Chính quyền chúa Nguyễn với việc xây dựng và huy động lực lượng an ninh, phòng thủ, bảo vệ chủ quyền biển đảo ở Đàng Trong thế kỷ XVII-XVIII
1. Xây dựng và phát
triển lực lượng thủy quân
Lực lượng quân thủy
chủ lực trong an ninh, phòng thủ, thực thi, bảo vệ chủ quyền biển đảo ở Đàng
Trong thế kỷ XVII-XVIII là chính binh, thuộc binh thủy quân miền biển và hải
đảo, thủ ngự thủy quân cửa biển. Lực lượng này được chính quyền chúa Nguyễn chú
trọng xây dựng, phát triển về số lượng và sự tinh nhuệ trong chiến đấu, sắp đặt
chốt giữ các vị trí trọng yếu, then chốt trong hệ thống phòng thủ bờ biển và
hải đảo, tuần tra, truy bắt giặc biển, thường trực và sẵn sàng ứng chiến đảm
bảo an ninh, phòng thủ và chủ quyền biển đảo, chủ quyền Đàng Trong.
Qua thống kê số liệu ghi chép trong Phủ
biên tạp lục về ngạch binh Đàng Trong, tổng số quân thủy chúa Nguyễn gồm:
26.001 người (trong đó có 9.681 chính binh quân thủy, 16.320 thủ ngự thủy
quân), cùng số thủy quân 51 thuyền[1] (45 thuyền chính binh, 6 thuyền
thuộc binh), số chính binh thủy quân hai đội Tả thủy, Hữu thuỷ, số
thủy quân của 54 chiếc ghe bầu hải sư, 460 chiếc chiến thuyền thuộc binh, 234
chiếc chiến thuyền thủ ngự. Trong đó có lực lượng chuyên trách an ninh, phòng
thủ và bảo vệ chủ quyền biển đảo[2].
Cùng với phát triển quân số, chính quyền
Phủ chúa cũng chú trọng phát triển sức mạnh tinh nhuệ thủy quân (nhất là tác
chiến trên biển) bằng các hoạt động tăng cường luyện tập thủy chiến, phát triển
chiến thuyền và vũ khí chiến đấu. Về luyện tập thủy quân, vào năm
Nhâm Ngọ (1642), chúa Nguyễn Phúc Lan đã huy động dân binh đắp trường lập thủy
binh ở xã Hồng Phúc, đắp một gò đất cao hơn 30 thước, rộng hơn 120 thước, để
tháng 7 hằng năm thao luyện thủy quân, bơi thuyền bắn súng[3].
Về phát triển chiến thuyền và vũ khí
chiến đấu, ngay từ năm 1621, trong ghi chép của C. Borri, chúa Nguyễn có
đến một trăm chiếc thuyền chiến, trang bị đủ súng ống và nghiêm chỉnh
nghênh chiến[4].
Đến năm 1642, theo tính toán của vị thuyền trưởng người Hà Lan Jacop van
Liesvelt (trong bức thư gửi Hội đồng giám đốc Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC)),
tổng số thuyền chiến của Đàng Trong là 300 chiếc[5].
Đến những năm 1695-1696, thủy quân Đàng Trong đã có bước tiến vượt bậc về số
lượng và trang bị, với 200 chiến hạm có từ 16 đến 22 khẩu đại bác, 100 chiếc
thuyền lớn có 50 - 75 tay chèo, 3 chiếc của người châu Âu, 500 chiến thuyền nhỏ
có 40 - 44 tay chèo[6].
Đặc điểm thuyền chiến Đàng Trong có hình
dáng dài thấp mạn, cơ động, thích hợp hoạt động ven biển và cơ động khi vào
sông ra biển. Thuyền chiến lớn nhất có chiều dài khoảng 90-100 bộ[7], cao 7-8 bộ, mặt boong cách
mặt nước khoảng 2,5 bộ, phía mũi thuyền có một buồng nhỏ hình vuông, 4 cửa
lùa, mỗi chiều rộng 7-8 bộ. Mỗi thuyền có khoảng 40-60 cột chèo, thường
được trang bị pháo thuyền, súng tay. Thuyền có trọng tải ước chừng khoảng
100-150 tấn[8].
