏi. Các hình phạt này cho thấy, từ trong suy nghĩ
của Nguyễn Dữ, vấn đề căn bản là cần phải làm cho con người thoát khỏi bể tình
ái, suối tham,… như quan niệm của Phật giáo. Nếu con người ta không vượt qua
được thì sẽ mãi luẩn quẩn trong vòng trầm luân. Như thế, sự xác lập thế giới
con người sau khi chết với tòa án nơi địa phủ đã cho thấy ảnh hưởng của Đạo
giáo và luật nghiệp luân hồi trong Phật giáo đối với nhà nho Nguyễn Dữ.
Như
vậy, bằng một phương thức biểu hiện khác trong việc mô tả cái ác của con người,
chúng ta nhận thấy quan niệm của Nguyễn Dữ về cái ác và các hình thức trừng
phạt thích đáng đều không nằm ngoài những trăn trở trách nhiệm xã hội của một
trí thức Nho học đối với thời cuộc, với nhân sinh. Nguyễn Dữ quay về với các
chân giá trị của Nho giáo kết hợp với Phật giáo, Đạo giáo như một phương cách
để răn đe con người trước cái ác, hướng tới cái thiện và xây dựng nền tảng đạo
đức cho một xã hội thái bình, thịnh trị. Ông đã chọn con đường rời xa những cám
dỗ của danh lợi, vật dục, sống hòa mình với thiên nhiên như người tiều phu núi
Na, không muốn phục vụ cho triều đình thối nát. Tuy cách giải quyết của Nguyễn
Dữ mang tính tiêu cực nhưng bằng ngòi bút ông đã vạch ra những vấn đề mang tính
thời đại trong xã hội đương thời để thức tỉnh con người. Quan niệm đó của
Nguyễn Dữ được chúng tôi phân tích ở trên chứng tỏ một điều là cái ác luôn hiện
diện trong bất kỳ thời điểm nào, không gian nào nếu như nó không bị kiểm soát,
bị dư luận xã hội lên án.
Tài
liệu tham khảo:
[1]
Nguyễn Dữ (2016), Truyền kỳ mạn lục, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
[2]
Trương Vĩnh Ký (phiên dịch) (1991), Minh tâm bửu giám, Nxb Hội Nghiên cứu và
giảng dạy văn học Tp. Hồ Chí Minh.
[3]
Phùng Hữu Lan (2013), Lịch sử Triết học Trung Quốc – Thời đại Kinh học, t.2,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[4]
Phòng Văn học cổ trung đại, Viện Văn học & Hội đồng lịch sử Hải Phòng
(2014), Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm (Tổng tập), Nxb Văn học, Hà Nội.
[5] Từ
điển Triết học (1986), Nxb Tiến Bộ, Mátxcơva.
[6] Choi
Young Chan (2011), “Quan điểm của Nho giáo về tội và sự xử phạt”, Kỷ yếu Hội
thảo: Mối quan hệ giữa Nho giáo và các trào lưu tư tưởng khác trong lịch sử tư
tưởng Việt Nam và Hàn Quốc, Viện Triết học & Trung tâm nghiên cứu Nho học,
Đại học Chungnam, Huế.