Vấn đề tiếp nhận giá trị quan trong phim Trung Quốc của khán giả Việt Nam đầu thế kỷ 21
Tính chân thực và tính hữu dụng của sự kiện được quan sát thấy trên truyền thông đại chúng là một yếu tố quan trọng trong quá trình xã hội hóa qua phim ảnh. Sự độc lập trong tiếp nhận giá trị quan này cho phép chúng ta có cái nhìn khách quan hơn khi đứng trước những lo âu về sự tiếp nhận văn hóa tràn lan, thiếu chọn lọc qua sản phẩm truyền thông giải trí ngoại lai. Có thể nói, khán giả Việt Nam không dễ bị kéo theo những giá trị không phù hợp vì chạy theo thần tượng hoặc đam mê một dòng phim nào đó, ngược lại, họ là chủ thể tự quyết trong hành động giải trí của chính mình. Ở cùng một thể loại phim, khán giả sẽ chọn sản phẩm có giá trị quan phù hợp cuộc sống và xã hội đương thời của mình, gạt bỏ tác phẩm có giá trị quan lạc lõng; ngược lại với cùng một giá trị, khán giả chỉ tiếp nhận tác phẩm có bối cảnh và thời đại tương thích với giá trị quan mà nó phản ánh. Sự xác lập và chọn lọc giá trị quan diễn ra thường trực trong đời sống và tâm lý con người.
Cổng Thông tin điện tử Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trân trọng
giới thiệu cùng bạn đọc nội dung vắn tắt bài viết “Hiệu quả tiếp nhận giá trị
quan trong phim Trung Quốc của khán giả Việt Nam hai thập niên đầu thế kỷ 21”
của TS. Đinh Mỹ Linh (Viện Nghiên cứu Văn hóa).

Phim Trung Quốc là
loại hình giải trí đã quen thuộc với người dân Việt Nam từ khá sớm. Nhờ vào sự
tương đồng trong văn hóa Á Đông và lịch sử tiếp xúc với văn học kinh điển Trung
Hoa, người dân Việt Nam đã đón nhận phim Trung Quốc tương đối nồng nhiệt trong
nhiều thập kỷ của thế kỷ 20. Tuy vậy, những năm cuối thế kỷ 20, phim Trung Quốc
thiếu vắng những tác phẩm kinh điển, dần dần hạ nhiệt ở những thị trường đang
đón nhận làn sóng Hàn Quốc như ở Việt Nam. Phải bước sang khoảng thập niên thứ
hai của thế kỷ 21, dòng phim nước này mới lại xuất hiện một số tác phẩm chất
lượng cao, dần chiếm lại cảm tình của khán giả nước ngoài. Bài viết mong muốn
tìm hiểu hiệu quả tiếp nhận của làn sóng phim Trung Quốc mới này, thông qua
việc bước đầu khảo sát khán giả Việt Nam và sự tiếp nhận giá trị quan trong
những tác phẩm phim được đánh giá là chất lượng cao của dòng phim Trung Quốc
đầu thế kỷ 21. Thông qua đó, bài viết mong muốn đóng góp một góc nhìn về sự
đồng cảm cũng như tính độc lập giữa hệ giá trị con người cá nhân với quá trình
thẩm thấu, tiếp nhận giá trị quan của tác phẩm nghệ thuật.
Lý thuyết tiếp nhận
và sự tiếp nhận giá trị quan
Trong các nghiên
cứu về tác phẩm, ngành văn học để ý đến khía cạnh nghiên cứu sự tiếp nhận tác
phẩm văn học từ khá sớm. Những ngành khoa học non trẻ hơn như truyền thông học
cũng tiếp nối dòng chảy này, trong đó nghiên cứu khía cạnh tiếp nhận phim ảnh
là một hướng tiếp cận có nhiều thành tựu. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng sự
tiếp nhận văn hóa phẩm và truyền thông đại chúng có thể phân thành ba tầng bậc:
1. Tầng nhận biết, thể hiện ở việc truyền thông đại chúng ảnh hưởng tới nhận
biết và ấn tượng của con người với hoàn cảnh môi trường xã hội xung quanh; 2.