Dưới chủ trương chú trọng tác chiến trên biển của chính quyền chúa Nguyễn, cùng
sự giúp đỡ của người Bồ Đào Nha, thuyền chiến Đàng Trong thường có số lượng
pháo nhiều hơn thuyền chiến Đàng Ngoài, nhất là pháo mạn[9] để
tăng sức chiến đấu trong môi trường không gian biển rộng lớn, chống trả hoặc
tấn công địch từ nhiều phía.
Thủy quân Đàng Trong mang đặc trưng
chung của quân thủy Việt Nam thời quân chủ, chưa tách biệt trong chức năng và
nhiệm vụ thành quân thủy nội địa và hải quân, song so với quân thủy Lê - Trịnh
ở Đàng Ngoài thì tính chất “hải quân” của quân thủy Nguyễn vẫn nổi trội hơn[10].
Nhờ những nỗ lực xây dựng sức mạnh thủy quân, đặc biệt là sức mạnh trên biển,
quân thủy chúa Nguyễn đã khẳng định vai trò là lực lượng chính quy chủ chốt
trong phòng thủ, đảm bảo an ninh, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển đảo, chủ
quyền Đàng Trong những thế kỷ XVII-XVIII với các hoạt động tuần tra biển đảo,
phòng chống cướp biển, kiểm soát chặt tàu thuyền ra vào cửa biển, đánh tan
nhiều cuộc tấn công của Đàng Ngoài bằng đường biển, hay phá tan nhiều mưu đồ
xâm chiếm, can thiệp Đàng Trong của các nước phương Tây. Ví như thắng lợi của
thủy quân Nguyễn đánh tan hạm đội Hà Lan (Ô Lan) ở cửa Eo (cửa biển Thuận
An) vào năm 1643[11], cho
dù người Hà Lan vẫn tự coi là “chúa biển” ở giai đoạn này[12].
Đó còn là thắng lợi trong phá tan âm mưu xâm chiếm đảo Côn Lôn của thế lực đại
dương Anh (Man An Liệt; vào các năm 1702-1703[13])
và âm mưu của Pháp xâm chiếm “hai hải khẩu chính: cửa Hàn và Hội An”[14].
Chẳng vậy mà, Lê Quý Đôn cũng từng phải
thừa nhận thủy quân Đàng Trong “đều tinh thủy chiến”[15]. Hay sức mạnh trên biển của thủy quân
chúa Nguyễn còn được nhiều thương nhân, thượng khách... ngoại quốc đến Đàng
Trong thời kỳ này miêu tả, nhận định khách quan, trung thực, như "chúa rất
mạnh về đường biển” của C. Borri trong chuyến du hành đến Đàng Trong năm 1621[16],
"thủy quân rất mạnh mẽ" của vị hòa thượng Trung Quốc là Thích
Đại Sán khi vượt biển đến Thuận Hóa - Quảng Nam vào những năm 1695-1696
để truyền giảng đạo Phật theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu[17].
2. Xây dựng lực lượng quan chế
Trong quản lý và phòng bị từ phía biển, chúa
Nguyễn còn cho lập Ty tàu (Ty Tàu vụ). Đây là cơ quan
chuyên trách về ngoại thương, ngoại giao và đảm bảo an ninh, phòng thủ vùng cửa
biển (thu thuế, hộ dẫn, giám sát, kiểm soát tàu thuyền đến Đàng Trong, nhất là
đến hải cảng thương mại Hội An buôn bán, cứu hộ tàu thuyền gặp nạn đường biển). Ty
tàu đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chúa Nguyễn và là cơ quan trực
tiếp chỉ đạo, huy động các lực lượng tuần ty, đồn thủ,
dân binh, dân phụ lũy, và phối hợp cùng nha môn địa phương trong nhiệm vụ đảm
bảo an ninh, phòng thủ vùng cửa biển, nhất là vùng cửa biển dẫn đến thương cảng
Hội An. Theo quy định của chính quyền chúa Nguyễn, vào tháng Giêng hằng năm,
quan Cai bạ, Tri bạ, Lệnh sử, Cai
phủ, Ký lục của Ty tàu đến hải cảng
thương mại Hội An (thuộc Thành phố Đà Nẵng ngày nay) để quản lý, thực thi, chỉ đạo
và giám sát các lực lượng thực thi nhiệm vụ an ninh, phòng thủ vùng cửa biển và
hải cảng thương mại này, như thu thuế, kiểm soát, giải quyết vụ việc của tàu
thuyền đến giao thương, tránh gió bão ở nơi đây. Ty tàu cử
những thuộc quân thông hiểu tiếng nước ngoài đến canh giữ Cù lao Chàm (Cù lao
Chiêm) và cửa biển Đà Nẵng (cửa Hàn), xét hỏi tàu thuyền nước ngoài đến những
vùng cửa biển này. Chỉ những tàu thuyền đã được thuộc quân Ty Tàu tại
cửa biển Đà Nẵng và Cù lao Chàm xét hỏi, xác thực thì mới được vào phố Hội An,
dưới sự giám sát chặt chẽ của các chức phận[18]. Các chức vụ trong Ty tàu được
đặt với số lượng: Cai tàu, Tri tàu mỗi chức 1 viên
quan; Cai bạ tàu, Tri bạ tàu, Cai phủ tàu, Ký
lục tàu, Thủ tàu nội, mỗi chức 2 viên quan; Cai phòng 6
người; Lệnh sử 30 người; Toàn súng binh 50
người, Lính tàu 4 đội gồm 70 người, Thông sự 7
người[19].
Quan tuần ty, đồn
thủ được biên chế tại các tuần ty, đồn thủ canh
phòng nơi cửa biển, có nhiệm vụ phòng giữ, kiểm xét, giám sát và thu thuế tàu
thuyền ra vào cửa biển dưới sự điều lệnh trực tiếp của Ty tàu, để
đảm bảo an ninh, phòng thủ biển đảo, phòng thủ đất liền từ phía biển. Phủ
biên tạp lục cho biết chức phận, nhiệm vụ của các lực lượng này qua
ghi chép trường hợp Ty tàu truyền cho tuần nha giữ cửa biển
cùng đồn thủ đến xem xét và kiểm xét chặt tàu thuyền nước ngoài gặp nạn
gió bão, giạt đến các cửa biển dẫn vào thương cảng Hội An, chỉ cho mua củi, gạo
và ở lại hai ba ngày rồi đuổi ra biển, không cho vào cửa biển đề phòng sinh sự,
hoặc gian dối giả làm thuyền gặp nạn để trốn thuế[20].
Còn đối với những tàu thuyền đã được thuộc quân tại cửa biển Đà Nẵng và Cù lao
Chàm xác thực là đến Hội An buôn bán chịu thuế, thì dưới sự điều lệnh của
quan Cai tàu, quan uần ty đưa dân phụ luỹ đến hộ
tống thuyền vào cửa biển (cửa Đà Nẵng hoặc cửa Đại Chiêm) để đậu đúng nơi sở
tuần cửa biển, Lệnh sử và nha môn đến kiểm
xét. Khi thuyền về nước, quan Cai bạ cử người đến xem xét và
phái quân áp điệu hàng hóa đến thuyền (thuyền không được tự tiện chở riêng),
hoặc phái thuộc quân và tuần ty đem dân phụ luỹ hộ tống thuyền
ra khỏi cửa biển, sau khi đã kiểm tra số hành khách của thuyền[21].
Các nha (nha môn địa
phương) cũng có trách nhiệm phối hợp với quan Ty tàu trong
hoạt động kiểm soát tàu thuyền nước ngoài đến Đàng Trong. Tại sở tuần cửa
biển, Lệnh sử và quan các nha đến kiểm xét
thuyền theo bản khai của thuyền trưởng và tài phó[22] thuyền
về số khách, hàng hóa. Sau đó, thuyền mới được cập bến phố Hội An. Tuy nhiên,
người quản lý tối cao và kiểm soát cuối cùng đối với những tàu buôn này chính
là các chúa Nguyễn, khi mà đơn khai của thuyền trưởng và tài phó tàu cùng các
lễ tiến (lễ tiến chúa và lễ tiến quan) được dâng nộp lên chúa Nguyễn trực tiếp
xem xét, rồi mới phát cho các quan[23].
Như vậy, tàu thuyền đến Đàng Trong, để được buôn bán ở phố Hội An thì phải trải
qua những bước giám sát chặt chẽ ở vùng cửa biển Đại Chiêm, cửa biển Đà Nẵng,
và dưới sự kiểm xét chặt chẽ của nhiều chức phận, từ chúa Nguyễn đến quan Ty
tàu, nha môn địa phương, tuần ty, đồn
thủ, và cả những cư dân Đàng Trong (dân thủ lệ, dân phụ lũy...).
