Bảo vệ quyền của cổ đông trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp
Tóm tắt: Bảo vệ quyền của cổ đông trong công ty cổ phần là một trong những nguyên tắc quan trọng của quản trị công ty nhằm đảm bảo sự minh bạch, công bằng và phát triển bền vững của doanh nghiệp. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại cổ đông, các quyền của cổ đông và các biện pháp bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần.
Từ khóa:Cổ đông; côngtycổ phần; bảo vệ cổ đông; quản trị côngty cổ phần.
Abstract:Protecting the rights of shareholders in a joint-stock company has been one of the important principles of corporate governance to ensure transparency, fairness and sustainable development of the enterprise. This article analyzes the concept of shareholders, classification of shareholders, rights of shareholders and the measures to protect shareholders in joint-stock companies under the provisions of the 2020 Enterprise Law, and proposes some solutions to improve the legal regulations in order to enhance the effectiveness of protecting minority shareholders in joint-stock companies.
Keywords:Shareholders; joint-stock company; protection of shareholders; corporate governance.
Ngày nhận bài: 02/02/2024;Ngày sửa bài:05/3/2024;Ngày duyệt đăng bài: 26/4/2024.
Đặt vấn đề
Cổ đông là những người sở hữu cổ phần, đồng nghĩa với việc họ là chủ sở hữu của công ty. Không chỉ là người cấp vốn cho công ty, cổ đông tùy theo số lượng cổ phần nắm giữ, họ là người quyết định hoặc tác động đến các hoạt động kinh doanh, giám sát và hưởng lợi từ hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, bảo vệ quyền của cổ đông là mục tiêu quan trọng của pháp luật doanh nghiệp. Bảo vệ quyền của cổ đông không chỉ giúp đảm bảo lợi ích của từng cá nhân cổ đông nói riêng, lợi ích của công ty nói chung, mà còn góp phần xây dựng môi
trường kinh doanh minh bạch, ổn định và phát triển bền vững.
Các quyền của cổ đông thường được bảo vệ thông qua pháp luật, điều lệ công ty và các quy định nội bộ của công ty. Trong đó, các quy định pháp luật đóng vai trò nền tảng trong việc bảo vệ quyền của cổ đông bao gồm: Luật Doanh nghiệp (LDN) năm 2020 (bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần nói chung); Luật Chứng khoán (LCK) năm 2019 (bảo vệ cổ đông trong công ty đại chúng); Bộ luật dân sự năm 2015 (quy định về quyền khởi kiện của cổ đông khi lợi ích bị xâm phạm)... bên cạnh các đạo luật còn
rất nhiều các văn bản hướng dẫn thi hành. Hệ thống các quy định pháp lý cho thấy, bảo vệ cổ đông hiệu quả cao phải đảm bảo ba yếu tố: (i) Có sự hiện diện đầy đủ các quy định về quyền của cổ đông; (ii) Quy định đầy đủ các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích của cổ đông; (iii) Cơ chế thực thi hiệu quả các quy định đó.
- . Cổ đôngvàcác quyền của cổ đôngtrongcôngty cổ phần
Khái niệm về cổ đông khá tường minh và dễ dàng được chấp nhận rộng rãi ở các đạo luật doanh nghiệp. Theo khoản 3 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 “Cổ đông là cá nhân, tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần”. Tại điểm b khoản 1 Điều 111 LDN năm 2020 quy định trong công ty cổ phần “số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa”. Việc phân loại cổ đông có ý nghĩa vô cùng quan trọng để xác định các quyền và cơ chế bảo vệ. Theo đó, các công ty cổ phần thường phân loại cổ đông dựa trên các tiêu chí sau:
Thứ nhất, dựa vào mức độ ảnh hưởng và các loại cổ phần mà cổ đông nắm giữ, cổ đông trong công ty cổ phần được phân thành:
- Cổ đông sáng lập: là cổ đông sở hữu ít một cổ phần phổ thông và ký tên trong danh sách cổ đông sáng lập công ty cổ phần. Nói cách khác, cổ đông sáng lập chính là người ban đầu đứng ra góp vốn thành lập công ty cổ phần, sở hữu những cổ phần phổ thông đầu tiên trong công ty cổ phần. Công ty cổ phần mới thành lập phải có ít nhất 03 cổ đông sáng lập.
