Báo cáo tình hình lao động, việc làm và an sinh xã hội tháng 10/2026
Tháng 10/2026, thị trường lao động nhìn chung tiếp tục ổn định, nhưng sức mua của nhóm thu nhập thấp, việc làm của thanh niên, sinh kế nông thôn và khả năng duy trì bảo hiểm tự nguyện đang là những vấn đề cần lưu ý. Cùng lúc đó, nguy cơ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn trong mùa khô tới đặt thêm áp lực lên chính quyền cơ sở.

Lao
động, việc làm và thu nhập
Theo số
liệu quý III/2026, cả nước có gần 53,0 triệu người có việc làm, tăng 706,4
nghìn người so với cùng kỳ. Tỷ lệ thiếu việc làm giảm còn 1,31%, lao động phi
chính thức giảm nhẹ, còn 60,6% và tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng
còn 3,6%, mức thấp nhất trong nhiều năm. Thu nhập bình quân đạt 9,2 triệu
đồng/tháng, tăng 9,9% so với cùng kỳ. Tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt
30,4%, cao nhất từ trước đến nay.[1]
An sinh
xã hội
Hai
nghị định bắt đầu có hiệu lực trong tháng 10 đã nâng mức chuẩn trợ cấp ưu đãi
người có công lên 3,012 triệu đồng/tháng và nâng chuẩn trợ giúp xã hội, trợ cấp
hưu trí xã hội từ 500.000 đồng lên 540.000 đồng/tháng.[2][3] Trong
chín tháng, kinh phí hỗ trợ an sinh cho các nhóm đối tượng đạt gần 69,3 nghìn
tỷ đồng, trong đó gần một nửa dành cho người có công và thân nhân.[4] Đến
hết tháng 9, cả nước có 22,64 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, trong đó
20,05 triệu người tham gia bắt buộc, tăng 1,14 triệu so với cùng kỳ năm 2025;
số thu ba quỹ bảo hiểm đạt 82,6% kế hoạch.[5] Từ
ngày 28/9, người dân có thể nhận lương hưu và trợ cấp qua tài khoản hưởng an
sinh xã hội trên VNeID.[6]
Thiệt
hại do thiên tai trong chín tháng qua giảm đáng kể: 80 người chết và mất tích,
thiệt hại về tài sản ước tính 4.076,5 tỷ đồng, giảm 77,4% so với cùng kỳ năm
2025.[4] Tuy nhiên, kết quả này không làm giảm rủi ro của mùa khô sắp
tới.
Hình 1. Những kết quả nổi
bật về lao động, việc làm và an sinh xã hội tháng 10/2026 (Đồ họa được hỗ trợ
bởi AI)
Lạm
phát thu hẹp sức mua của người hưởng trợ cấp
Sức mua
của người hưởng trợ giúp còn chịu nhiều sức ép. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9
tăng 0,62% so với tháng trước, tăng 5,08% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân
chín tháng tăng 4,52% so với cùng kỳ năm ngoái, nhỉnh hơn mức mục tiêu kiểm
soát cả năm (khoảng 4,5%), và là mức cao nhất của chín tháng trong giai đoạn
2016-2026.[7] Trong quý III, giá nhóm giao thông tăng 7,73%, còn nhóm nhà ở,
điện nước và chất đốt tăng 6,59%.[8] Mức
chuẩn trợ giúp xã hội mới (540.000 đồng/người/tháng) chỉ bằng khoảng 24,5% chuẩn
nghèo nông thôn và 19,2% chuẩn nghèo đô thị. Khi các nhóm chi tiêu thiết yếu
tăng giá nhanh, phần tăng thực đối với người hưởng trợ cấp còn rất mỏng.[7][8]
Thất
nghiệp thanh niên và sinh kế nông thôn phân hóa
Các chỉ
báo chung ổn định cũng che khuất sự phân hóa về chất lượng việc làm. Tỷ lệ thất
nghiệp chung quý III là 2,22%, nhưng thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi lên
đến 9,07%, riêng ở thành thị là 12,49%. Hiện vẫn có khoảng 1,6 triệu thanh niên
không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo.[1] Một
phần biến động gắn với mùa tốt nghiệp, song nhóm này cơ bản vẫn đứng ngoài khu
vực việc làm chính thức và ít được bảo vệ bởi hệ thống bảo hiểm.