3. Huy động cư dân Đàng Trong
Với chính sách dân là lính, chính quyền
chúa Nguyễn đã huy động sức dân vào công tác an ninh, phòng thủ, thực thi và
bảo vệ chủ quyền biển đảo Đàng Trong. Đó là huy động người dân vào ngạch thuộc
binh thủy quân (thổ binh, tạm binh; là dân binh địa phương, được miễn sưu
thuế nhưng không được hưởng lương như quân đội chính quy) tham gia công tác đảm
bảo an ninh, phòng thủ biển đảo, cũng như huy động sức mạnh nhân dân vào hoạt
động do thám, kịp thời truyền báo tin tức; khai thác nguồn lợi biển đảo đồng
thời tuần phòng mặt biển; hộ dẫn, áp tải tàu thuyền ra vào cửa biển.
Nhân dân miền ven biển và hải đảo Đàng
Trong, nhất là ở khu vực cửa biển, hải cảng thương mại (nơi cư dân thường xuyên
tiếp xúc với tàu thuyền nước ngoài, đặc biệt là tàu thuyền phương Tây), được
chính quyền chúa Nguyễn huy động vào hoạt động thám báo tin tức miền
biển. Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục cho biết, chúa Nguyễn
đặt ở xứ Quảng Nam (thuộc Thành phố Đà Nẵng ngày nay) các xã Minh Hương, Hội
An, Cù lao Chàm (Cù lao Chiêm), Cẩm Tú, làng Câu đảm trách thám báo những tàu
thuyền nước ngoài đến buôn bán ở Hội An qua cửa Đại Chiêm, cửa Đà Nẵng (cửa
Hàn), và Vũng Lấm[24].
Dân làng phụ lũy được giao nhiệm vụ hộ tống tàu thuyền nước ngoài ra vào cửa
biển để giám sát và đảm bảo an toàn cho tàu thuyền[25].
Hình ảnh ba chiếc thuyền con đang kéo một tàu buôn lớn vào cảng Hội An
trong một bức tranh của người Nhật đã phần nào cho hình dung về hoạt động hộ
dẫn tàu thuyền cập cảng ở Đàng Trong thời các chúa Nguyễn[26]. Phủ
chúa cũng quy định, những tàu thuyền nước ngoài gặp nạn gió bão đường biển, sau
khi được sửa chữa sẽ do dân thủ lệ và dân tiếp cận áp sát trục xuất ra khỏi cửa
biển[27].
Chính quyền chúa Nguyễn còn phát huy
hiệu quả truyền thống, kinh nghiệm đường biển và khai thác biển, cũng như tập
quán sinh kế của nhân dân ven biển và hải đảo Đàng Trong trong xác lập, thực
thi và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Phủ chúa đã tập hợp bộ phận ngư dân khai
thác, thu lượm sản vật, hóa vật trên các vùng biển đảo (nhất là ở những vùng
quần đảo ngoài khơi xa), tổ chức họ thành những đội chuyên trách trong hoạt
động khai thác, tuần tra, giám sát, truyền báo tin tức, thực thi và bảo vệ chủ
quyền ở những khu vực biển đảo đảm nhận trọng trách, như đội Thanh Châu, đội
Hải Môn, đội Hoàng Sa, đội Bắc Hải.
Ví như đội Hoàng Sa được chúa Nguyễn
Phúc Nguyên (1613-1635) lập vào khoảng những năm cuối thập kỷ 20 và đầu thập kỷ
30 của thế kỷ XVII, trên cơ sở tuyển chọn 70 dân đinh làng (thôn) An Vĩnh
ở cửa biển Sa Kỳ trong đất liền (thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay) và xóm
(phường) An Vĩnh ở Cù lao Ré (nay là đặc khu Lý Sơn trực thuộc tỉnh Quảng Ngãi)[28].