- Cổ đông phổ thông: công ty cổ phần phải có cổ phần phổ thông, người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông.
- Cổ đông ưu đãi: Tương ứng với các loại cổ phần ưu đãi thì có các loại cổ đông ưu đãi như sau:Cổ đông ưu đãi biểu quyếtlà cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông. Số phiếu biểu quyết của một cổ phần ưu đãi biểu quyết do Điều lệ công ty quy định. Chỉ có tổ chức được Chính phủ ủy quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết. Ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chỉ có hiệu lực trong 03 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập chuyển đổi thành cổ phần phổ thông.Cổ đông ưu đãi cổ tứclà cổ đông sở hữu cổ phần được trả cổ tức với mức cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng năm.Cổ đông ưu đãihoàn lạilà cổ đông sở hữu cổ phần được công ty hoàn lại vốn góp theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại.Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãikhácdo Điều lệ công ty quy định.
Thứhai, nếu dựa vào tư cách chủ thể thì cổ đông được phân biệt thành cổ đông cá nhân và cổ đông tổ chức. Cổ đông cá nhân là các cá nhân mua và nắm giữ cổ phần, còn cổ đông tổ chức có thể là các công ty, quỹ đầu tư, ngân hàng, Nhà nước... nắm giữ cổ phần, cổ đông là tổ chức phải có tư cách pháp nhân.
Thứba, theo tính chất giao dịch, công ty cổ phần có thể có cổ đông nội bộ và cổ đông bên ngoài. Cổ đông nội bộ là người tham gia vào hoạt động quản lý công ty, có vị trí trong công ty (như thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban Giám đốc, Ban Kiểm soát (BKS), người quản lý của công ty...) có nghĩa vụ công bố thông tin khi thực hiện các giao dịch với người có liên quan. Cổ đông bên ngoài là cổ đông không tham gia trực tiếp vào quản lý công ty mà chỉ sở hữu cổ phần và hưởng cổ tức.
Thứ tư, dựa vào số lượng cổ phần mà cổ đông nắm giữ và quyền lực của cổ đông trong công ty cổ phần, cổ đông phân thành hai loại:cổ đông thiểu số và cổ đông đa số. Đây là cách phân loại phổ biến nhất nhằm bảo vệ hiệu quả quyền của cổ đông, đặc biệt là quyền của cổ đông thiểu số. Việc phân loại cổ đông thiểu số và cổ đông lớn không chỉ dựa vào tiêu chí định lượng về số lượng cổ phần cổ đông nắm giữ mà cần xem đến yếu tố định tính.Về mặt định lượng, pháp luật của hầu hết các nước đều đưa ra một tỉ lệ nắm giữ cổ phần nhất định của cổ đông để xác định họ là cổ đông thiểu số hay cổ đông lớn. Khảo sát các quy định của pháp luật Việt Nam cho thấy, mặc dù không có một định nghĩa cụ thể để xác định cổ đông thiểu số là gì nhưng đã có dấu hiệu nhận diện cổ đông thiểu số bằng cách pháp luật quy định tỉ lệ nắm giữ cổ phần như: 5% đối với công ty đại chúng, 10% đối với công ty cổ phần phi đại chúng, có trường hợp còn quy định kèm theo thời gian nắm giữ tối thiểu để đảm bảo cho các cổ đông này có những quyền đặc biệt hơn nhằm bảo vệ mình trước những cổ đông đa số.Về mặt định tính, cổ đông thiểu số và cổ đông lớn khác nhau ở khả năng chi phối công ty, khả năng áp đặt quan điểm, ý chí, đường lối, sách lược của mình trong công ty... Theo tác giả Phạm Duy Nghĩa: “cổ đông nhỏ, không có ảnh hưởng đáng kể trong quản lý và điều hành công ty được xem là cổ đông thiểu số”. Còn theo tác giả Bùi Xuân Hải “cổ đông thiểu số thì không chi phối đến được công ty, họ không có khả năng áp đặt quan điểm, đường lối sách lược của mình cho công ty, không thể quyết định được việc lựa chọn đa số thành viên trong Hội đồng quản trị hay Ban kiểm soát, không có khả năng ảnh hưởng trong quản lý và điều hành công ty”. Chuẩn mực kế toán quốc tế đã dùng thuật ngữ “non-controlled interest” (NCI - cổ đông không kiểm soát) để thay cho thuật ngữ “minority interest” (MI - cổ đông thiểu số) nhằm tránh gây hiểu nhầm cho người sử dụng báo cáo tài chính cũng như các nhà đầu tư. Như vậy, về mặt định tính quyền biểu quyết là mấu chốt để xác định cổ đông thiểu số và cổ đông lớn.