Tầng tình cảm, thể hiện ở việc truyền thông ảnh hưởng tới hệ giá trị và thái độ
tình cảm của con người; 3. Tầng hành vi, truyền thông đại chúng ảnh hưởng đến
khuynh hướng hành động và hành vi của con người. Trong đó tầng tiếp nhận về hệ
giá trị là tầng sâu thứ hai, đánh giá sự thẩm thấu của tác phẩm nghệ thuật vào
đời sống tinh thần của con người, làm bước đệm để con người có sự tiếp nhận và
thay đổi ở tầng bậc hành vi.
Các nghiên cứu trên
thế giới về tiếp nhận sản phẩm truyền thông đại chúng thường liên quan tới
hướng nghiên cứu học tập và xã hội hóa, như học thuyết gieo cấy của Gerbner,
thuyết nhận thức xã hội của Bandura, thuyết trao đổi xã hội của Homans... Các
nghiên cứu đi trước chỉ ra sức ảnh hưởng của truyền hình và truyền thông đại
chúng nói chung, coi truyền hình là phương tiện có sức mạnh truyền dẫn văn hóa,
truyền thụ cho người xem những quy tắc, hành vi, giá trị mà họ cần (Gerbner,
Gross, Morgan, Signorielli, 1987). Nghiên cứu khác cũng chỉ ra truyền hình có
ảnh hưởng trên các phương diện hành vi, giá trị, quy tắc đối với nhóm “mới”
tiếp xúc xã hội như trẻ em, thanh thiếu niên và dân nhập cư… (Chaffee, Nass,
Yang, 1990).
Lý thuyết nhận thức
xã hội của A. Bandura là học thuyết có tính chỉ hướng cho những nghiên cứu về
xã hội hóa văn hóa qua phương tiện truyền thông nói chung và sự tiếp nhận tác
phẩm truyền thông ở tầng bậc nhận thức, giá trị nói riêng. Theo thuyết học tập
và nhận thức xã hội, truyền thông đại chúng, đặc biệt là phim ảnh, cung cấp cho
công chúng những ký hiệu, tin tức, mô hình để cấu thành hiện thực xã hội. Con
người có thể học tập, bắt chước theo những yếu tố văn hóa, quy tắc, giá trị
quan, tín ngưỡng mà họ tiếp xúc lâu dài trên phương tiện truyền thông. Sự học
tập này dựa trên hai nguyên lý: học tập thông qua quan sát; từ quan sát tìm ra
giá trị có ích. Các học giả cũng quan tâm tới tính công năng (hay tính hữu
dụng) của sự kiện quan sát được qua màn ảnh truyền hình: nếu hoàn cảnh diễn ra
sự kiện trên màn ảnh tương đồng với bối cảnh sống của người xem, biểu hiện của
diễn viên gần gũi với bản thân người xem, thì sự kiện trên màn ảnh có thể được
coi là chân thực; nếu sự kiện trên màn ảnh được nhận định là chân thực và có
khả năng thu được lợi ích, thì người xem đánh giá sự kiện đó là hữu ích
(Bandura, 1986; Homans, 1974). Việc đánh giá tính công năng (hữu ích) của sự
kiện quan sát được là bước đệm để người xem thẩm thấu, hy vọng rằng việc học
theo sẽ đem lại lợi ích trong tương lai cho họ. Sau cùng, khi người xem chấp
nhận tính công năng của các quy tắc, giá trị quan, tín ngưỡng, thái độ, đặc
điểm ngôn ngữ của một nhóm xã hội nào đó và biến chúng thành cái của mình, đó
được coi là quá trình thẩm thấu và là kết quả của xã hội hóa.
Sự tiếp nhận của
khán giả về giá trị quan được nghiên cứu dựa trên bảng hỏi dạng câu hỏi đóng 5
mức độ trả lời (Likert scale) với 10 giá trị quan được đề xuất Việc chọn những
giá trị quan nổi bật xuất hiện trong phim Trung Quốc đầu thế kỷ 21 tham khảo từ
các phỏng vấn sâu và các nghiên cứu về điện ảnh, truyền hình Trung Quốc đầu thế
kỷ 21, chủ yếu khoanh vùng những giá trị quan thường thấy trong các đề tài phim
nổi bật và đông khán giả ở thời kỳ này, như phim ngôn tình, lịch sử cung đấu,
phim kỳ ảo huyền huyễn, phim võ thuật, phim thanh xuân… Học giả Trung Quốc cũng
nhận định: “Ngày càng có nhiều phim thuộc dòng điện ảnh chủ lưu xây dựng giá
trị ở sự tôn trọng sinh mệnh cá nhân, tự do và tôn nghiêm, thể hiện tình yêu
thương giữa người với người, thể hiện con người nỗ lực và phấn đấu để theo đuổi
cuộc sống tự do hạnh phúc, thể hiện sự sẵn sàng hy sinh, đổ máu để bảo vệ tôn
nghiêm làm người. Những giá trị quan được truyền đạt trên phim Trung Quốc này
tạo sức đồng cảm với công chúng, tiến gần hơn
với ngữ cảnh quốc tế” (尹鸿, 2017). Bên cạnh đó là các ý kiến xây dựng hệ giá trị con người và bản sắc dân
tộc Việt Nam từ văn kiện, chủ trương phát triển của Đảng và Nhà nước. Nghị
quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về “Xây dựng và
phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất
nước” đã khẳng định 5 quan điểm cơ bản, trong đó có nêu: “Trong xây dựng văn
hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp,
với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết,
cần cù, sáng tạo” (trích theo Hoàng Văn Lễ, 2021). Nghị quyết Trung ương 5
(Khóa VIII) cũng nêu ra bản sắc dân tộc Việt Nam: “lòng yêu nước nồng nàn, ý
chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân -
gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo
lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính
giản dị trong lối sống...” (trích theo Nguyễn Duy Bắc, 2018). Tham khảo những
nguồn trên, bảng câu hỏi khảo sát đề ra 10 giá trị: “tình cảm gia đình”, “tình
yêu”, “đạo đức”, “tinh thần phấn đấu”, “tinh thần lạc quan, tích cực”, “lòng
yêu nước và đoàn kết dân tộc”, “tinh thần nhân đạo”, “tinh thần anh hùng”,
“công lý, công bằng xã hội”, “triết lý nhân quả báo ứng”.
Người tham gia khảo
sát trả lời 2 câu hỏi xoay quanh 10 giá trị kể trên. Với mỗi giá trị, khán giả
phải chọn 1 phương án trong số 5 mức độ trả lời được đề xuất.
Cách thức xử lý kết
quả điều tra là tính điểm trung bình cho từng giá trị theo công thức chung của
bảng hỏi 5 mức độ. Điểm trung bình của mỗi giá trị trong câu 1 được gọi là “n”,
điểm trung bình của mỗi giá trị trong câu 2 được đặt là “N”. Việc so sánh tỉ lệ
chênh lệch giữa “n” và “N” có thể cho chúng ta thấy khoảng cách từ giá trị
trong quan niệm cá nhân của người được hỏi đến cảm nhận của họ về giá trị trên
phim.
Theo kết quả tỉ lệ
chênh lệch trên giữa các giá trị trong quan niệm đời sống và trong cảm nhận của
khán giả qua phim, giá trị nào có tỉ lệ chênh lệch càng tiếp cận N/n=1 thì giá
trị đó càng có sự đồng nhất tương ứng giữa hệ giá trị quan cá nhân với thái độ
tiếp nhận tác phẩm phim. Nếu N/n>1 hoặc N/n<1 càng nhiều thì càng chứng
tỏ khán giả có sự phân định rạch ròi giữa một giá trị trong đời thực với trong
nghệ thuật. Nếu N/n>1 thì thể hiện sự truyền đạt giá trị qua phim là hiệu
quả, khán giả có sự công nhận đối với một giá trị mà thường nhật họ không thật
chú trọng. Kết quả tích cực này lý giải cho việc tại sao điện ảnh lại có sức
mạnh gợi mở suy ngẫm cho con người. Còn nếu N/n<1 thì cho thấy phim chưa có
cách truyền đạt phù hợp với quan niệm hoặc chưa đáp ứng kỳ vọng của khán giả về
giá trị đó.
