Xây dựng "Chuẩn mực con người Việt Nam" trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng
(VASS) - Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, con người vừa là nhân tố trung tâm, vừa là mục tiêu, đồng thời cũng là động lực của tiến trình phát triển xã hội. Tư tưởng “Thiên - Địa - Nhân hợp nhất, con người là vốn quý của trời đất” đã trở thành giá trị xuyên suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Ngày nay, giá trị “Chuẩn mực con người Việt Nam” sẽ góp phần đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng vào thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển bền vững, vì một đất nước giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc.
Tổng Bí thư Tô Lâm thăm hỏi, tặng quà thương binh, bệnh binh tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh Thuận Thành (phường Ninh Xá, tỉnh Bắc Ninh), ngày 15-7-2026.
“Chuẩn mực con người Việt Nam” trở thành yêu cầu khách quan
Bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp
4.0, với những biến động nhanh về kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học - công
nghệ và môi trường xã hội, vấn đề xác định “Chuẩn mực con người Việt Nam” trong
kỷ nguyên mới trở thành một yêu cầu khách quan:
Thứ nhất, sự chuyển đổi sâu sắc của bối cảnh thời đại đang đặt
ra những thách thức chưa từng có đối với bản sắc và giá trị con người Việt Nam.
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế không chỉ mang lại cơ hội phát triển, mà còn
kéo theo sự xâm nhập của nhiều hệ giá trị, lối sống và chuẩn mực đạo đức khác
nhau. Sự du nhập nhanh chóng của công nghệ số, các phương tiện truyền thông xã
hội, các hệ phái tôn giáo, chủ nghĩa tiêu dùng hưởng thụ, tôn thờ vật chất khiến
cho nhiều giá trị truyền thống bị mai một, trong khi các chuẩn mực mới chưa được
định hình rõ ràng: “Chủ nghĩa tôn thờ vật chất, kinh tế thị trường đã và đang đẩy
con người vào “vòng xoáy” của lợi nhuận, nảy sinh lối tư duy thực dụng, “kích
thích” tính phi đạo lý, kiểu làm ăn gian dối, bất chấp dư luận xã hội, chà đạp
lên luân lý, luật pháp, làm sai lệch các chuẩn mực đạo đức và làm đảo lộn bậc
thang giá trị xã hội”(1). Nếu không xác lập một hệ giá trị và chuẩn mực con người
vững chắc, xã hội có nguy cơ mất phương hướng về đạo lý, niềm tin và lý tưởng
phát triển.
Thứ hai, Việt Nam lựa chọn mô hình phát triển các quan hệ sản
xuất theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có kiến
trúc thượng tầng, như chính trị, đạo đức và văn hóa,... tương thích. Kinh tế thị
trường có mặt tích cực trong việc khơi dậy năng lực sáng tạo và cạnh tranh,
song cũng dễ dẫn đến xu hướng thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất, xem nhẹ
giá trị tinh thần. Do đó, việc xác định “Chuẩn mực con người Việt Nam” là cần
thiết, nhằm xây dựng “hàng rào giá trị” giúp định hướng hành vi, củng cố đạo đức
xã hội, bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển vật chất và tiến bộ tinh thần, giữa
cá nhân, cộng đồng và thể chế chính trị nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, yêu cầu của công cuộc hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế để hình thành một xã hội mới đặt ra nhiệm vụ hình thành mẫu hình con người mới:
Có tri thức, năng lực sáng tạo, bản lĩnh, văn hóa và trách nhiệm xã hội. Trong
khi đó, những tiêu chí của con người Việt Nam được định hình trong thời kỳ chiến
tranh và bao cấp đã không còn phù hợp trọn vẹn với bối cảnh xã hội mới. Việc
xác định lại chuẩn mực là bước đi không thể thiếu để bồi dưỡng thế hệ công dân
toàn cầu mang bản sắc Việt Nam - vừa hiện đại, năng động, vừa nhân ái và trung
thực.
Thứ tư, tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đã xác định
nhiệm vụ phát triển con người toàn diện là trung tâm của chiến lược phát triển
quốc gia. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh nội dung: “Nhận thức rõ hơn
yêu cầu phải hình thành hệ thống chuẩn mực về giá trị văn hoá, con người Việt
Nam đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
hội nhập quốc tế”(2). Như vậy, xác định hệ chuẩn mực con người không chỉ là nhiệm
vụ của ngành văn hóa, mà là vấn đề chiến lược trong xây dựng nền tảng xã hội. Từ
đó, việc xây dựng, phát triển văn hóa, trong đó con người là cốt lõi, phải
ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội; để văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội
sinh, động lực to lớn, hệ điều tiết cho mục tiêu “phát triển nhanh và bền vững
đất nước”.