Luật Doanh nghiệp thường tập trung vào các quyền của cổ đông thay vì nghĩa vụ của cổ đông, bởi cổ đông góp vốn vào công ty để đổi lại quyền của họ trong công ty chứ không phải nghĩa vụ. Các quy định về quyền của cổ đông là nhóm quy định pháp luật không thể thiếu trong quản trị công ty cổ phần cũng như bảo vệ các nhà đầu tư - chủ sở hữu của công ty. Theo đó, nhóm quy định pháp luật về quyền của cổ đông là khả năng xử sự của cổ đông được pháp luật cho phép. Quyền cổ đông khá đa dạng và gắn liền với các hoạt động kinh doanh của công ty. Trong đó, nếu căn cứ vào tính chất kinh tế của quyền cổ đông có thể chia thành: (i) Các quyền mang tính kinh tế (quyền tài sản) như: Quyền được hưởng cổ tức, quyền được ưu tiên mua cổ phần mới chào bán, quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần, quyền được phân chia tài sản khi công ty chấm dứt hoạt động và quyền chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác. (ii) Các quyền không mang tính kinh tế của cổ đông như: Quyền tham dự và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), quyền tiếp cận thông tin, quyền triệu tập cuộc họp, quyền đề cử người quản lý, quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết ĐHĐCĐ hoặc quyết định, nghị quyết của Hội đồng quản trị, quyền khởi kiện người quản lý công ty. Về tổng quát quyền kinh tế và quyền phi kinh tế của cổ đông có mối quan hệ mật thiết với nhau, các quyền mang tính kinh tế chính là mục đích cổ đông góp vốn mua cổ phần, còn khi thực hiện các quyền không mang tính kinh tế là biện pháp cần thiết để cổ đông bảo đảm các quyền mang tính kinh tế của mình. Đáng chú ý, cách phân chia này không được luật hóa và chỉ mang tính chất tương đối. Vì vậy, để rõ ràng, cụ thể hơn, dựa trên nội dung quyền của cổ đông thì quyền của cổ đông trong công ty cổ phần có thể chia thành 4 nhóm sau: i) Nhóm quyền về tài sản; ii) Nhóm quyền về quản trị hay quản lý công ty; iii) Nhóm quyền về thông tin; iv) Nhóm quyền về phục hồi quyền lợi (quyền khởi kiện của cổ đông). Quyền của cổ đông đối với các nhóm quyền này sẽ gia tăng tỉ lệ thuận với số lượng cổ phần và ưu đãi từ cổ phần mà cổ đông nắm giữ.
Pháp luật doanh nghiệp có quy định chung về quyền của cổ đông, tuy nhiên các quyền cụ thể của cổ đông còn phụ thuộc việc nắm giữ loại cổ phần và số lượng cổ phần của cổ đông như đã phân loại cổ đông ở trên. Chẳng hạn, cổ đông nắm cổ phần ưu đãi sẽ được hưởng quyền lợi tùy theo cổ phần ưu đãi mà họ nắm giữ. So với cổ đông phổ thông, cổ đông sáng lập sẽ bị hạn chế chuyển nhượng cổ phần trong vòng 3 năm kể từ khi công ty được thành lập. Khoản 3, Điều 120 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định:Trong thời hạn03 năm kể từ ngày côngty được cấp Giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được tựdo chuyển nhượngcho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượngcho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông.