Những dân đinh này là những “quân nhân”, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của dân
binh và đảm nhận sứ mệnh “bảo vệ an toàn tuyến ngoài của hệ thống phòng thủ
biển quốc gia” thông qua các hoạt động “về hình thức mang tính kinh tế thuần
túy, nhưng trong thực chất đội Hoàng Sa đã tổ chức các cuộc tuần tra, kiểm soát,
thu thập thông tin và khi cần có thể sẵn sàng ứng chiến và phối hợp với các lực
lượng khác cùng chiến đấu bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia lãnh thổ, lãnh
hải”[29]. Đội
Bắc Hải được chúa Nguyễn Phúc Chu (1692-1725) thành lập ngay sau khi đặt
phủ Bình Thuận vào năm 1697, lấy dân ở Tứ Chính và Cảnh Dương thuộc phủ
Bình Thuận, đảm nhận chức năng, nhiệm vụ giống như đội Hoàng Sa, nhưng hoạt
động trên phận biển, hải đảo ngoài khơi Biển Đông tiếp nối về phía Nam phạm vi
hoạt động của đội Hoàng Sa (tương đương với khu vực quần đảo Hoàng Sa, đảo Côn
Lôn, cùng khu vực biển đảo trên vịnh Thái Lan)[30].
Các đội chuyên trách trên mang tính
chính danh bởi được đặt dưới sự tổ chức, quản lý trực tiếp của chính quyền chúa
Nguyễn và những trọng trách, nhiệm vụ mà họ thực hiện được giao trực tiếp bởi
Phủ chúa - người quản lý và làm chủ lãnh thổ, lãnh hải Đàng Trong. Các chúa
Nguyễn đã thành công trong phát huy hiệu quả hoạt động quản lý trực tiếp của
nhân dân (đặt dưới sự tổ chức, quản lý của nhà nước), huy động sức dân vào quản
lý, khai thác, bảo vệ các vùng biển đảo Đàng Trong, nhất là các vùng quần đảo
ngoài khơi xa Hoàng Sa, Trường Sa. Sự có mặt thường xuyên của các lực lượng
chuyên trách kể trên trong thực hiện nhiệm vụ thực thi, bảo vệ chủ quyền biển
đảo Đàng Trong đã được Đô đốc Đe-xtanh (D' estaing; chỉ huy hạm đội Pháp
đến khu vực biển Đông vào thế kỷ XVIII) xác nhận “khó khăn càng tăng khi chúng
tôi muốn vượt qua quần đảo Hoàng Sa... Khu vực ấy luôn có các tàu của nước đó
(tức Đàng Trong - TG) đi lại, chúng có thể thông báo sự có mặt của chúng
tôi"[31].
4. Kết luận
Có thể thấy, chính quyền chúa Nguyễn đã chú
trọng xây dựng và huy động các lực lượng an ninh, phòng thủ, bảo vệ chủ quyền
biển đảo ở Đàng Trong trong những thế kỷ XVII-XVIII, như xây dựng
và phát triển lực lượng thủy quân về số lượng và sự tinh nhuệ, xây dựng các lực
lượng quan chế, huy động nhân dân Đàng Trong. Trong đó, thủy quân là lực quân
sự chính quy chủ lực đảm bảo an ninh, phòng thủ và bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Các lực lượng quan chế có sự phối hợp cùng nhau và thực hiện nhiệm vụ kiểm xét
chặt chẽ. Cư dân Đàng Trong được huy động vào nhiều hoạt động an ninh, phòng
thủ và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đặc biệt là những kinh nghiệm, truyền thống
hoạt động đường biển của các cư dân cũng được các chúa Nguyễn phát huy hiệu quả
vào công cuộc xác lập, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển đảo, nhất là trên hai
vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
[1] Cơ, đội, thuyền: đơn vị thủy quân
thời chúa Nguyễn. Phủ biên tạp lục không ghi cụ thể số lính thủy quân (đơn vị: người) của một số
đơn vị thủy quân, mà chỉ cho biết số lượng đơn vị thủy quân (đội, thuyền) nên
tác giả xin tổng hợp thống kê những trường hợp này vào thuyền thủy quân.
[2] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp
lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.233-249
[3] Lê
Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007,
tr.67
[4] Cristophoro Borri, Xứ
Đàng Trong năm 1621, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành Phố Hồ Chí
Minh, 2014, tr. 84-85
[5] W.J.M.Buch, De Oost-Indische
Compagnie en Quinam, de betrekkingen der Nederlanders met Annam in de XVII
eeuw,
Amsterdam, H.
J.Paris, pp.81, 86, dẫn theo Phạm Văn Thủy, "Thủy quân Việt Nam thế kỷ
XVII-XVIII và đầu thế kỷ XIX qua các nguồn sử liệu phương Tây", in trong
Nguyễn Văn Kim, Người Việt với biển, Nxb.Thế giới, Hà Nội, 2011, tr.509.