Tiếp nhận giá trị
quan trong phim Trung Quốc đầu thế kỷ 21 của khán giả Việt Nam
Giá trị tình cảm
gia đình
Giá trị tình cảm
gia đình là một giá trị trung tâm trong cuộc sống của mỗi cá nhân. Bởi cá thể
được sinh ra và tồn tại, trước hết, là trong môi trường gia đình. Đây cũng là
chủ đề phổ biến trong phim Trung Quốc, đặc biệt, còn là thế mạnh cố hữu của
phim truyền hình Trung Quốc. Với khán giả Việt Nam, giá trị “gia đình” có điểm
đánh giá khá cao. Thậm chí số người tham gia khảo sát coi trọng giá trị “gia
đình” trong cuộc sống còn chiếm đa số, cao hơn số người đồng cảm, yêu thích giá
trị “gia đình” trong phim Trung Quốc. Điều này chứng tỏ “gia đình” là một giá
trị quan trọng hàng đầu trong hệ giá trị của con người. Đồng thời, giá trị này
được phim Trung Quốc gần đây thể hiện khá thành công, cũng được khán giả đón
nhận tương đối tốt. Đồng nghĩa với phim Trung Quốc trong thế kỷ 21 lấy đề tài
gia đình vẫn còn không gian phát triển lớn ở thị trường Việt Nam. Khán giả Việt
Nam vẫn luôn chờ đợi nền phim ảnh Trung Quốc mang tới những tác phẩm diễn giải
sâu sắc về giá trị “gia đình”, như một số phim kinh điển thế kỷ trước trong tâm
trí khán giả Việt Nam.
Giá trị tình yêu
Giá trị tình yêu là
giá trị thứ hai với nội hàm là tình yêu đôi lứa, tình cảm nam nữ. Kết quả điều
tra cho thấy, về mặt quan niệm, tầm quan trọng của giá trị “tình yêu” thấp hơn
so với giá trị “gia đình”, nhưng độ yêu thích về “tình yêu” trong phim Trung
Quốc thế kỷ 21 lại là cao hơn khá nhiều so với độ yêu thích giá trị “gia đình”
trên phim. Sự chênh lệch này đạt tỉ lệ đối chiếu chứng tỏ độ hiệu quả của sự
truyền đạt giá trị “tình yêu” phim Trung Quốc hiện nay là khá tốt so với giá
trị “gia đình”. Điều này trùng khớp với thực tế phát hành phim Trung Quốc hai
thập niên đầu thế kỷ 21. Thứ nhất, câu chuyện phổ biến của điện ảnh và phim
truyền hình Trung Quốc đầu thế kỷ 21 là đề tài tình yêu nam nữ, với các dòng
phim đặc biệt cường điệu chủ đề yêu đương như ngôn tình, huyền huyễn. Ngoài ra
trong các thể loại phim khác như thanh xuân vườn trường, đô thị hiện đại, cung
đấu, dã sử thì tình yêu cũng là mạch truyện chính. Thứ hai, trong số những yếu
tố khiến khán giả Việt yêu thích phim Trung Quốc đầu thế kỷ 21 thì “tình yêu
sâu đậm”, “mẫu nam giới chung tình, nặng tình, hy sinh”, “sự ăn ý giữa cặp đôi
nam - nữ chính”, “lời thoại khắc cốt ghi tâm” là những chi tiết về nội dung,
diễn xuất được khán giả liệt kê nhiều nhất.
Có thể nói, ở đầu
thế kỷ 21 này, chủ đề “tình yêu” là một thế mạnh của phim Trung Quốc. Phim ảnh
đầu thế kỷ 21 đem đến cho khán giả trong nước cách diễn giải giá trị “tình yêu”
kiểu Trung Quốc đầy thuyết phục và phù hợp nền tảng quan niệm cá nhân. Tuy nhiên
vẫn có sự chênh lệch nhất định giữa giá trị tình yêu trong quan niệm cá nhân và
sự tiếp nhận trên phim. Đây là những dòng phim giá trị thương mại cao, được yêu
thích ở Việt Nam nhưng phần đông khán giả đánh giá tình yêu trên phim là “cường
điệu hóa”, “chỉ đẹp trên phim”, “không tồn tại trong đời thực”, do đó chỉ có
thể hân thưởng trên phim để giải trí chứ khó mà học hỏi hay đánh đồng với tình
yêu trong đời thực được.