Cổ đông lớn sẽ có tác động trực tiếp đến các quyết định quan trọng của công ty như bầu thành viên HĐQT, thông qua chiến lược kinh doanh; có quyền đề cử, ứng cử vào HĐQT, Ban Kiểm soát, có quyền yêu cầu công ty cung cấp thông tin tài chính, hoạt động kinh doanh chi tiết hơn so với cổ đông thiểu số. Ngoài ra, cổ đông lớn sở hữu từ 10% cổ phần trở lên trong 6 tháng liên tục, có quyền yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ, đồng thời có thể yêu cầu kiểm tra giao dịch của công ty và có ảnh hưởng đến các quyết định kiểm soát nội bộ. Nói chung, cổ đông lớn dễ dàng bảo vệ quyền lợi do có quyền lực lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định của công ty, trong khi cổ đông thiểu số có khả năng cao bị thiệt thòi nếu không có cơ chế bảo vệ từ pháp luật và Điều lệ công ty.
- Thực trạng bảo vệ quyền của cổ đôngtrong côngty cổ phầntheo LuậtDoanh nghiệp năm2020
Với mục tiêu lớn nhất là bảo vệ quyền của cổ đông - chủ sở hữu của công ty mà các đạo luật Luật Doanh nghiệp hướng tới, quy định về quyền của cổ đông được xây dựng, kế thừa và hoàn thiện qua những lần sửa đổi Luật Doanh nghiệp. Các đạo Luật Doanh nghiệp đều cho thấy, trong quản trị công ty cổ phần, bảo vệ quyền của cổ đông là nội dung được nhắc đến đầu tiên gắn liền với mục đích hoạt động của công ty cổ phần (CTCP). Dựa theo nhóm quyền về tài sản và nhóm quyền về quản trị của cổ đông, thực tiễn quy định pháp luật và thực tiễn bảo vệ quyền của cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam thời gian qua cho thấy một số vấn đề sau:
Thứ nhất, về quyền nhận cổ tức. Cổ tức được hiểu là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về
tài chính; tương ứng với tỉ lệ vốn góp. Đáng lưu ý là, dù đây là quyền chính đáng của cổ đông nhưng Luật quy định về “mức nhận cổ tức” theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông. Như vậy, rất có thể cổ đông lớn bỏ phiếu không chia cổ tức mà sử dụng vốn đó để tiếp tục đầu tư, hoặc ĐHĐCĐ của các công ty thường chỉ thông qua tỷ lệ cổ tức, còn thời gian thanh toán lại ủy quyền cho HĐQT quyết định dẫn đến tình trạng chậm chi trả cổ tức, không chịu chi trả cổ tức cho cổ đông.
Thứhai, quyền ưu tiên mua cổ phần khi công ty phát hành cổ phần mới. Đối với CTCP, LDN 2020 quy định, khi CTCP muốn huy động thêm nguồn vốn hoặc tăng vốn điều lệ thì CTCP có quyền phát hành thêm cổ phần mới. Khi đó, tất cả các cổ đông hiện hữu có quyền mua thêm những cổ phần mới phát hành đó, theo một tỷ lệ tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần của mình trong công ty. Khoản 4 Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “Mỗi cổ phần của cùng một loại đều tạo cho người sở hữu nó các quyền, nghĩa vụ và lợi ích ngang nhau”. Trên thực tế, trong nhiều trường hợp, các cổ đông lớn, người quản lý công ty thường sử dụng việc phát hành thêm cổ phần mới, để thực hiện ý đồ tăng tỉ lệ sở hữu của mình trong công ty nhằm thâu tóm công ty và nhằm lấy đi một phần tài sản chung của tất cả cổ đông trong công ty.
