Chuyển đổi số trong quản lý di tích: Trường hợp phường Từ Sơn, thành phố Bắc Ninh
TÓM TẮT
Chuyển đổi số đang mở ra những hướng tiếp cận mới trong
quản lý di tích lịch sử – văn hóa, góp phần nâng cao khả năng lưu trữ, kết nối,
khai thác thông tin và hỗ trợ ra quyết định. Nghiên cứu này tập trung phân tích
khả năng ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý di tích tại phường Từ Sơn, thành
phố Bắc Ninh, trên cơ sở tiếp cận liên ngành giữa quản lý di sản văn hóa, công
nghệ thông tin và địa lý học. Nghiên cứu kết hợp phân tích tài liệu, khảo sát
thực địa, xem xét thực trạng quản lý và đề xuất quy trình kỹ thuật ứng dụng hệ
thống thông tin địa lý và bản đồ số. Các nội dung trọng tâm bao gồm chuẩn hóa
và tích hợp cơ sở dữ liệu di tích; xây dựng hệ thống thông tin gắn với vị trí
địa lý; phân tích mối quan hệ không gian giữa di tích với khu dân cư, giao
thông và các không gian văn hóa liên quan; đồng thời đề xuất cơ chế cập nhật,
khai thác dữ liệu và phối hợp giữa các chủ thể quản lý. Trên cơ sở đó, nghiên
cứu nhấn mạnh rằng chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở số hóa hồ sơ và tư liệu
mà cần hướng tới đổi mới phương thức quản lý, nâng cao chất lượng thông tin và
tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Từ
trường hợp phường Từ Sơn, bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách về hoàn
thiện cơ sở dữ liệu, ứng dụng GIS và bản đồ số, phân định trách nhiệm cập nhật
thông tin, nâng cao năng lực nhân lực và triển khai chuyển đổi số theo lộ trình
phù hợp với điều kiện địa phương. Nghiên cứu góp phần gợi mở khung tiếp cận chuyển
đổi số trong quản lý di tích theo hướng tích hợp dữ liệu, quản lý không gian và
bảo tồn di sản dựa vào cộng đồng.
Từ khóa: chuyển đổi số; quản lý di tích; di sản văn hóa;
GIS; bản đồ số; phường Từ Sơn; Bắc Ninh.
DIGITAL TRANSFORMATION IN HERITAGE SITE
MANAGEMENT: THE CASE OF
TU SON WARD, BAC NINH CITY
ABSTRACT
Digital
transformation is opening up new approaches in the management of historical and
cultural relics, contributing to improving the ability to store, connect,
exploit information and support decision-making. This study focuses on
analyzing the ability to apply digital transformation in monument management in
Tu Son ward, Bac Ninh city, based on an interdisciplinary approach between
cultural heritage management, information technology and geography. The study
combines document analysis, field surveys, review of management status and
proposal of technical procedures for applying geographic information systems
and digital maps. Key contents include standardization and integration of relic
databases; building an information system linked to geographical location;
Analyze the spatial relationship between monuments and residential areas,
traffic and related cultural spaces; At the same time, propose a mechanism for
updating, exploiting data and coordinating between management entities. On that
basis, the study emphasizes that digital transformation does not stop at
digitizing records and documents but needs to aim at innovating management
methods, improving information quality and increasing community participation
in preserving and promoting heritage values. From the case of Tu Son ward, the
article proposes some policy implications on perfecting the database, applying
GIS and digital maps, delineating responsibilities for updating information,
improving human resource capacity and implementing digital transformation
according to a roadmap suitable to local conditions. The research contributes
to suggesting a digital transformation approach in monument management towards
data integration, spatial management and community-based heritage conservation.