Ở nông
thôn, thu nhập bình quân của lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản là 5,4 triệu
đồng/tháng, giảm 1,4% so với quý trước và chỉ bằng khoảng một nửa khu vực dịch
vụ. Hiện có hơn 4,2 triệu người làm công việc tự sản tự tiêu, tăng hơn 400
nghìn so với cùng kỳ; 64,6% trong số đó là lao động nữ và 86,8% sống ở nông
thôn.[1] Nếu hạn hán xảy ra, lao động nông thôn, đặc biệt là phụ nữ, sẽ
đối mặt đồng thời với rủi ro thiếu việc làm và hụt sinh kế vụ Đông Xuân.
Diện
tham gia bảo hiểm giảm, doanh nghiệp dịch vụ rút lui
Độ bao
phủ bảo hiểm cũng cần được theo dõi cẩn trọng. Cuối tháng 9, có 98,64 triệu
người tham gia bảo hiểm y tế, thấp hơn số 98,81 triệu vào cuối tháng 8.[5] Tác
giả ước tính số tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện khoảng 2,59 triệu người,
giảm nhẹ so với tháng 8.[9] Thu nhập biến động đang
làm khó cho việc duy trì bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm y tế hộ gia đình.[10] Trong
khi đó, số doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ giải thể trong tháng 9 tăng 52,1%;
riêng khu vực dịch vụ chiếm 75,2% số doanh nghiệp rút lui.[4]
Rủi ro
khí hậu và áp lực thực thi ở cấp xã
Bộ Nông
nghiệp và Môi trường nhận định El Nino tiếp tục duy trì cường độ mạnh đến rất
mạnh trong tháng 9-11/2026 và yêu cầu địa phương lập phương án theo kịch bản
rủi ro rất cao, trong đó xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long tương đương với
cao điểm mùa khô năm 2019-2020.[11] Trong
quý IV, cấp xã vừa phải chi trả phần trợ cấp chênh lệch từ 01/7 theo Nghị định
321 và 335, vừa rà soát hộ nghèo theo cả chuẩn cũ và chuẩn mới[12], đồng
thời phải thực hiện kế hoạch khám sức khỏe toàn dân và chuẩn bị ứng phó hạn
hán. Đây là giai đoạn cần ưu tiên nguồn lực và giảm các yêu cầu báo cáo chưa
cấp bách.[1][2]
Hình 2.
Những thách thức nổi bật tháng 10/2026 (Đồ họa được hỗ trợ bởi AI)
III. XU HƯỚNG VÀ
KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
Thị
trường lao động quý IV nhiều khả năng vẫn duy trì ổn định.[4] Tuy
nhiên, trong hai tháng tới cần theo dõi áp lực giá cuối năm, khi cả hai kịch
bản lạm phát của Bộ Tài chính đều cao (4,5% và 4,8%)[7]; chuẩn
nghèo mới áp dụng từ 01/01/2027 lại trùng với cao điểm mùa khô, làm tăng cùng
lúc số đối tượng thụ hưởng và nhu cầu cứu trợ; và đà chững lại của bảo hiểm tự
nguyện.[4][7] Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất bốn nhóm
giải pháp sau:
1. Về tiền
lương, trợ cấp và giá cả: Cần ban hành nghị định về lương tối thiểu vùng năm 2027 muộn
nhất trong tháng 11/2026 để doanh nghiệp kịp điều chỉnh thang lương. Các địa
phương cần hoàn thành chi trả truy lĩnh phần chênh lệch theo Nghị định 321 và
335 trước ngày 31/12/2026, ưu tiên tính tự động từ cơ sở dữ liệu đối tượng. Cục
Thống kê nên công bố định kỳ chỉ số giá theo rổ chi tiêu của hộ thu nhập thấp
để có thêm căn cứ điều chỉnh chuẩn trợ giúp xã hội.[1][2]
2. Về việc
làm thanh niên và thu nhập nông thôn: Cần kết nối dữ liệu tốt
nghiệp với Sàn giao dịch việc làm quốc gia để theo dõi nhóm thanh niên không đi
học, không tham gia đào tạo và không việc làm; ưu tiên thực tập và việc làm đầu
tiên cho thanh niên đô thị qua các trung tâm dịch vụ việc làm. Với lao động nữ
nông thôn làm công việc tự sản tự tiêu, cần hỗ trợ thông qua kết hợp hợp phần
sinh kế của Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030 với tín dụng của
Ngân hàng Chính sách xã hội.[3]
3. Về bảo
hiểm xã hội và bảo hiểm y tế: Bảo hiểm xã hội Việt Nam cần công bố hằng
tháng số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm y tế hộ gia đình,
đồng thời giải trình về biến động giảm. Khi xem xét dự án Luật Bảo hiểm xã hội
sửa đổi, cần cân nhắc cơ chế đóng linh hoạt theo thu nhập thực tế và tạm dừng
đóng mà không mất quyền lợi đã tích lũy. Khi doanh nghiệp giải thể, cơ quan
thuế và cơ quan bảo hiểm xã hội cần phối hợp chốt thời gian đóng cho người lao
động trước khi hoàn tất thủ tục và áp dụng chế tài xử phạt với trường hợp nợ
đóng.[13]
4. Về rủi
ro khí hậu và năng lực thực thi ở cấp xã: Cần bố trí riêng khoản
dự phòng trong dự toán năm 2027 cho kịch bản khí hậu rủi ro rất cao. Trước
tháng 12/2026, các địa phương cần lập danh sách các hộ có nguy cơ thiếu nước
sinh hoạt ở Đồng bằng sông Cửu Long, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; dùng kết quả
rà soát hộ nghèo, cận nghèo để xác định thứ tự ưu tiên. Hỗ trợ giống, chuyển
đổi cây trồng vụ Đông Xuân và bổ sung chỉ tiêu số hộ thiếu nước vào báo cáo
kinh tế-xã hội hằng tháng sẽ giúp địa phương phản ứng sớm hơn. Để giảm tải áp
lực cuối năm, cấp xã cần được tạm giãn các nhiệm vụ báo cáo không cấp bách
trong quý IV.