Thứba, quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần. Luật Doanh nghiệp 2020 quy định cổ đông có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần mà mình đang sở hữu trong những trường hợp nhất định. Cụ thể, khoản 1 Điều 132 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: “Cổ đông biểu quyết phản đối nghị quyết về tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của cổ đông quy định tại Điều lệ công ty có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình”. Quy định này nhằm bảo vệ cổ đông trong công ty khỏi những quyết định có thể làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông. Một vấn đề đặt ra là khi cổ đông đã có quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần của mình, thì làm sao để họ thực hiện quyền đó và đảm bảo quyền lợi của mình? Khi yêu cầu công ty mua lại cổ phần thì giá mua là vấn đề nhiều cổ đông quan tâm, nếu không có quy định cụ thể thì sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông. Vì vậy, theo khoản 2 Điều 132 Luật Doanh nghiệp 2020 thì có thể thấy việc công ty mua lại cổ phần của cổ đông theo khoản 1 Điều 132 Luật Doanh nghiệp 2020 có phần phức tạp, kéo dài thời gian, do đó có thể gây bất lợi cho cổ đông.
Thứ tư, đối với nhóm quyền quản trị của cổ đông, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã có sửa đổi vô cùng quan trọng nhằm bảo vệ các cổ đông qua thực hiện các quyền đề cử người vào HĐQT và BKS; quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông, quyền biểu quyết, quyền tiếp cận thông tin, quyền khởi kiện, quyền yêu cầu Toà án hoặc Trọng tài huỷ quyết định của Đại hội đồng cổ đông... Tuy nhiên, trên thực tiễn thực hiện pháp luật, một số quyền của cổ đông vẫn bị vi phạm thông qua các hành vi lạm quyền của cổ đông. Xu hướng các cổ đông lớn thường
có khả năng lạm quyền cao, bởi các cổ đông lớn thường đảm nhiệm vị trí người quản lý của công ty, nhiệm vụ của họ đối với công ty hoặc các cổ đông khác thường với tư cách mà họ đang đảm nhiệm, thay vì là cổ đông lớn. Trên thực tế, một số cổ đông lớn có khuynh hướng thao túng việc quản trị, điều hành công ty, cũng như lạm dụng quyền cổ đông, thành viên lớn để loại bỏ hoặc ngăn cản thực hiện quyền của cổ đông thiểu số. Sự lạm dụng quyền của cổ đông lớn còn thể hiện ở việc một số cổ đông lớn “bắt tay nhau” để thông qua một quyết định không vì lợi ích chung của công ty. Ở góc độ ngược lại, sự lạm dụng thiểu số thể hiện ở việc các cổ đông thiểu số thường hành động với mục đích duy nhất phục vụ lợi ích của các cổ đông thiểu số và gây bất lợi cho lợi ích của công ty và của các cổ đông khác. Cổ đông thiểu số cũng có thể thực hiện các hành vi lạm dụng quyền biểu quyết của mình bằng việc cản trở quyết định của ĐHĐCĐ một cách vô lý, xâm phạm lợi ích của công ty. Các quyết định của ĐHĐCĐ phải đạt được tỷ lệ theo quy định của Luật Doanh nghiệp hoặc điều lệ, vì vậy, cổ đông thiểu số có thể chống lại việc thông qua quyết định đó để không đạt được tỷ lệ tán thành.
Bên cạnh đó, pháp luật doanh nghiệp có quy định về cổ đông nắm cổ phần ưu đãi biểu quyết. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp lại không quy định về tỷ lệ tối đa cổ phần ưu đãi biểu quyết do một công ty cổ phần phát hành. Điều này có thể dẫn đến khả năng lạm quyền của cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết hoặc khả năng chi phối (tầm ảnh hưởng) của cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết ra tăng gây ra sự bất bình đẳng giữa cổ đông nắm giữ cổ phần ưu đãi biểu quyết và các cổ đông khác.
Thứ năm, quyền tiếp cận thông tin của cổ đông. Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã có những sửa đổi quan trọng cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 05% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền: Xem xét, tra cứu, trích lục sổ biên bản và nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, báo cáo tài chính giữa năm và hằng năm, báo cáo của Ban kiểm soát, hợp đồng, giao dịch phải thông qua Hội đồng quản trị và tài liệu khác, trừ tài liệu liên quan đến bí mật thương mại, bí mật kinh doanh của công ty (Điều 115 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Quy định này mở rộng quyền tiếp cận thông tin và tăng khả năng giám sát của cổ đông đối với các giao dịch cần được giám sát như giao dịch với người có liên quan nhằm hạn chế việc thất thoát tài sản, gây thiệt hại cho công ty. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2020 loại trừ tài liệu liên quan đếnbí mật thương mại, bí mậtkinh doanhcủa công ty ra khỏi phạm vi của điều này, tức là cổ đông sẽ không có quyền tiếp cận loại tài liệu này. Trong khi thế nào là “bí mật thương mại, bí mật kinh doanh” chưa có khái niệm rõ ràng, thì công ty có thể lạm dụng loại trừ này để cho rằng một tài liệu nào đó là bí mật thương mại nhằm từ chối không cho cổ đông tiếp cận.