Giá trị đạo đức
Ở giá trị này, có
sự chênh lệch khá lớn giữa mức độ tiếp nhận giá trị “đạo đức” trên phim so với
quan niệm cá nhân về “đạo đức”. Quan niệm cá nhân về tầm quan trọng của “đạo
đức” xếp trên mức quan trọng của “tình yêu” và đứng sau “gia đình”. Song khán
giả chưa cảm nhận được cái hay, cái đẹp và độ thuyết phục của chủ đề này trên
phim Hoa ngữ đầu thế kỷ 21. Thực chất, đạo đức là một trong những giá trị cốt
lõi của truyền thống văn hóa Trung Hoa. Người Việt Nam cũng giống với dân tộc
Trung Hoa, coi trọng đạo đức và sự tu dưỡng phẩm chất cá nhân. Ở thế kỷ trước,
khán giả Việt Nam khắc ghi ấn tượng sâu sắc đối với những phim xuất sắc của
điện ảnh truyền hình Trung Quốc về đề tài hiện thực, chính luận, chống tệ nạn
và suy đồi đạo đức… Đây là những đề tài có sức mạnh khảo cứu và biện luận, có
chiều sâu về giá trị làm người, về phẩm hạnh cá nhân với thời đại. Tới thời
nay, nhiều khán giả Việt Nam vẫn vô cùng tâm đắc những triết lý như “đẩy thuyền
cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”, “thượng bất chính, hạ tắc loạn” đậm tính
đạo đức trong các tác phẩm kinh điển Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử… Tuy nhiên,
điện ảnh truyền hình Trung Quốc hiện nay lại không phát triển mạnh những mảng
đề tài giàu tính triết lý tu dưỡng này. Đó có thể là một nguyên nhân khiến cách
truyền tải giá trị “đạo đức” của phim Trung Quốc ngày nay không gây được ấn
tượng sâu sắc đối với khán giả Việt Nam như trước. Mặt khác, một lý do mang
tính thị hiếu khác là khán giả Việt Nam không có hứng thú với những bộ phim rao
giảng đạo đức một cách hiển hiện. Điều này xuất phát từ một thuở phim Việt quá
chú trọng khai thác khía cạnh đạo đức xã hội trong bối cảnh thị trường mở cửa,
nhưng lại ít những phim tinh tế, đậm “tính đời” hơn là những phim mang màu sắc
tuyên truyền. Điều này khiến cho sự truyền tải giá trị “đạo đức” qua phim ảnh
bị mang ấn tượng là lộ liễu, thiếu thuyết phục.
Giá trị tinh thần
phấn đấu
Giá trị tinh thần
phấn đấu, với tinh thần nỗ lực vượt qua nghịch cảnh, vươn lên, hướng tới thành
công… là những giá trị ý chí cá nhân cũng thường xuất hiện trong phim Trung
Quốc. Thời kỳ cải cách mở cửa đầu những năm 90 thế kỷ 20, ở Việt Nam, khán giả
được đón nhận những phim truyền hình kinh điển khắc họa thời kỳ chuyển giao này
của Trung Quốc, như Khát vọng, Tình Châu Giang, Trưởng thôn, Người Bắc Kinh ở
Newyork, v.v… Khán giả Việt từng ấn tượng sâu sắc với tinh thần phấn đấu vươn
lên của những thanh niên Trung Quốc thời đại đó. Nhiều khán giả thế hệ 7x còn
chia sẻ các nhân vật trong phim là tấm gương phấn đấu cho họ khi bước chân vào
cuộc đời, cùng họ chia sẻ và ấp ủ những ước mơ lập thân lập nghiệp.
Khán giả Việt Nam
vẫn đón nhận khá tốt sự truyền đạt tinh thần “phấn đấu, nỗ lực” trong phim
Trung Quốc đầu thế kỷ 21, song đây không còn là một giá trị trung tâm, chủ chốt
của phim Hoa ngữ như thời kỳ trước. Thực chất, tinh thần nỗ lực vươn lên là một
giá trị phổ quát của con người, nó không bị giới định ở một vài đề tài, thể
loại phim nào đó, mà có thể xuất hiện từ phim hiện thực, đô thị hiện đại, đến
các đề tài cổ trang, lịch sử, thanh xuân vườn trường, huyền huyễn, v.v… Tuy
nhiên, như nhiều khán giả Việt Nam nhận xét, phim truyền hình Trung Quốc hai
thập niên đầu thế kỷ 21 chủ yếu hướng đến khán giả nữ, đánh vào tâm lý chuộng
lãng mạn của giới này, nên các bộ phim tập trung xoay quanh chủ đề tình yêu. Sự
nỗ lực của con người, trong trào lưu này, nhiều khi được đặt đan xen trong mục
đích tình cảm. Trong khi vẫn có một bộ phận khán giả mong đợi những tác phẩm
khắc họa tinh thần vươn lên của con người trong cuộc sống, bởi vì “ngoài tình
yêu, cuộc sống vẫn còn nhiều giá trị khác mà ta cần theo đuổi” (PV 2019) - như
điều mà các bộ phim cũ từng thuyết phục được khán giả. Đó là một vài nhân tố
ảnh hưởng tới hiệu quả tiếp nhận giá trị “nỗ lực, phấn đấu” ở khán giả, trong
khi tiềm năng để phim ảnh khai thác giá trị này là có.