Hình 3. Xu hướng và kiến
nghị chính sách cho 2 tháng cuối năm 2026 (Đồ họa được hỗ trợ bởi AI)
Tài liệu trích dẫn
[1] Cục
Thống kê (Bộ Tài chính). 2026. Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc
làm quý III và chín tháng năm 2026, công bố ngày 03/10/2026.
[2] Chính
phủ. 2026. Nghị định số 321/2026/NĐ-CP ngày 15/8/2026 quy định mức hưởng trợ
cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng.
[3] Chính
phủ. 2026. Nghị định số 335/2026/NĐ-CP ngày 21/8/2026 quy định chính sách trợ
giúp xã hội.
[4] Cục
Thống kê (Bộ Tài chính). 2026. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý III và 9
tháng năm 2026, công bố ngày 03/10/2026.
[5] Bảo
hiểm xã hội Việt Nam. 2026. Hội nghị giao ban trực tuyến toàn hệ thống quý
IV/2026, 08/10/2026, dẫn theo VietnamPlus, “Có 98,64 triệu người Việt Nam đã
tham gia bảo hiểm y tế”. Nguồn: vietnamplus.vn
[6] Chính
phủ. 2026. Nghị định số 320/2026/NĐ-CP ngày 13/8/2026 sửa đổi, bổ sung Nghị
định số 69/2024/NĐ-CP về định danh và xác thực điện tử; áp dụng tài khoản hưởng
an sinh xã hội trên VNeID từ 28/9/2026.
[7] VCCI.
2026. “Lạm phát cuối năm chịu áp lực lớn”, 05/10/2026. Nguồn: vcci.com.vn
[8] Cục
Thống kê (Bộ Tài chính). 2026. Thông cáo báo chí về tình hình giá tháng Chín,
quý III và 9 tháng năm 2026, công bố ngày 03/10/2026.
[9] Bảo
hiểm xã hội Việt Nam, số liệu đến hết tháng 8/2026, dẫn theo Thời báo Tài chính
Việt Nam. 2026. “Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội”.
Nguồn: thoibaotaichinhvietnam.vn
[10] Bảo
hiểm xã hội Việt Nam, đánh giá tại giao ban quý IV/2026, dẫn theo Thị trường
Tài chính Tiền tệ. 2026. “Bảo hiểm xã hội Việt Nam tăng tốc thực hiện các mục
tiêu cuối năm”, công bố ngày 09/10/2026. Nguồn: thitruongtaichinhtiente.vn
[11] Bộ
Nông nghiệp và Môi trường, văn bản ngày 18/8/2026 gửi UBND các tỉnh, thành phố
khu vực Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long về phòng, chống hạn
hán, thiếu nước, xâm nhập mặn do El Nino 2026-2027, dẫn theo VietnamPlus, ngày
18/8/2026. Nguồn: vietnamplus.vn
[12] Thủ
tướng Chính phủ. 2026. Công văn số 1129/TTg-KGVX ngày 16/9/2026 về triển khai
Chỉ thị số 17/CT-TTg; thông tin về rà soát hộ nghèo theo hai chuẩn năm 2026.
[13] Chính
phủ. 2026. Nghị định số 283/2026/NĐ-CP ngày 15/7/2026 quy định xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi
làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; hiệu lực từ 10/9/2026.