[6] Xin xem Les
Européens Qui ont vu le vieux Hué: Thomas Bowyer (1695-1696), Traduction de
Mme Mir, Annotations de L.Cadière, BAVH, No.2, 1920, pp. 183-240.
[7] Bộ (pied): đơn vị đo lường cổ của
Pháp, tương đương 0,3248m, đơn vị này chia thành 12 pouces.
[8] Theo mô tả của Poa-vrơ (P.
Poivre) phái bộ của Công ty Đông Ấn Pháp đến Đàng Trong năm 1749 (P. Poivre,
Journal of un voyage à la Cochinchine depuis le 29-8-1749 au 11-2-1759, trong
Arch, Nationales de Paris, quyển 12, tập 72, 73, dẫn theo Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh
Hùng, Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà
Nội, 2012, tr. 278-279.
[9] Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng, Quân thủy
trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr. 279-280.
[10] Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng, Quân thủy
trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2012, tr. tr.264
[11] Phủ biên tạp lục cho
biết sự kiện diễn ra vào tháng 4 năm 1643 (Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục,
Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.67-68), trong khi Đại Nam thực lục (tiền biên) lại
chép sự kiện vào tháng 4 năm 1644 (Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực
lục, tập
1, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr.55-56). Alexandre De Rhodes trong Lịch
sử vương quốc Đàng Ngoài cũng miêu tả về thắng lợi này của thủy quân
chúa Nguyễn trước đoàn tàu chiến Hà Lan (Alexandre De Rhodes, Lịch sử
vương quốc Đàng Ngoài, Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch, tái bản lần thứ
nhất, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, 2016, tr.41-42.
[12] Alexandre
De Rhodes, Hành trình và truyền giáo, Bản dịch Việt ngữ của
Hồng Nhuệ, Bản Pháp ngữ của Nxb Cramoisy 1653, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2020,
tr.76.
[13] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại
Nam nhất thống chí, Tập 5, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2006, tr.153-154; Quốc sử
quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập
1, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2002, tr.115, 117.
[14] Phan Du, Quảng Nam qua
các thời đại,(Quyển thượng), In lần thứ nhất, Cổ học tùng thư, Đà Nẵng,
1974, tr.200.
[15] Lê
Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb.Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2007,
tr.67
[16] Cristophoro Borri, Xứ Đàng
Trong năm 1621, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành Phố Hồ Chí Minh,
2014, tr. 83
[17] Thích Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự,
Hải Tiên Nguyễn Duy Bột và Nguyễn Phương dịch (1963), Nguyễn Thanh Tùng hiệu
chú, giới thiệu (2015), Nxb.Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2016, tr.60.
[18] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp
lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.292-294
[19] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp
lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.290.
[20] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp
lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.291.
[21] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp
lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.292, 293-294
[22] Vẫn gọi là tài phú, tức người kế
toán.
[23] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp
lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.292-294
[24] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp
lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.290.
[25] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp
lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.292, 294.
[26] N. Peri, Essai sur les
relations du Japon et de I’ Indochine aux XVI et XVII siècles, BEFEO, 1923,
p.136.
[27] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp
lục, Nxb.Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2007, tr.294.
[28] Nguyễn Quang Ngọc, Chủ
quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa: Tư liệu và sự thật lịch sử,
Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2017, tr.148-155; Dương Hà Hiếu, Cù
lao Ré - Quê hương của đội Hoàng Sa (từ đầu thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX), (Sách
tham khảo), Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2020, tr.208-212.
[29] Nguyễn Quang Ngọc, Chủ
quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa: Tư liệu và sự thật lịch sử,
Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2017, tr. 155, 173-174.
[30] Nguyễn Quang Ngọc, Chủ
quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa: Tư liệu và sự thật lịch sử,
Nxb.Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2017, tr.177-179.
[31] Nhãn quan của Đô đốc Đe-xtanh (D’estaing) trong
BSEI, theo Văn Trọng, Hoàng Sa - Quần đảo Việt Nam, Nxb.Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1979, tr.33, dẫn theo Nguyền Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh
Hùng, Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb. Quân
đội Nhân dân, Hà Nội, 2012, tr. 263 - 264.
Avatar: Một
chiến thuyền nhỏ của thủy quân nhà Nguyễn.
Nguồn: https://baotanglichsu.vn/VI/Articles/3096/16509/cong-cuoc-bao-ve-bien-djao-to-quoc-thoi-cac-chua-nguyen.html