Hội đồng Khoa học nghiệm thu Nhiệm vụ Khoa học công nghệ cấp cơ sở: “Truyền thông số trong Du lịch văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh”
Chiều ngày 27/10/2026, tại Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ đã diễn ra phiên họp Hội đồng khoa học nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở: “Truyền thông số trong du lịch văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh”, do TS. Nguyễn Thị Trúc Bạch (Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa và Hội nhập) làm Chủ nhiệm, cùng nhóm nghiên cứu gồm TS. Huỳnh Vĩnh Phúc, ThS. Nguyễn Thị Bảo Hà và các thành viên.
Hội đồng nghiệm thu được thành lập theo quyết định của Viện
trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, quy tụ các nhà khoa học, chuyên gia
giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực văn hóa học, du lịch và truyền thông: Chủ tịch
Hội đồng: PGS. TS. Vũ Tuấn Hưng; Phản biện 1: TS. Hoàng Anh Tuấn; Phản biện 2:
TS. Tạ Duy Linh; Ủy viên: TS. Nguyễn Đức Tuấn; Ủy viên: TS. Nguyễn Khánh Trung
Kiên; Đại diện Bộ phận Quản lý Khoa học: ThS. Từ Thị Phi Điệp.
Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở mã số NB/NV/2026-03
Trình bày trước Hội đồng, TS. Nguyễn Thị Trúc Bạch cho biết,
trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW (ngày 07/01/2026) về phát triển
văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 26-NQ/TW (ngày 22/8/2026) về phát triển du lịch
trong kỷ nguyên mới, bài toán đặt ra cho các đô thị trung tâm là làm thế nào để
văn hóa thực sự là nền tảng, là bản sắc cốt lõi của du lịch thay vì chỉ đóng
vai trò chất liệu thị giác thuần túy phục vụ quảng bá.
Phần lớn các nghiên cứu trong nước trước đây về truyền thông
số trong du lịch tiếp cận dưới lăng kính quản trị học và marketing (đo lường nhận
biết điểm đến hay hành vi tiêu dùng). Đề tài đã tạo lập một bước tiến lý luận mới
khi chuyển dịch sang hướng tiếp cận văn hóa học và nhân học văn hóa (với ba trụ
cột: chỉnh thể, tương đối văn hóa và quan điểm người trong cuộc), xem truyền
thông số là một tiến trình xã hội của thực hành tạo nghĩa và lưu chuyển biểu tượng.
Đặc biệt, nghiên cứu đã vận dụng và phát triển mô hình vòng
mạch văn hóa, đưa cặp phạm trù kinh điển “xác – hồn” vào không gian số và lý
thuyết hóa bằng khái niệm “khúc xạ giá trị”. Khái niệm này cho phép nhận diện một
cách khoa học hiện tượng các giá trị văn hóa bị biến đổi, phân tán khi đi qua
các môi trường truyền dẫn số và cơ chế thuật toán, phân loại thành 4 dạng khúc
xạ cụ thể: khúc xạ mở rộng, khúc xạ chuyển hướng, khúc xạ thu hẹp và khúc xạ
méo lệch. Qua đó, đề tài cảnh báo sâu sắc về xu hướng “chỉ số hóa” giá trị văn
hóa – nguy cơ đánh đồng lượt xem, tương tác bề nổi (phần “xác”) với sự thấu cảm
chiều sâu di sản (phần “hồn”).