Keywords:
digital transformation; heritage-site management; cultural heritage; GIS;
digital map; Tu Son Ward; Bac Ninh.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Quyết
định số 2026/QĐ-TTg ngày 2/12/2021 phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa
Việt Nam giai đoạn 2021–2030 xác định mục tiêu xây dựng hệ thống dữ liệu số
thống nhất, phục vụ lưu trữ, quản lý, nghiên cứu, bảo tồn, khai thác và quảng
bá di sản; đồng thời nhấn mạnh khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu và ứng dụng
bản đồ số. Đây là cơ sở chính sách quan trọng để địa phương phát triển các mô
hình số hóa phù hợp với quy mô và năng lực thực tế. (Thủ tướng Chính phủ, 2021;
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2021).
Sự hợp nhất địa giới cấp tỉnh Bắc Giang (cũ), Bắc Ninh
(cũ) trở thành thành phố Bắc Ninh và việc tổ chức lại đơn vị hành chính cấp xã
từ năm 2025 đặt ra yêu cầu rà soát dữ liệu, hồ sơ, trách nhiệm quản lý và cách
thức kết nối giữa các địa bàn trước đây. Theo thông tin công khai của tỉnh,
phường Từ Sơn mới được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên của bốn
phường Đông Ngàn, Đình Bảng, Tân Hồng và Phù Chẩn; chính thức hoạt động từ ngày
1/7/2025. Địa bàn mới có diện tích tự nhiên 20,31 km², dân số trên 69.000 người
và 30 khu phố theo thông tin tại Đại hội Đảng bộ phường tháng 8/2025. Những
thay đổi này khiến việc thống nhất mã di tích, địa chỉ, bản đồ, hồ sơ pháp lý
và đầu mối cập nhật trở thành một nhiệm vụ thiết thực. (Cổng thông tin điện tử
tỉnh Bắc Ninh, 2025).
Trong
quản lý di tích cấp cơ sở, dữ liệu thường hình thành từ nhiều nguồn: hồ sơ xếp
hạng và khoanh vùng bảo vệ; hồ sơ kiểm kê; bản vẽ, ảnh và tài liệu tu bổ; biên
bản kiểm tra; sổ công đức, lễ hội; tư liệu do ban quản lý, người trông coi,
dòng họ hoặc cư dân lưu giữ; bản đồ địa chính và quy hoạch. Những nguồn này có
thể khác nhau về thời điểm lập, cách ghi tên, hệ tọa độ, mức độ đầy đủ và quyền
tiếp cận. Nếu chưa có quy trình liên kết, thông tin có nguy cơ phân tán, trùng
lặp hoặc khó dùng khi cần đánh giá hiện trạng, lập kế hoạch tu bổ, kiểm soát
xây dựng lân cận hay xây dựng tuyến tham quan.
Khoảng
trống cần giải quyết không chỉ là thiếu thiết bị hoặc phần mềm, mà còn là thiếu
một mô hình quản trị dữ liệu phù hợp cấp phường: dữ liệu nào cần có; ai là
người tạo lập và xác nhận; ai được quyền sửa; thông tin nào công khai; dữ liệu
nào cần bảo vệ; làm thế nào kết nối bản đồ với hồ sơ pháp lý và thực hành văn
hóa; và làm thế nào để cộng đồng không bị biến thành đối tượng cung cấp tư liệu
thụ động. Bài viết tiếp cận những câu hỏi này bằng cách đặt GIS trong quan hệ với
quản lý hành chính và nhân học văn hóa.
Nghiên
cứu có mục đích đề xuất khung thực hiện chuyển đổi số trong công tác quản lý di
tích tại phường Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, theo hướng tích hợp dữ liệu, quản trị
không gian và phát huy vai trò cộng đồng. Ba câu hỏi nghiên cứu chính được đặt
ra: (1) Chuyển đổi số có thể hỗ trợ những khâu nào trong chu trình quản lý di
tích tại phường Từ Sơn? (2) GIS và dữ liệu không gian có thể kết nối hồ sơ di
tích với cảnh quan, dân cư, hạ tầng và không gian thực hành văn hóa ra sao? (3)
Cần những điều kiện thể chế, kỹ thuật và xã hội nào để hệ thống số vận hành bền
vững, thay vì dừng ở một dự án số hóa ngắn hạn?
2. CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Nghiên
cứu sử dụng bốn nhóm dữ liệu. Nhóm thứ nhất là văn bản pháp luật và chính sách,
gồm chương trình chuyển đổi số quốc gia, Chương trình số hóa Di sản văn hóa
Việt Nam giai đoạn 2021–2030, các quy định về di sản văn hóa, quy hoạch và quản
lý hành chính có liên quan. Nhóm thứ hai là dữ liệu địa phương công
khai, gồm thông tin thành lập phường, giới thiệu địa lý, danh mục di tích đăng
tải trên cổng thông tin phường và các văn bản/đề án do cơ quan có thẩm quyền
công bố. Danh mục di tích trên địa bàn, thông tin trên cổng công khai cần được
đối chiếu với hồ sơ gốc và cơ quan chuyên môn trước khi đưa vào cơ sở dữ liệu
chính thức. (UBND phường Từ Sơn, 2026). Nhóm thứ ba là dữ liệu địa lý và viễn
thám: bản đồ nền địa lý, ranh giới hành chính, bản đồ nền địa hình, ảnh vệ
tinh. Nhóm thứ tư là dữ liệu thực địa cần thu thập bổ sung: tọa độ di tích; ảnh
chụp có định hướng; sơ đồ mặt bằng; hiện trạng kiến trúc; tình trạng xuống cấp;
hoạt động tu bổ; thông tin về lễ hội, nghi lễ và thực hành văn hóa; phỏng vấn
cán bộ chuyên môn, người trông coi, đại diện ban quản lý, người cao tuổi, nghệ
nhân, hộ dân lân cận và người làm du lịch.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Phân tích tài liệu và chính sách
Phương
pháp phân tích tài liệu được dùng để xác định mục tiêu chính sách, trách nhiệm
của các cấp quản lý, yêu cầu số hóa và nguyên tắc bảo vệ di sản. Tài liệu được
phân loại theo nhóm: pháp lý; quản trị dữ liệu; quản lý di tích; bản đồ và GIS;
bảo tồn dựa vào cộng đồng. Với từng văn bản, cần ghi nhận tên, số hiệu, ngày
ban hành, cơ quan ban hành, phạm vi điều chỉnh, tình trạng hiệu lực và nội dung
liên quan trực tiếp đến chuyển đổi số.
Kiểm kê và chuẩn hóa dữ liệu
Kiểm kê
dữ liệu được thực hiện bằng cách lập bảng kê tất cả nguồn thông tin hiện có,
đánh giá mức độ đầy đủ, tính thống nhất, độ tin cậy và quyền sử dụng. Mỗi bản
ghi di tích cần có mã định danh duy nhất không phụ thuộc tên gọi hoặc địa chỉ.
Các trường dữ liệu tối thiểu gồm tên chuẩn, tên khác, loại hình, cấp xếp hạng,
số và ngày quyết định, địa chỉ hiện hành, địa danh lịch sử, tọa độ, diện tích
hoặc ranh giới đã được xác nhận, chủ thể quản lý, tình trạng hồ sơ, nguồn dữ
liệu và thời điểm cập nhật. Những thông tin chưa xác minh cần được đánh dấu “chờ
kiểm chứng”, không điền suy đoán.
Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS)
GIS
được sử dụng để tích hợp dữ liệu thuộc tính với dữ liệu tọa độ, hiển thị phân
bố di tích, kiểm tra quan hệ giữa di tích và các lớp không gian, đồng thời hỗ
trợ truy vấn phục vụ quản lý. Quy trình cơ bản gồm: lựa chọn hệ tọa độ phù hợp;
chuẩn hóa lớp dữ liệu; kiểm tra hình học; thiết lập mã liên kết; số hóa ranh
giới từ hồ sơ được xác nhận; đối chiếu thực địa; xây dựng bản đồ chuyên đề; và
công bố các lớp phù hợp với quyền truy cập.