Giá trị lạc quan,
tích cực
Giá trị lạc quan,
tích cực bao gồm tinh thần lạc quan, yêu đời, tràn đầy năng lượng tích cực và
sức sống, chiến thắng những suy nghĩ tiêu cực. Đây là một giá trị khá gần với
tinh thần của người trẻ đương đại, được đẩy mạnh trong phim Trung Quốc những
năm đầu thế kỷ 21, với mong muốn thông qua tác phẩm truyền đi càng nhiều niềm
vui và sự tích cực cho con người. Giá trị “lạc quan, tích cực” có ý nghĩa khá
quan trọng trong đời sống của người Việt, sau “gia đình” và đứng trên các giá
trị “tình yêu”, “đạo đức”, “phấn đấu”. Giá trị này được đánh giá là cần thiết
cho con người trong xã hội hiện đại nhiều áp lực. Xã hội công nghiệp hiện đại
ngày nay đòi hỏi con người phải làm việc và sinh hoạt với cường độ cao, sự căng
thẳng và cạnh tranh khốc liệt. Với những áp lực mang tính chất thời đại đó,
việc giữ cho bản thân một tinh thần khỏe mạnh, tích cực, tràn đầy năng lượng
tích cực là chìa khóa quan trọng để giữ cân bằng tâm lý và có cuộc sống tốt đẹp
hơn. Vậy nên, đa số người được hỏi đều đánh giá tương đối cao tầm quan trọng
của giá trị này đối với cuộc sống của họ.
Thái độ đón nhận của khán giả với giá trị “lạc quan, tích cực” trên phim nằm ở
mức độ vừa phải. Nguyên nhân có thể là do định hướng khai thác giá trị “lạc
quan, tích cực” của ảnh thị Trung Quốc mới đang đẩy mạnh thực hiện trong một
vài năm đầu thế kỷ 21, hiệu quả tiếp nhận của nó khi truyền tới Việt Nam có thể
chậm hơn ở Trung Quốc. Bên cạnh đó, một dạng phim được khán giả Việt Nam yêu
thích nhất là các phim chuyển thể IP(i) với lối truyện ngược
luyến lại thiên về tạo sự đắm chìm xúc động nơi khán giả, còn đối với việc
truyền tải năng lượng tích cực thì chưa có hiệu quả rõ rệt.
Giá trị yêu nước
Con người, bên cạnh
những giá trị tinh thần của bản thân, tình yêu của cá nhân mình với cá nhân
khác, còn có tình yêu với cộng đồng dân tộc. Dân tộc gắn liền với khái niệm
quốc gia, quốc gia gắn kết nhiều tộc người thành một khối thống nhất, bền chặt,
cả về lãnh thổ, lịch sử lẫn kinh tế, ngôn ngữ và văn hóa xã hội. Lòng yêu nước
là một ý niệm hàng đầu thường được nhắc tới trong điện ảnh xưa nay. Mức độ quan
trọng của “lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết dân tộc” trong quan niệm của người
Việt được đánh giá ở mức tương đối quan trọng. Tuy nhiên, mức độ cảm nhận của
khán giả ở giá trị “yêu nước” trên phim Trung Quốc hiện naylà không quá cao,
không bằng hiệu quả truyền đạt của một số giá trị tầng diện đời sống tinh thần
cá nhân, như “tình yêu”, “gia đình”, “lạc quan, tích cực”, “phấn đấu”, nhưng
cũng không phải là giá trị ít được yêu thích nhất.