“Chuẩn mực con người Việt Nam” được xác định dựa trên cơ sở
lý luận, khoa học, vừa kế thừa giá trị truyền thống dân tộc, vừa tiếp thu tinh
hoa nhân loại và đáp ứng yêu cầu phát triển của thời đại.
Một là, chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền
tảng tư tưởng chỉ đạo việc xây dựng hình mẫu con người Việt Nam. Theo đó, con
người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, vừa là sản phẩm của lịch sử, có gắn
bó hữu cơ với môi trường tự nhiên, vừa là chủ thể sáng tạo lịch sử. Chuẩn mực
con người không phải là khái niệm trừu tượng, mà là kết tinh của các mối quan hệ
xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
Hai là, các giá trị tinh hoa trong truyền thống dân tộc được
hun đúc suốt chiều dài lịch sử để tạo nên giá trị “Chuẩn mực con người Việt
Nam”. Những giá trị này được trân trọng giữ gìn, phát triển, được đổi mới, hoàn
thiện để phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức, pháp quyền và quyền con người hiện đại.
Ba là, giá trị mới toàn cầu gồm năng lực tư duy phản biện,
sáng tạo, kỹ năng số và ý thức đạo đức trong môi trường mạng, trong xã hội tri
thức - số hóa.
Từ đó, giá trị “Chuẩn mực con người Việt Nam” quy định mục
đích của hoạt động và động cơ thúc đẩy toàn bộ hoạt động của cá nhân hay cộng đồng
đạt đến mục đích đó. Tại khoản 3, Điều 60, Hiến pháp 2013 sửa đổi, bổ sung năm
2025 quy định: “Xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn hóa, giàu lòng
yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân”. Văn kiện
Đại hội XIV của Đảng yêu cầu: “Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị
văn hóa và chuẩn mực con người”(3).
Xác định 5 phương diện của “Chuẩn mực con người Việt Nam”
Theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, có thể xác định 5 phương
diện của “Chuẩn mực con người Việt Nam”, gồm: Chuẩn mực về tư tưởng - lý tưởng
- bản lĩnh chính trị; chuẩn mực về đạo đức - nhân cách - lối sống; chuẩn mực về
tri thức, năng lực và tinh thần sáng tạo; chuẩn mực về tinh thần công dân và
trách nhiệm xã hội; chuẩn mực về thể lực và khả năng làm chủ cơ thể.
Chuẩn mực về tư tưởng - lý tưởng - bản lĩnh chính trị: Nền tảng
đầu tiên của con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới là tư tưởng đúng đắn và lý
tưởng sống cao đẹp. Giai đoạn lịch sử hiện nay, quan điểm, tư tưởng của giai cấp
công nhân tiến bộ nhất là học thuyết Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần
có con người xã hội chủ nghĩa”(4). Con người ấy phải có lý tưởng độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội, có đạo đức cách mạng: Cần, kiệm, liêm, chính,
chí công vô tư, yêu thương con người và sống có trách nhiệm với cộng đồng. Những
phẩm chất đó trở thành hệ tư tưởng, là hạt nhân để hình thành “Chuẩn mực con
người Việt Nam” hiện đại.
Chuẩn mực về đạo đức - nhân cách - lối sống: “Xây dựng con
người Việt Nam phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị
truyền thống và giá trị hiện đại... Trong xây dựng con người, nguồn nhân lực được
xác định là chìa khóa, là đột phá chiến lược để phát triển đất nước”(5). Đối với
người Việt, đạo đức rất quan trọng, là cốt lõi của con người: “Tốt gỗ hơn tốt
nước sơn”. Đạo đức được hình thành trên nền tảng trung, hiếu, đoàn kết, ý chí tự
do, tự cường, nhân nghĩa, cần, kiệm, liêm, chính,... Trung là tinh thần yêu nước,
bảo vệ giang sơn, là gìn giữ văn hóa, tiếng nói, phong tục - những biểu hiện
sâu xa nhất của hồn cốt dân tộc. Tinh thần yêu nước đã trở thành chuẩn mực đạo
lý tối thượng, nơi mọi phẩm chất khác, như trung thực, tự lực, tự cường, nghĩa
khí,… đều quy tụ và tỏa sáng vì lợi ích của đất nước. Trong mọi hoàn cảnh lịch
sử, yêu nước là “ngọn lửa thiêng” soi đường, giúp con người Việt vượt lên gian
khổ, biến hy sinh thành vinh quang. Người Việt Nam có thể nghèo vật chất, nhưng
không bao giờ nghèo lòng yêu nước, vì đó là tài sản tinh thần vô giá, được truyền
qua huyết quản mỗi thế hệ. Tinh thần yêu nước là thước đo cao nhất của nhân
cách, chỉ ai biết đặt lợi ích Tổ quốc lên trên lợi ích cá nhân mới xứng đáng là
người con của dân tộc Việt Nam. Từ Thánh Gióng, Trần Hưng Đạo... đến Hồ Chí
Minh, lòng yêu nước luôn là ánh sáng soi rọi mọi hành động đạo đức, là nguồn sức
mạnh thiêng liêng để vượt qua mọi thử thách. Trong thời đại mới, yêu nước không
chỉ là cầm súng giữ nước, mà là sống có trách nhiệm với dân tộc, cống hiến trí
tuệ, đạo đức và hành động vì sự phồn vinh, văn minh của đất nước Việt Nam.