3. KẾT QUẢ VÀ THẢO
LUẬN
3.1. Di tích lịch sử phường Từ Sơn, thành
phố Bắc Ninh
Phường Từ Sơn mới thực thuộc thành phố Bắc Ninh, khu vực
phía Nam phường giáp với Hà Nội, phía Bắc và Đông là khu vực Tiên Du, Đại
Thượng, Đại Trung, phía Tây giáp với Phù Khê và Hà Nội. Việc hợp nhất các
phường có lịch sử hành chính và cấu trúc cộng đồng riêng tạo ra một không gian
quản lý rộng hơn, trong khi ký ức địa phương, tên làng, mạng lưới tín ngưỡng và
tập quán tổ chức lễ hội vẫn có thể gắn chặt với các cộng đồng trước sắp xếp. Do
đó, quản lý di tích sau sắp xếp cần đồng thời đạt hai mục tiêu: thống nhất về
quy trình và dữ liệu ở cấp phường, nhưng không làm phẳng khác biệt văn hóa –
lịch sử giữa các khu dân cư.
Danh
mục công khai của phường Từ Sơn đề cập đến các địa điểm như Đền Đô, Lăng vua Lý
Thái Tổ, Lăng vua Lý Anh Tông, Lăng vua Lý Thần Tông, Đình Đình Bảng, Nhà cụ
Đám Thi, Từ đường Nguyễn Thạc, Chùa Kim Đài và một số địa điểm khác, với cấp
xếp hạng được ghi theo từng trường hợp. Danh sách này gợi mở sự đa dạng của tài
nguyên di tích: di tích lịch sử, kiến trúc – nghệ thuật, địa điểm gắn với nhân
vật lịch sử và không gian tín ngưỡng. Tuy nhiên, trước khi lập danh mục dùng
cho quản lý chính thức, cần đối chiếu tên gọi, cấp xếp hạng, phạm vi khoanh
vùng và quyết định pháp lý gốc (UBND phường Từ Sơn, 2026).
Sự đa
dạng loại hình dẫn đến yêu cầu dữ liệu khác nhau. Với di tích kiến trúc, cần ưu
tiên hồ sơ mặt bằng, cấu kiện, vật liệu, tình trạng hư hại, ảnh theo thời gian
và lịch sử tu bổ. Với di tích lịch sử gắn với nhân vật hoặc sự kiện, cần hệ
thống hóa tư liệu lịch sử, nguồn trích dẫn, mốc thời gian và địa điểm liên
quan. Với di tích đang là nơi thực hành tín ngưỡng, cần ghi nhận lịch hoạt
động, chủ thể thực hành, quy tắc sử dụng không gian và nhu cầu của cộng đồng,
đồng thời hạn chế công khai các thông tin riêng tư hoặc nghi lễ không phù hợp.
3.2. Bản đồ di sản số và vai trò của GIS
Bản đồ
di sản số cần vượt khỏi chức năng đánh dấu điểm tham quan. Một hệ thống hữu ích
nên có nhiều lớp theo mục đích: (i) lớp điểm và phạm vi di tích; (ii) lớp khu
vực bảo vệ theo hồ sơ pháp lý; (iii) lớp công trình thành phần và hiện trạng;
(iv) lớp đường giao thông, lối tiếp cận và hạ tầng; (v) lớp khu dân cư và địa
danh lịch sử; (vi) lớp sự kiện, lễ hội và tuyến thực hành văn hóa; (vii) lớp
kiểm tra, tu bổ và rủi ro. Các lớp nhạy cảm chỉ hiển thị cho nhóm được phân
quyền.