Về mặt thực tiễn, đề tài đã tiến hành khảo sát liên phương
pháp kết hợp định tính và định lượng (214 phiếu khảo sát, 22 phỏng vấn sâu/bán
cấu trúc, nhật ký thực địa và phân tích 110 nội dung số) tại hai thiết chế đại
diện cho hai cấu trúc không gian đô thị: Đường sách Nguyễn Văn Bình (không gian
văn hóa đọc mở) và Bảo tàng Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh (thiết chế mỹ thuật chuyên
môn). Đây cũng là công trình nghiên cứu học thuật đầu tiên đặt mô hình Đường
sách TP. Hồ Chí Minh vào hệ thống phân tích lý luận chuyên sâu.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ nghịch lý: hạ tầng kỹ thuật và
công chúng đã ở trạng thái sẵn sàng, nhưng “điểm nghẽn” mang tính cấu trúc lại
nằm ở nội dung diễn giải và nguồn lực con người. Thực trạng này dẫn đến hiện tượng
“hai bảo tàng trên môi trường số” hoặc tình trạng “bớt chất sách” trước áp lực
kinh tế và cơ chế tự chủ tài chính: không gian văn hóa bị biến thành phông nền
thị giác (check-in), trong khi các giá trị tri thức cốt lõi bị che khuất hoặc
thiếu vắng sự hiện diện chủ động từ chính thiết chế.
Trên cơ sở nhận diện các đứt gãy thực tiễn, đề tài đề xuất
Mô hình Chạm Giá trị mang tính đột phá về giải pháp ứng dụng. Từ “Chạm” mang
hàm ý kép: vừa là điểm chạm trong công nghệ số, vừa là nghệ thuật chạm khắc
truyền thống dân tộc, nhấn mạnh yêu cầu truyền thông số phải vượt qua sự lướt
qua thoáng chốc trên màn hình để chạm tới và khắc sâu giá trị vào nhận thức cộng
đồng. Mô hình vận hành theo 3 tầng giá trị (Hình ảnh – Ý nghĩa – Giá trị), dựa
trên 5 trụ cột (Nguồn tri thức gốc; Lối dẫn; Mạng lưới người kể; Không gian
cùng tồn tại; Đo bằng giá trị), kèm theo Ma trận chẩn đoán Sức hút – Chiều sâu
và Bộ chỉ số đo lường 10 chỉ báo.
Giá trị tư vấn chính sách của đề tài thể hiện ở hệ thống
khuyến nghị phân tầng, có tính khả thi cao: Đối với cơ quan quản lý Trung ương
(Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch): Xác lập cơ chế định danh thiết chế văn hóa
là “nguồn dữ liệu nội dung gốc” và tích hợp tiêu chí giá trị văn hóa thực chất
vào bộ chỉ số chuyển đổi số quốc gia. Đối với chính quyền đô thị (UBND TP. Hồ
Chí Minh, Sở Văn hóa & Thể thao, Sở Du lịch): Xây dựng cơ chế đặt hàng dịch
vụ công ích văn hóa để “nuôi dưỡng phần hồn” cho các thiết chế bước vào tự chủ
tài chính; thiết lập khung phối hợp đồng bộ giữa ngành du lịch và văn hóa;
tránh thương mại hóa cục bộ các không gian di sản. Đối với cấp cơ sở: Cung cấp
lộ trình hành động 12 tháng với chi phí thấp thông qua hai mô hình thí điểm:
“Câu chuyện sách và người đọc” (tại Đường sách) và “Từ không gian kiến trúc đến
tác phẩm” (tại Bảo tàng Mỹ thuật) nhằm kết nối lớp hấp dẫn thị giác với chiều
sâu tri thức.
Sau phần báo cáo của Chủ nhiệm nhiệm vụ và các ý kiến nhận
xét chi tiết, toàn diện từ hai Ủy viên Phản biện cùng các thành viên Hội đồng.
Hội đồng ghi nhận tính cấp thiết, sự công phu trong thu thập tư liệu và tinh thần
khoa học nghiêm túc của nhóm tác giả; đánh giá cao việc đề tài không chỉ dừng ở
phân tích thực trạng mà đã đề xuất được mô hình giải pháp có thể ứng dụng, chuyển
giao ngay cho các thiết chế văn hóa đô thị. Kết luận của Chủ tịch Hội đồng, hội
đồng nhất trí nghiệm thu thông qua với kết quả: Xuất sắc.
Phiên họp nghiệm thu đã kết thúc thành công tốt đẹp, ghi nhận
một công trình khoa học có đóng góp thiết thực cả về mặt lý luận văn hóa học lẫn
thực tiễn hoạch định chính sách phát triển công nghiệp văn hóa và du lịch số tại
TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới.