Tọa đàm khoa học “Rà soát, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh theo Nghị quyết số 66-NQ/TW: Cơ sở khoa học và kiến nghị chính sách”
Thực hiện yêu cầu của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Viện Nhà nước và Pháp luật về việc nghiên cứu Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, phòng Pháp luật Kinh tế đã tổ chức Tọa đàm khoa học với chủ đề “Rà soát, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh theo Nghị quyết số 66-NQ/TW: Cơ sở khoa học và kiến nghị chính sách”. Tọa đàm được tổ chức ngày 27/3/2026 tại Hội trường tầng 2, trụ sở 27 Xuân Soạn, Hà Nội.
PGS.TS. Phạm Thị Thúy Nga, Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật và các nhà khoa học của Viện tham dự tọa đàm. Chủ trì tọa đàm là TS. Phạm Thị Hương Lan, Trưởng phòng Pháp luật Kinh tế.

ThS. Nguyễn Thu Dung trình bày tham luận
Tọa đàm mở đầu với tham luận của ThS. Nguyễn Thu Dung có chủ đề “Nâng cao tính thực chất trong cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư kinh doanh theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW”. Điều kiện đầu tư kinh doanh được hiểu là các yêu cầu pháp lý nhằm kiểm soát hoạt động kinh doanh nhưng cũng là công cụ hạn chế quyền tự do kinh doanh, do đó phải tuân thủ các nguyên tắc hợp pháp, chính đáng, cần thiết và tương xứng. Việc cắt giảm là cần thiết để giảm chi phí tuân thủ, thúc đẩy gia nhập thị trường và thích ứng với nền kinh tế số. Tuy nhiên, tính “thực chất” đòi hỏi phải giảm thật sự nghĩa vụ pháp lý, chi phí và thời gian tuân thủ cho doanh nghiệp chứ không chỉ thay đổi hình thức hoặc “ẩn” điều kiện dưới dạng khác như quy chuẩn kỹ thuật.
Thực tiễn cho thấy dù đã đạt mục tiêu cắt giảm khoảng 20% quy định, vẫn tồn tại nhiều vấn đề như điều kiện kinh doanh bị “ẩn”, phát sinh rào cản mới, chạy theo số lượng thay vì chất lượng, và tư duy quản lý “không quản được thì cấm”. Ngoài ra, quá trình xây dựng chính sách còn thiếu bằng chứng thực chứng và sự tham gia hiệu quả của doanh nghiệp. Nguyên nhân chủ yếu là do tiêu chí pháp lý còn chung chung, ranh giới giữa điều kiện kinh doanh và quy chuẩn kỹ thuật chưa rõ ràng, cùng với năng lực hậu kiểm hạn chế.
Tác giả đề xuất các giải pháp lập pháp như làm rõ khái niệm và tiêu chí điều kiện kinh doanh, phân biệt với quy chuẩn kỹ thuật và áp dụng quản trị rủi ro dựa trên bằng chứng. Đồng thời, cần đổi mới thực thi bằng cách đánh giá theo chất lượng thay vì số lượng, tăng cường RIA, minh bạch hóa giải trình chính sách và nâng cao năng lực cán bộ. Cuối cùng, việc tăng cường tham vấn doanh nghiệp và trách nhiệm giải trình sẽ góp phần bảo đảm cải cách thực chất và bền vững hơn.

TS. Phạm Thị Hương Lan cho rằng vẫn có tình trạng một số bộ ngành cắt giảm các điều kiện đầu tư kinh doanh chỉ mang tính hình thức
Chia sẻ quan điểm với tác giả, TS. Phạm Thị Hương Lan cho rằng, vẫn có tình trạng một số bộ ngành cắt giảm các điều kiện đầu tư kinh doanh chỉ mang tính hình thức. Chẳng hạn, trong lĩnh vực môi trường, với nội dung đánh giá tác động môi trường, các thủ tục được gộp lại để đảm bảo có cắt giảm nhưng thực chất các nội dung vẫn do Nhà nước kiểm soát và các doanh nghiệp đều phải tuân theo các thủ tục hành chính mà Nhà nước đặt ra từ trước.
Bàn về việc rà soát điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ tài chính ở Việt Nam, bài viết của TS. Chu Thị Thanh An cho biết, trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, fintech (financial technology) được hiểu là sự kết hợp giữa công nghệ và tài chính, không chỉ cải tiến mà còn tạo ra các mô hình kinh doanh và hệ sinh thái tài chính mới. Lĩnh vực này có các đặc điểm như phụ thuộc vào dữ liệu và công nghệ, đổi mới nhanh, rủi ro đa chiều và tính xuyên biên giới cao. Sự tham gia của nhiều chủ thể như startup, ngân hàng và các công ty công nghệ lớn làm thay đổi cấu trúc thị trường tài chính truyền thống.

TS. Chu Thị Thanh An với phần trình bày về rà soát điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ tài chính
Khung pháp lý về fintech tại Việt Nam đã từng bước hình thành từ thí điểm đến xây dựng hệ sinh thái và gần đây là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox). Nghị định số 94/2025/NĐ-CP đánh dấu bước tiến quan trọng khi thiết lập hành lang pháp lý cho thử nghiệm các mô hình fintech trong lĩnh vực ngân hàng. Cơ chế sandbox quy định cụ thể điều kiện tham gia, phạm vi, thời gian thử nghiệm và trách nhiệm của các tổ chức liên quan. Đặc biệt, mô hình cho vay ngang hàng (P2P lending) được kiểm soát chặt chẽ với các điều kiện bổ sung nhằm hạn chế rủi ro và bảo vệ người tiêu dùng. Tuy nhiên, khung pháp lý hiện hành vẫn còn hạn chế như phạm vi thử nghiệm còn hẹp, tiêu chí chưa rõ ràng và thiếu cơ chế phối hợp liên ngành. Do đó, bài viết đề xuất cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật theo hướng minh bạch, linh hoạt và đồng bộ để vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo vừa đảm bảo an toàn hệ thống tài chính.
Tiếp theo, ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga trình bày báo cáo “Rà soát điều kiện kinh doanh khoáng sản: Thực trạng và kiến nghị”. Hệ thống điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực khoáng sản được xây dựng khá toàn diện, bao phủ nhiều khía cạnh như năng lực tài chính, công nghệ, môi trường và an toàn lao động. Lĩnh vực này có tính đặc thù do gắn với tài nguyên không tái tạo và thuộc sở hữu toàn dân, nên Nhà nước kiểm soát chặt chẽ thông qua các điều kiện kinh doanh. Việc gia nhập thị trường bị hạn chế cao, doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều tiêu chí và phụ thuộc vào cơ chế cấp phép hành chính.
ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga với tham luận về rà soát điều kiện kinh doanh khoáng sản
Các điều kiện kinh doanh đóng vai trò kiểm soát rủi ro, phân bổ tài nguyên và bảo vệ lợi ích công cộng. Tuy nhiên, hệ thống hiện hành vẫn còn tồn tại hạn chế như thiếu minh bạch, còn chồng chéo và gây khó khăn cho doanh nghiệp. Một số điều kiện còn mang tính định tính, chưa được chuẩn hóa nên dễ bị áp dụng tùy nghi. Thủ tục hành chính còn trùng lặp, đặc biệt giữa các quy định về khoáng sản và môi trường, làm tăng chi phí tuân thủ.
Do đó, theo ThS. Nguyễn Thị Bảo Nga, cần áp dụng phương pháp quản lý dựa trên rủi ro để điều chỉnh mức độ điều kiện phù hợp với từng loại dự án. Đồng thời, cần chuẩn hóa, minh bạch hóa tiêu chí và tích hợp các thủ tục nhằm giảm gánh nặng cho doanh nghiệp. Cuối cùng, việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi là yếu tố quyết định để cải cách điều kiện kinh doanh một cách thực chất và bền vững.
TS. Phạm Thị Thúy Nga cho rằng bài viết của ThS. Nguyễn Thu Dung cần làm rõ hơn nữa khái niệm về tính thực chất trong cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư kinh doanh
Trao đổi về tham luận của ThS. Nguyễn Thu Dung, TS. Phạm Thị Thúy Nga cho rằng, có 3 câu hỏi chính liên quan đến bài viết này, đó là: (i) Việc cắt giảm điều kiện kinh doanh đã thật sự hiệu quả chưa; (i) Sau khi cắt giảm xong thì có giảm được chi phí tuân thủ, tính khả đoán của pháp lý có tăng lên không; (iii) Đến năm 2028, để hoàn thiện được pháp luật về đầu tư kinh doanh có nên đặt ra cơ chế hay kiến nghị gì không. Tác giả cần làm rõ hơn nữa khái niệm về tính thực chất trong cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư kinh doanh, bao gồm những yếu tố gì.
Về lĩnh vực công nghệ tài chính, TS. Phạm Thị Hương Lan đặt câu hỏi, trong bối cảnh chuyển đổi số, xu hướng toàn cầu hóa, vì sao cơ chế thử nghiệm có kiểm soát mới chỉ thực hiện ở Việt Nam mà chưa được phép áp dụng xuyên biên giới? Theo ThS. Phạm Thị Hiền, có lẽ vì đang thử nghiệm nên cơ chế này cần thực hiện ở phạm vi hẹp để dễ quản lý và kiểm soát hơn là khi đã áp dụng xuyên biên giới. Về giải pháp nâng cao tính thực chất trong cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện đầu tư kinh doanh, ThS. Phạm Thị Hiền cho rằng, bên cạnh việc nâng cao vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp kinh doanh thì cũng cần đề cao hơn nữa vai trò trực tiếp của các doanh nghiệp bởi cũng có những hiệp hội không thực sự đại diện cho doanh nghiệp, chỉ hoạt động cho có, không nắm được tình hình hoạt động của các doanh nghiệp thành viên.

ThS. Phạm Thị Hiền trao đổi tại tọa đàm
Tọa đàm cũng đón nhận những ý kiến trao đổi, thảo luận của PGS.TS. Dương Quỳnh Hoa, PGS.TS. Hoàng Kim Khuyên, TS. Nguyễn Tiến Đức và các nhà khoa học khác về các vấn đề liên quan đến: tiêu chí đánh giá tính thực chất trong cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, quản trị rủi ro và tăng cường hậu kiểm…
Tọa đàm đã diễn ra thành công. Sau tọa đàm, phòng Pháp luật Kinh tế sẽ có báo cáo tư vấn chính sách gửi Viện Hàn lâm trong thời gian tới.