GIS hỗ
trợ kiểm tra sự tương quan giữa di tích và thay đổi sử dụng đất. Chẳng hạn, khi
có đề xuất xây dựng hoặc chỉnh trang đường gần khu di tích, cán bộ có thể chồng
xếp vị trí dự án với ranh giới bảo vệ đã được xác minh, sau đó chuyển hồ sơ cho
cơ quan chuyên môn đánh giá theo pháp luật. Đây là công cụ cảnh báo và hỗ trợ
phối hợp, không phải cơ chế tự động kết luận công trình vi phạm.
Phân
tích mạng lưới có thể hỗ trợ xây dựng tuyến tham quan theo nhóm chủ đề, chẳng
hạn tuyến lịch sử triều Lý, tuyến kiến trúc – nghệ thuật, hoặc tuyến kết nối di
tích với các không gian văn hóa cộng đồng. Tuyến tham quan cần cân nhắc sức
chịu tải, lịch nghi lễ, thời gian di chuyển, an toàn giao thông, vệ sinh và lợi
ích của cư dân. Không nên tối ưu tuyến chỉ theo khoảng cách ngắn nhất hoặc số
điểm đến nhiều nhất.
Một
hướng phát triển có giá trị là tích hợp ảnh theo thời gian. Ảnh chụp cùng góc,
cùng vị trí qua các đợt kiểm tra có thể giúp so sánh biến đổi mái, tường, nền,
cây xanh và cảnh quan. Với công trình có giá trị kiến trúc cao hoặc có nguy cơ
xuống cấp, ảnh 360 độ, quét laser hoặc mô hình ba chiều có thể hỗ trợ lưu giữ
trạng thái trước tu bổ. Tuy nhiên, công nghệ này nên được ưu tiên theo mức độ
rủi ro và giá trị di tích, bởi chi phí thu thập, lưu trữ và xử lý dữ liệu lớn.
Việc
theo dõi biến đổi không gian cũng cần kết nối với kế hoạch đô thị và môi
trường. Các lớp dữ liệu về thoát nước, ngập cục bộ, cây xanh, giao thông, hoạt
động xây dựng và mật độ sử dụng không gian có thể giúp xác định những điểm cần
kiểm tra định kỳ. Chỉ những dữ liệu đã được cơ quan có thẩm quyền cung cấp hoặc
xác minh mới nên dùng làm căn cứ cho quyết định quản lý.
Hình 1. Bản đồ số hóa di tích và tích hợp thông tin quản lý
Số hóa hồ sơ cần được thực hiện theo nguyên tắc ưu tiên,
không chạy theo số lượng tệp. Trước hết, phường cần kiểm kê hồ sơ hiện có và
xác định tài liệu nào là bản gốc, bản sao, bản dự thảo hoặc tài liệu tham khảo.
Tài liệu quan trọng nên được quét ở độ phân giải phù hợp, đặt tên tệp theo quy
tắc thống nhất, gắn mã di tích và sao lưu ở ít nhất hai môi trường lưu trữ độc
lập. Với hồ sơ có giá trị pháp lý, bản số hóa không làm mất yêu cầu bảo quản
bản gốc theo quy định.
Ảnh
hiện trạng nên được tổ chức theo chuỗi thời gian và vị trí chụp. Mỗi ảnh cần có
mã di tích, ngày chụp, người chụp, hướng nhìn, hạng mục và mô tả ngắn. Khi có
dấu hiệu xuống cấp, ảnh cần đi kèm phiếu ghi nhận, mức độ ưu tiên kiểm tra và
trạng thái xử lý. Cách làm này biến ảnh từ tư liệu minh họa thành dữ liệu phục
vụ theo dõi.
Đối với
giá trị phi vật thể, số hóa có thể bao gồm ghi âm lời kể, ghi hình lễ hội, số
hóa gia phả hoặc thần tích được phép tiếp cận, lập bản đồ tuyến rước, biên soạn
từ điển địa danh và xây dựng kho tư liệu ký ức. Nhưng đây là lĩnh vực cần thận
trọng hơn dữ liệu kiến trúc. Cộng đồng có thể có quy tắc về người được phép
thực hiện nghi lễ, thời điểm ghi hình, nội dung không công khai và quyền sử
dụng hình ảnh. Vì vậy, đồng thuận cộng đồng phải là một phần của quy trình dữ
liệu, không phải thủ tục bổ sung sau khi đã ghi hình.