Thứ sáu, khắc phục một số bất cập của pháp luật doanh nghiệp trước, Luật Doanh
nghiệp năm 2020 đã mở rộng quyền khởi kiện của cổ đông đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc. Theo đó, cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần phổ thông có quyền tự mình hoặc nhân danh công ty khởi kiện trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới đối với các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc để yêu cầu hoàn trả lợi ích hoặc bồi thường thiệt hại cho công ty hoặc người khác trong trường hợp sau đây: a) Vi phạm trách nhiệm của người quản lý công ty theo quy định tại Điều 165 của Luật này; b) Không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, thực hiện không kịp thời hoặc thực hiện trái với quy định của pháp luật hoặc Điều lệ công ty, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị đối với quyền và nghĩa vụ được giao; c) Lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh, tài sản khác của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; d) Trường hợp khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty. Đây được xem là quy định tiến bộ của Luật Doanh nghiệp năm 2020 nhằm ra tăng khả năng bảo vệ quyền của cổ đông.
- Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nângcao hiệu quả bảo vệ quyền của cổ đôngtrong côngty cổ phần
Bảo vệ quyền lợi của cổ đông không chỉ giúp đảm bảo công bằng trong công ty mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, thu hút đầu tư và nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp. Từ bất cập của quy định pháp luật và hạn chế trong thực hiện pháp luật, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của cổ đông trong công ty cổ phần, cụ thể như sau:
Thứ nhất, cần làm rõ hơn việc phân loại cổ đông để có cơ chế bảo vệ quyền của cổ đông phù hợp. Khái niệm về cổ đông thiểu số cần được tiếp cận ở hai góc độ như đã phân tích là: thiểu số về số lượng cổ phần nắm giữ và thiểu số về quyền biểu quyết. Bên cạnh đó, hạn chế sự lạm dụng quyền chi phối của cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết cũng là một yêu cầu bắt buộc nhằm thực hiện nguyên tắc bảo đảm công bằng giữa các cổ đông. Khoản 3 Điều 113 LDN nên sửa đổi theo hướng mọi cổ phiếu ưu đãi biểu quyết sẽ chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông sau thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp cần quy định về tỷ lệ tối đa cổ phần ưu đãi biểu quyết do một công ty cổ phần phát hành.
Thứhai, hoàn thiệnquy định pháp luật đối với một số quyềnkinh tế của cổ đông. Đối với quyền nhận cổ tức của cổ đông, việc chi trả lợi tức phải quy định là phải trả đúng thời hạn, nếu công ty vi phạm cổ đông được quyền khởi kiện. Đồng thời, để tránh tình trạng các cổ đông lớn sử dụng lợi thế biểu quyết của mình trong việc sử dụng lợi nhuận của công ty để đầu tư thay vì chi trả lợi tức cho cổ đông, pháp luật doanh nghiệp cần quy định rõ một tỷ lệ lợi nhuận nhất định của công ty phải được sử dụng cho
việc chi trả lợi tức cho các cổ đông nhằm bảo vệ quyền nhận cổ tức của cổ đông. Đối với quyền yêu cầu công ty mua lại cổ phần, theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định 90 ngày làm việc là khá dài cần giảm thời gian xuống. Tác giả đề xuất thời gian yêu cầu công ty mua lại cổ phần chỉ nên để là 30 ngày.
Thứba, đối với nhóm quyền về quản trị của cổ đông, Luật Doanh nghiệp cần dự liệu các trường hợp về “lạm dụng đa số” của cổ đông lớn và “lạm dụng thiểu số” của cổ đông thiểu số trong quá trình thực hiện quyền biểu quyết của mình đối với các vấn đề của công ty.
