|
Chỉ số đổi mới sáng tạo được đánh giá trên 7 trụ cột, chia làm 2 nhóm: Nhóm đầu vào gồm 5 trụ cột và Nhóm đầu ra gồm 2 trụ cột:
|
Nhóm A · Đầu vào đổi mới sáng tạo: 5 trụ cột
1. Thể chế (Institutions): Môi trường chính trị, môi trường pháp lý và môi trường kinh doanh. Phản ánh các điều kiện thể chế thuận lợi hoặc cản trở hoạt động đổi mới sáng tạo.
2. Nguồn nhân lực và nghiên cứu (Human capital and research): Giáo dục, giáo dục đại học, nghiên cứu và phát triển (R&D). Đánh giá nền tảng tri thức và năng lực nghiên cứu của quốc gia.
3. Cơ sở hạ tầng (Infrastructure): Hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, hạ tầng tổng thể và tính bền vững sinh thái.
4. Trình độ phát triển của thị trường (Market sophistication): Tín dụng, đầu tư, thương mại, đa dạng hóa và quy mô thị trường. Phản ánh khả năng huy động nguồn lực tài chính và tạo điều kiện cho đổi mới sáng tạo.
5. Trình độ phát triển của doanh nghiệp (Business sophistication): Nhân lực tri thức, liên kết đổi mới sáng tạo và khả năng hấp thụ tri thức, công nghệ từ bên ngoài.
Nhóm B · Đầu ra đổi mới sáng tạo: 2 trụ cột\
6. Sản phẩm tri thức và công nghệ (Knowledge and technology outputs): Sáng tạo tri thức, tác động của tri thức và phổ biến tri thức, công nghệ. Đây là nhóm chỉ báo phản ánh các kết quả liên quan đến khoa học, công nghệ và ứng dụng tri thức.
7. Sản phẩm sáng tạo (Creative outputs): Tài sản vô hình, hàng hóa và dịch vụ sáng tạo, cùng hoạt động sáng tạo trực tuyến. Trụ cột này cho thấy GII không giới hạn đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ.
Đối với lĩnh nghiên cứu, ở Nhóm đầu vào là trụ cột 2 - Nguồn nhân lực và nghiên cứu, ở Nhóm đầu ra là trụ cột 6 - Sản phẩm tri thức và công nghệ. Trụ cột 2 phản ánh những điều kiện về giáo dục, nhân lực và năng lực nghiên cứu tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo. Trụ cột 6 tập trung vào những kết quả được tạo ra từ sáng tạo và ứng dụng tri thức.
Trụ cột 2: Nguồn nhân lực và nghiên cứu
Trụ cột này gồm ba nhóm chỉ số chính: giáo dục, giáo dục đại học và nghiên cứu - phát triển (R&D). Đây là những điều kiện nền tảng để hình thành đội ngũ nghiên cứu, tích lũy tri thức và tạo ra các kết quả khoa học mới.
Trong đó, chất lượng nguồn nhân lực không chỉ thể hiện ở trình độ học vấn hay số lượng người có bằng cấp mà trong lĩnh vực nghiên cứu còn thể hiện ở năng lực xây dựng lý thuyết, thiết kế nghiên cứu, phân tích dữ liệu, công bố quốc tế và tham gia các mạng lưới học thuật. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, phân tích xử lý dữ liệu lớn, sử dụng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm trong kết nối và chia sẻ đặt ra yêu cầu về năng lực của đội ngũ các nhà khoa học. Năng lực nghiên cứu vì thế không chỉ phụ thuộc vào từng nhà khoa học riêng lẻ mà còn phụ thuộc vào môi trường hợp tác, cơ chế chia sẻ dữ liệu và khả năng kết nối giữa các tổ chức nghiên cứu. Vì vậy, khi vận dụng vào lĩnh vực này, cần xem xét thêm mức độ ổn định của nguồn tài trợ nghiên cứu, điều kiện tiếp cận dữ liệu, cơ sở dữ liệu nghiên cứu và khả năng duy trì các chương trình nghiên cứu dài hạn.
Trụ cột 6: Sản phẩm tri thức và công nghệ
Trụ cột này gồm ba nhóm chỉ số chính: sáng tạo tri thức (Knowledge creation), tác động của tri thức (Knowledge impact) và phổ biến tri thức (Knowledge diffusion). Khung GII 2026 sử dụng những chỉ báo như bài báo khoa học, chỉ số H (chỉ số của các công bố khoa học được trích dẫn), năng suất lao động, tỷ trọng sản xuất công nghệ cao, độ phức tạp của sản phẩm xuất khẩu và doanh thu từ quyền sở hữu trí tuệ.
Đặc điểm quan trọng của khoa học xã hội và nhân văn là nhiều kết quả nghiên cứu tạo ra giá trị không thông qua sáng chế hay sản phẩm thương mại, mà thông qua việc cải thiện nhận thức, thiết kế chính sách và đổi mới phương thức quản lý xã hội. Những đóng góp này có thể tạo ra tác động xã hội đáng kể thông qua báo cáo tư vấn chính sách, hệ thống chỉ báo xã hội hay các mô hình can thiệp cộng đồng. Trong khi đó, các chỉ báo của GII phản ánh năng lực đổi mới sáng tạo ở cấp quốc gia, chủ yếu thông qua những dữ liệu có thể định lượng và so sánh quốc tế. Vì vậy, khi vận dụng khung GII vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học, cần xem đây là cơ sở về điều kiện tạo ra tri thức và khả năng chuyển hóa tri thức thành kết quả, chứ không phải một bộ tiêu chí đánh giá đầy đủ giá trị khoa học.
|
Tại cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản ngày 25/05/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhấn mạnh vai trò của nghiên cứu khoa học cơ bản là “một nội dung rất quan trọng, không chỉ của ngành khoa học và công nghệ, mà còn là vấn đề chiến lược liên quan trực tiếp đến mô hình phát triển, năng lực tự chủ và vị thế quốc gia của Việt Nam”. Đầu tư cho nghiên cứu khoa học cơ bản vì vậy không chỉ tạo nền tảng tri thức cho đổi mới sáng tạo, mà còn góp phần nâng cao năng lực làm chủ công nghệ, gia tăng khả năng tạo ra tri thức và giá trị mới, qua đó củng cố năng lực cạnh tranh và từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn cầu.
|
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo về công tác nghiên cứu khoa học cơ bản ngày 25/05/2026 -
Ảnh: TTXVN
Ý nghĩa của GII không chỉ nằm ở thứ hạng Việt Nam đạt được, mà còn ở những thông tin về điểm mạnh, hạn chế và khả năng chuyển hóa nguồn lực thành kết quả đổi mới sáng tạo. Sự chênh lệch giữa thứ hạng đầu vào và đầu ra, cùng những khác biệt giữa các trụ cột đánh giá, gợi mở nhiều vấn đề cần được quan tâm để hiểu rõ hơn thực trạng đổi mới sáng tạo của Việt Nam. Vì vậy, kết quả GII năm 2026 vừa là căn cứ ghi nhận những tiến bộ đã đạt được, vừa đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực nghiên cứu cơ bản và tăng cường khả năng làm chủ công nghệ, hướng tới một nền kinh tế tri thức phát triển trong kỷ nguyên của khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.