Số hóa
cũng cần tránh đóng khung văn hóa như một thực hành bất biến. Lễ hội và nghi lễ
có thể thay đổi theo thế hệ, điều kiện xã hội, quy định an toàn và hoàn cảnh
lịch sử. Cơ sở dữ liệu nên ghi nhận nguồn, thời điểm và bối cảnh của tư liệu,
phân biệt giữa thực hành hiện nay, ký ức cá nhân và tư liệu lịch sử, tránh biến
một lời kể đơn lẻ thành sự thật duy nhất.
3.3. Quản lý tu bổ và can thiệp
Mỗi
hoạt động tu bổ cần được quản lý như một chuỗi hồ sơ: đề xuất, khảo sát, phương
án được phê duyệt, đơn vị thực hiện, nhật ký công việc, ảnh trước – trong –
sau, nghiệm thu và bảo hành. Dữ liệu số giúp so sánh hiện trạng trước và sau
can thiệp, hạn chế thất lạc hồ sơ và hỗ trợ đánh giá tích lũy theo thời gian.
Đặc biệt, cần ghi rõ những thay đổi vật liệu, cấu kiện hoặc cảnh quan và cơ sở
chuyên môn của quyết định, tránh để mô hình số trở thành hồ sơ quảng bá mà
thiếu chứng cứ kỹ thuật.
Một
kênh tiếp nhận phản ánh đơn giản có thể giúp người dân báo tin về dấu hiệu
xuống cấp, xâm hại, vệ sinh môi trường, biển chỉ dẫn hư hỏng hoặc thông tin
lịch sử chưa chính xác. Phản ánh cần được phân loại, xác minh và chuyển đúng cơ
quan xử lý. Không nên công bố công khai danh tính người phản ánh nếu chưa có sự
đồng ý. Cơ chế phản hồi rõ ràng giúp tăng niềm tin và tạo điều kiện để cư dân
tham gia bảo vệ di tích.
3.4. Phát huy giá trị di tích và du lịch văn hóa có trách nhiệm
Bản đồ
di sản số có thể hỗ trợ xây dựng tuyến tham quan, cung cấp thông tin trước
chuyến đi, giới thiệu câu chuyện lịch sử và kết nối di tích với dịch vụ địa
phương. Tuy nhiên, mục tiêu phát huy giá trị không nên được đo chỉ bằng lượt
quét mã QR hoặc lượt truy cập trang web. Cần đánh giá liệu thông tin có chính
xác; khách tham quan có hiểu hơn về giá trị di tích; hoạt động du lịch có tôn
trọng nghi lễ; và lợi ích có được chia sẻ công bằng với cộng đồng hay không.
Nội
dung số nên được phân tầng. Lớp cơ bản gồm thông tin xác thực về tên, địa chỉ,
lịch sử khái quát, quy tắc ứng xử và khả năng tiếp cận. Lớp chuyên sâu gồm hồ
sơ kiến trúc, tư liệu lịch sử và nghiên cứu chuyên môn. Lớp cộng đồng có thể
gồm lời kể, ký ức và nội dung do cư dân đóng góp với sự đồng thuận. Cách phân
tầng vừa phục vụ nhiều nhóm người dùng vừa hạn chế việc giản lược di tích thành
sản phẩm tiêu dùng.
Khi
thiết kế tuyến, GIS có thể giúp tính toán thời gian di chuyển, liên kết giao
thông và phân bố điểm dừng. Nhưng việc chọn tuyến phải có tham vấn ban quản lý,
cư dân và cơ quan chuyên môn, nhất là vào ngày lễ hội. Cần tránh đưa khách vào
không gian riêng tư, cản trở nghi lễ hoặc gây áp lực lên các công trình dễ tổn
thương. Trường hợp dữ liệu sức chứa chưa có, không nên công bố một con số sức
tải giả định; cần đánh giá thực địa trước khi đặt giới hạn.