Thứ tư, đối với quyền thôngtin của cổ đông, Luật Doanh nghiệp cần làm rõ khái niệm vềbí mật thương mại, bí mậtkinh doanh, đồng thời quy định cụ thể và chi tiết hơn, không chỉ là cung cấp các thông tin trong quá khứ mà cả thông tin tương lai như về thay đổi thị trường sản phẩm, thị trường đầu ra của công ty, những tác động của thị trường vốn và những yếu tố khác hoặc nhóm thông tin về người có liên quan của công ty để phòng chống giao dịch tư lợi. Bên cạnh đó, để tránh lạm dụng quyền được thông tin, Luật Doanh nghiệp cần gắn mục đích của việc yêu cầu cung cấp thông tin của cổ đông với mục đích chính đáng của yêu cầu đó, để đảm bảo rằng dựa trên mục đích của cổ đông thì người quản lý có thể cung cấp hoặc có thể từ chối cung cấp các thông tin.
Thứ năm, bảo vệ quyền của cổ đông trong công ty cổ phần không chỉ phụ thuộc vào các quy định mang tính chất định khung của Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và một số văn bản hướng dẫn thi hành, mà cần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của Điều lệ công ty và các văn bản nội bộ của công ty. Theo đó, Điều lệ và các văn bản nội bộ của công ty có vai trò cụ thể hóa các nội dung bảo vệ quyền của cổ đông phù hợp với tổ chức và hoạt động của mỗi công ty.
Kết luận
Với tư cách là một trong những nội dung chính của quản trị công ty, bảo vệ quyền của cổ đông trong công ty cổ phần góp phần quan trọng đảm bảo sự minh bạch, công bằng trong quản trị công ty, thúc đẩy niềm tin và sự đầu tư của cổ đông vào doanh nghiệp. Để bảo vệ tốt quyền của cổ đông trong công ty cổ phần, bên cạnh việc điều chỉnh những bất cập trong các quy định pháp luật liên quan đến nhận diện cổ đông lớn, cổ đông thiểu số; hoàn thiện một số quy định về quyền kinh tế, quyền quản trị và quyền thông tin của cổ đông, cũng cần khắc phục một số hạn chế trong thực tiễn thực hiện pháp luật. Đặc biệt, cần nâng cao hiệu quả Điều lệ công ty và các văn bản nội bộ của công ty trong việc phân loại cổ đông, xác định quyền của cổ đông và xây dựng biện pháp bảo vệ quyền của cổ đông trong công ty.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Lâm, “Bàn về các quyền không mang tính kinh tế của cổ đông”, Tạp chíTòa án nhân dân, số 11/2022.
2. Nguyễn Văn Lâm, “Bàn về sự lạm dụng quyền của cổ đông trong công ty cổ phần ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chíDân chủ và Pháp luật, Kỳ 1 (số 396)/2024.
3. Phạm Duy Nghĩa (2004),Chuyên khảo luậtkinh tế, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội.
4. Bùi Xuân Hải, “Biện pháp bảo vệ cổ đông, thành viên công ti: Lí luận và thực tiễn”, Tạp chíLuật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số 3/2011.
5. Lê Thanh Sơn, Đồng Thái Quang, “Giải pháp bảo vệ quyền của cổ đông trong công ty cổ phần”, Tạp chíNghiên cứu lập pháp, số 10(458), tháng 5/2022.
6. Nguyễn Thị Lan Hương, “Bảo đảm sự công bằng giữa các cổ đông trong dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi)”, Tạp chíNghiên cứu Lập pháp, số 20 (276), tháng 10/2014.
7. Nguyễn Thị Dung, Nguyễn Như Chính, “Đảm bảo quyền lợi của cổ đông công ty cổ phần theo các nguyên tắc QTCT của OECD”, Tạp chíLuật học, số 10/2009.
8. Phan Đăng Hải (2020), Luận án tiến sĩ,Quản trị côngty niêm yếttheo pháp luật ở ViệtNam hiệnnay, Học viện Khoa học xã hội.