Ngoài “trung với nước”, phẩm chất “trung” của người Việt còn là trung thành,
trung thực, trung nghĩa với cơ quan, đơn vị, tổ chức mà mình là một thành phần
hoặc tham gia. Phẩm chất trung thành, trung thực rất quan trọng vì nó tạo được
niềm tin của con người, xác lập quan hệ xã hội ổn định, bền vững.
Cùng với tấm lòng yêu nước, trung với nước, con người Việt
Nam còn có phẩm chất vô cùng giá trị là tinh thần đoàn kết, ý chí tự do, tự cường.
Lịch sử chống ngoại xâm và xây dựng đất nước đã hun đúc ý thức cộng đồng, đặt lợi
ích dân tộc lên trên. Ngày nay, nó trở thành cơ sở cho trách nhiệm công dân và
chủ quyền văn hóa trong hội nhập. Đó là tình đoàn kết và nghĩa tình cộng đồng,
thể hiện ở sự tương trợ trong làng xã, truyền thống “thương người như thể thân”
giúp duy trì xã hội. Ở kỷ nguyên mới, tinh thần đoàn kết là sức mạnh chống phân
cực, tạo nền tảng hợp tác xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, bản lĩnh chính
trị và ý thức độc lập dân tộc giúp con người Việt Nam giữ vững chủ quyền văn
hóa và tư tưởng, không bị cuốn theo các trào lưu lệch lạc hay chủ nghĩa thực dụng,
cực đoan. Cùng với đó, tư duy nhận thức về khát vọng độc lập và ý chí tự do là
giá trị cao nhất của cá nhân và loài người nói chung cũng như với người Việt
Nam nói riêng: “Chúng ta có thể hiện đại hóa đất nước bằng công nghệ và vốn đầu
tư, nhưng nếu mất đi tinh thần độc lập, lòng yêu nước và khát vọng tự do, thì
chúng ta sẽ đánh mất linh hồn của dân tộc”(6). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định
trên Báo Cứu quốc số 69, ngày 17-10-1945: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng
hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(7). Giá trị tự do, hạnh
phúc của con người Việt Nam được nhấn mạnh là bảo đảm và thực thi đầy đủ quyền
con người, quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013, bảo
đảm mọi người dân được sống ấm no, tự do, hạnh phúc” .
Trong đạo lý của người Việt Nam, không thể không nhắc tới đạo
hiếu. Hiếu là bổn phận đạo đức cao nhất trong quan hệ gia đình để giữ vững nền
tảng cố kết gia đình, làm tế bào cho xã hội phát triển bền vững, lành mạnh. Hiếu
là cội nguồn của đạo làm người trong văn hóa Việt Nam, thể hiện lòng biết ơn,
tôn kính và đền đáp công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, tổ tiên. Từ ngàn
đời, dân tộc ta xem chữ “hiếu” là nền tảng của mọi đức hạnh, bởi người có hiếu
mới có nghĩa, có nhân. Hiếu không chỉ dừng ở sự phụng dưỡng cha mẹ, mà còn mở rộng
gắn kết tình gia đình với tình dân tộc. Người bất hiếu bị xem là mất gốc, vì
không biết ơn nguồn cội thì không thể sống có nhân nghĩa giữa cuộc đời. Giữ gìn
và phát huy chữ “hiếu” hôm nay chính là gìn giữ linh hồn đạo đức dân tộc. Về lối
sống của người Việt Nam, thái độ chăm chỉ, chịu khó, sự thông minh trong lao động,
sản xuất, kinh doanh, ý chí kiên định vượt qua mọi khó khăn, nghịch cảnh là yếu
tố then chốt cho năng lực phục hồi và đổi mới sáng tạo. Thái độ trọng đạo lý,
kính trên nhường dưới, tinh thần lễ nghĩa tạo “khung chuẩn” hành vi, nền tảng đạo
đức công vụ và quan hệ xã hội. Bên cạnh đó, tinh thần cầu thị, ham học hỏi là
những phẩm chất cần thiết để con người Việt Nam thích ứng với thế giới tri thức
mở.
Chuẩn mực về tri thức, năng lực và tinh thần sáng tạo: Trí
tuệ của người Việt vừa là phẩm chất đặc biệt, vừa là phương thức sinh tồn của
cha ông để lại cho các thế hệ hiện tại và tương lai. Trong cuộc đấu tranh với
thiên nhiên và ngoại xâm, người Việt thường ở vị thế bất lợi. Chính vì vậy,
phương thức để chiến thắng ngoại bang to lớn cũng như để khắc phục những khó
khăn của thiên nhiên chính là sự thông thái, sáng suốt, mưu trí, sáng tạo, khôn
ngoan, là khả năng sử dụng kiến thức, kinh nghiệm, đem lại lợi ích cao nhất. Để
có độc lập, tự do, phải có trí tuệ, phải có tư duy độc lập để sáng tạo, phát
triển. Chúng ta biết kẻ thù nguy hiểm của độc lập, tự do là bị kẻ bên ngoài áp
đặt hay tự mình ràng buộc vào bên ngoài. Vì vậy, có trí tuệ, chúng ta có sự
thông thái để đối mặt và giải quyết các vấn đề. Việt Nam chiến thắng ngoại bang
là do tinh thần yêu nước và trí tuệ Việt Nam. Kỷ nguyên cách mạng công nghiệp
4.0 đặt ra yêu cầu hình thành mẫu hình con người học tập suốt đời, có năng lực
khoa học, công nghệ và khả năng thích ứng linh hoạt. Tri thức và sáng tạo trở
thành chuẩn mực mới thay thế cho mô hình con người thụ động, bằng lòng. Người
Việt Nam hiện đại cần được trang bị năng lực tư duy logic, phản biện và sáng tạo;
kỹ năng số, ngoại ngữ và hội nhập văn hóa; tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu
trách nhiệm; tính chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp trong lao động. Sáng tạo
không chỉ trong lĩnh vực khoa học - công nghệ mà còn trong cách ứng xử, cách sống
và quản lý xã hội, nhằm kiến tạo một nền văn hóa phát triển hài hòa giữa truyền
thống và hiện đại.
Chương trình hiến máu tình nguyện “Nhiệt huyết người dầu khí”_Ảnh: vienhuyethoc.vn
Chuẩn mực về tinh thần công dân và trách nhiệm xã hội: Trong
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, con người không chỉ là đối tượng thụ hưởng
chính sách, mà là chủ thể tham gia kiến tạo xã hội. Vì vậy, chuẩn mực công dân
Việt Nam thời đại mới phải gắn liền với năng lực hành động và trách nhiệm xã hội,
được thể hiện qua sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật, sống kỷ luật và có tinh
thần công dân; tham gia hoạt động cộng đồng, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự
xã hội; đóng góp trí tuệ, vật chất, tinh thần cho sự phát triển chung. Đặc biệt,
thế hệ trẻ cần được bồi dưỡng tinh thần khởi nghiệp, sáng tạo, gắn với trách
nhiệm xã hội, biết làm giàu chính đáng và góp phần phát triển đất nước. Khi mỗi
người đều ý thức rằng thành công cá nhân gắn với thịnh vượng quốc gia, xã hội sẽ
có nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững.
Chuẩn mực về thể lực và khả năng làm chủ cơ thể: Chuẩn mực mới
của người Việt không chỉ là đạo đức, tri thức và văn hóa, mà còn là khả năng
làm chủ cơ thể và duy trì phong cách sống lành mạnh, là thể lực và tầm vóc phát
triển của cá nhân, cộng đồng thông qua các chỉ số sinh học cụ thể. Nâng cao thể
lực quốc dân chính là nền tảng vật chất để hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất
nước hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc. Các chỉ số thể lực cao là biểu hiện
cho sự phát triển của quốc gia; mức độ thịnh vượng, văn minh của xã hội. Khi có
chỉ số tiêu chuẩn phấn đấu cụ thể, chúng ta sẽ xây dựng được chế độ học tập,
rèn luyện, chế độ chăm sóc dinh dưỡng, chọn lựa giống nòi để tăng chiều cao cho
các thế hệ. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0, chiều
cao trở thành một tiêu chí quan trọng phản ánh chất lượng nguồn nhân lực Việt
Nam. Thể lực và chiều cao không chỉ là biểu hiện của sức khỏe cá nhân, mà còn
là yếu tố cấu thành năng lực lao động, trí tuệ và sáng tạo của con người Việt
Nam hiện đại. Một dân tộc có thể lực cường tráng sẽ có khả năng thích ứng
nhanh, chịu đựng áp lực cao và duy trì hiệu suất lao động bền vững trong môi
trường cạnh tranh toàn cầu.
Xây dựng chuẩn mực “người Việt Nam có thể lực tốt” là bước
tiến trong việc hoàn thiện hình mẫu con người phát triển toàn diện về đức, trí,
thể, mỹ. Nghị quyết của Đảng và các chiến lược quốc gia về phát triển con người
đều khẳng định yêu cầu nâng cao thể chất là nền tảng cho phát triển bền vững.
Trong kỷ nguyên mới, sức khỏe thể chất gắn liền với sức khỏe tinh thần, giúp mỗi
cá nhân duy trì năng lượng tích cực và năng lực sáng tạo trong công việc. Bác Hồ
từng viết: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân
mạnh khỏe tức là cả nước mạnh khỏe”(8). Thể lực tốt góp phần giảm gánh nặng bệnh
tật, tăng tuổi thọ lao động và nâng cao năng suất quốc gia. Chính vì vậy, đầu
tư vào giáo dục thể chất, dinh dưỡng học đường và phong trào rèn luyện thân thể
là chính sách mang tính chiến lược lâu dài cho quốc gia.
Các chuẩn mực nói trên không tồn tại riêng rẽ mà liên kết hữu
cơ trong một hệ giá trị thống nhất. Đạo đức và nhân cách là cốt lõi nội tâm; tư
tưởng và lý tưởng là nền tảng định hướng; tri thức và sáng tạo, thể lực là
phương tiện hành động; trách nhiệm công dân, ứng xử văn hóa và trách nhiệm xã hội
là biểu hiện hành vi giao tiếp. Khi 5 phương diện này được vun bồi đồng bộ, con
người Việt Nam sẽ hình thành nhân cách toàn diện: Vừa có lý tưởng cao đẹp, vừa
sáng về trí tuệ, vừa cao về đạo đức, vừa mạnh về hành động. Xây dựng “Chuẩn mực
con người Việt Nam” trong kỷ nguyên mới là một quá trình vừa mang tính văn hóa
- đạo đức, vừa mang tính chính trị - xã hội sâu sắc. Chuẩn mực con người là
linh hồn của hệ giá trị văn hóa dân tộc, là động lực nội sinh của phát triển bền
vững. Trong thế kỷ XXI - thời đại hội nhập,
số hoá và toàn cầu hoá - “Chuẩn mực con người Việt Nam” phải được định hình
trên hệ chuẩn mực đúng đắn, được xác lập vững chắc và thấm sâu vào đời sống xã
hội. Đó cũng là điều kiện để hệ giá trị văn hóa Việt Nam được khẳng định, đất
nước có thể tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển mới: Phồn vinh, hạnh phúc và bền
vững. Đây chính là mục tiêu của chiến lược
phát triển văn hóa - con người Việt Nam đến năm 2045 mà Đảng ta đã xác định./.
-------------
(1) Đỗ Đức Minh: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội
chủ nghĩa: Những yếu tố tác động và vấn đề đặt ra”, Tạp chí điện tử Luật sư Việt
Nam, ngày 13-2-2024,
https://lsvn.vn/xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-viet-nam-xa-hoi-chu-nghia-nhung-yeu-to-tac-dong-va-van-de-dat-ra-1707785371-a140905.html
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb.
Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, t. II, tr. 55
(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t. II, tr. 97
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật,
Hà Nội, 2011, t. 12, tr. 604
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Sđd, t.
II, tr. 56
(6) Nguyễn Sĩ Dũng: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” -
giá trị vĩnh hằng của Tư tưởng Hồ Chí Minh, Báo Nhân dân điện tử, ngày
18-5-2025,
https://nhandan.vn/khong-co-gi-quy-hon-doc-lap-tu-do-gia-tri-vinh-hang-cua-tu-tuong-ho-chi-minh-post880125.html
(7) Hồ Chí Minh: “Thư gửi ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện
và làng”, Báo Cứu quốc, số 69, ngày 17-10-1945
(8) Hồ Chí Minh: “Sức khỏe và thể dục”, Báo Cứu quốc, số
199, ngày 27-3-1946