4. KẾT LUẬN
Chuyển
đổi số trong quản lý di tích ở phường Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, là yêu cầu gắn với
cả đổi mới quản trị công và bảo tồn di sản trong không gian đô thị đang biến
đổi. Việc hình thành đơn vị hành chính mới từ các phường Đông Ngàn, Đình Bảng,
Tân Hồng và Phù Chẩn làm tăng nhu cầu thống nhất danh mục, địa chỉ, hồ sơ pháp
lý và quy trình phối hợp, đồng thời đặt ra yêu cầu bảo lưu tên gọi lịch sử và
bản sắc văn hóa của các cộng đồng địa phương.
Bài
viết đề xuất cách tiếp cận tích hợp giữa cơ sở dữ liệu di tích, bản đồ GIS, số
hóa hồ sơ, theo dõi hiện trạng, quản lý tu bổ và tư liệu hóa thực hành văn hóa.
Trong mô hình này, dữ liệu không gian giúp liên kết di tích với vùng bảo vệ,
cảnh quan, giao thông và quy hoạch; dữ liệu thuộc tính giúp quản lý hồ sơ, hiện
trạng và trách nhiệm; còn dữ liệu nhân học giúp ghi nhận ký ức, nghi lễ, chủ
thể thực hành và các quy tắc văn hóa mà hồ sơ hành chính thường không phản ánh
đầy đủ.
Để
triển khai hiệu quả, địa phương cần ưu tiên kiểm kê và chuẩn hóa dữ liệu trước
khi đầu tư các công nghệ phức tạp; thiết lập mã định danh duy nhất; phân công
rõ trách nhiệm cập nhật; xây dựng bản đồ số theo các lớp có mục đích; thực hiện
phân quyền và sao lưu; đào tạo cán bộ; đồng thời bảo đảm cộng đồng tham gia
thực chất vào quá trình thu thập, thẩm định và công bố tư liệu. Lộ trình theo
giai đoạn từ rà soát dữ liệu, thí điểm, mở rộng đến vận hành bền vững giúp giảm
rủi ro và phù hợp với năng lực nguồn lực cấp phường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2021). Phê duyệt Chương trình số hóa Di sản
văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021–2030.
https://bvhttdl.gov.vn/phe-duyet-chuong-trinh-so-hoa-di-san-van-hoa-viet-nam-giai-doan-2021-2030-20211202203045238.htm
2. Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh (2025). Đến năm 2030 đưa Từ Sơn trở thành
trung tâm văn hóa, kinh tế, thương mại, dịch vụ. Tin ngày 18/8/2025.
https://bacninh.gov.vn/vi/news/-/details/37632/-en-nam-2030-ua-tu-son-tro-thanh-trung-tam-van-hoa-kinh-te-thuong-mai-dich-vu-11655708
3. Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 2026/QĐ-TTg ngày 02/12/2021 phê duyệt
Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021–2030. Tra cứu tại
Cổng thông tin điện tử Chính phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
4. UBND phường Từ Sơn
(2025), Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2025.
5. UBND phường Từ Sơn
(2026), Kết quả công tác 6 tháng đầu năm 2026, phương hướng nhiệm vụ 6 tháng
cuối năm 2026.
6. UBND phường Từ Sơn
(2026), Di tích phường Từ Sơn.
7. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025), Nghị quyết số 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị
hành chính cấp tỉnh; và Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025), Nghị quyết số
1658/NQ-UBTVQH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Bắc Ninh năm
2025. Tra cứu tại Cổng thông tin điện tử Chính phủ.
8. Ủy ban Thường vụ Quốc
hội (2025), Nghị quyết số 1658/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các
đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Bắc Ninh (mới), có hiệu lực từ ngày 01/7/2025