Giá trị tinh thần
anh hùng
Từ cuối thế kỷ 20
bước sang đầu thế kỷ 21, Việt Nam tiến vào thời kỳ toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế, có sự tiếp xúc nhiều hơn với văn hóa Âu Mỹ đương đại, bao gồm các phim
điện ảnh Hollywood. Hollywood có nhiều tác phẩm bom tấn đề cao tính anh hùng cá
nhân, qua đó thể hiện được sức mạnh, trách nhiệm của một con người ưu tú trước
việc bảo vệ quốc gia, trợ giúp cộng đồng xã hội. Điều đó hoàn toàn khớp với căn
cốt văn hóa trọng cá nhân của phương Tây. Khảo sát về giá trị “tinh thần anh
hùng” phần nào hé lộ một vài biến đổi trong văn hóa Việt Nam trong thời đại
mới.
Theo cách hiểu của
đa phần người tham gia phỏng vấn, thì “chủ nghĩa anh hùng” gắn với các giá trị
của thời chiến hơn là cuộc sống hằng ngày. Theo họ, “anh hùng” không phải là
phẩm chất quá cần thiết hay có ích trong cuộc sống đời thường của họ, nhất là khi
xã hội đã chuyển biến từ thời chiến tranh trong quá khứ sang thời kỳ hòa bình
từ rất lâu. Đó là lý do khiến giá trị này đạt vị thế không cao trong quan niệm
của nhiều người. Dù vậy, họ lại không cự tuyệt việc xem và ngẫm nghĩ về nó trên
màn ảnh. Thậm chí, dòng phim siêu anh hùng của Hollywood là một trong những thể
loại rất được hâm mộ ở Việt Nam, cũng như ở khán giả nhiều nước khác trên thế
giới.
Tuy vậy, thực tế là
hiệu quả tiếp nhận giá trị “anh hùng” trong phim Trung Quốc thế kỷ 21 không
thật lớn, một trong những nguyên nhân có lẽ là sự cạnh tranh mạnh mẽ của dòng
phim “anh hùng” ở Hollywood. Do chủ đề này ở phim Mỹ và Trung Quốc là hai phong
cách hoàn toàn khác nhau, nên khán giả một khi đã khắc sâu thói quen thưởng
thức đối với phong cách Hollywood, ắt sẽ khó tiếp nhận các phim anh hùng thời
đại mới theo kiểu Trung Hoa hơn. “Chủ nghĩa anh hùng” kiểu Trung Quốc mà khán
giả Việt Nam quen thuộc, đó là các phim võ thuật yêu nước, phim chiến tranh
cách mạng. Nhưng rõ ràng, thể loại điện ảnh này những năm đầu thế kỷ 21 không
có nhiều tác phẩm đỉnh cao, do đó mà sức lay động tới khán giả cũng không bằng
trước kia.
Giá trị tinh thần
nhân đạo
Giá trị tinh thần
nhân đạo: là một giá trị phổ quát khác trong các tác phẩm điện ảnh thế giới đó
là tính nhân văn. “Chân, thiện, mỹ” là những tiêu chí gốc rễ của sáng tác nghệ
thuật từ thuở sơ khai chớm nở, từ nền nghệ thuật Hy Lạp cổ điển cho tới Trung Hoa
cổ đại đều rất mực đề cao. Trong đó, “thiện” là giá trị đại biểu cho tinh thần
nhân văn chủ nghĩa, đề cao lòng nhân đạo, bác ái, sự lương thiện trong đạo làm
người. Đặt trước giá trị trung tâm cốt lõi này của nhân loại, người được phỏng
vấn cho thấy đây là một giá trị cơ bản trong hệ giá trị con người Việt Nam. Tầm
quan trọng của “nhân đạo” trong quan niệm sống của nhóm được hỏi khá cao, chỉ
xếp sau giá trị “gia đình”. Điều này phù hợp với các yếu tố trong văn hóa
truyền thống Việt Nam, đó là đề cao tinh thần nhân ái, khoan dung, hướng thiện,
tương thân tương ái. Việt Nam có những câu thành ngữ mang ý nghĩa “lá lành đùm
lá rách”, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”, “bầu ơi thương lấy bí cùng”,… thể
hiện đạo lý thương người được răn truyền từ đời này sang đời khác. Khán giả
cũng đánh giá khá cao hiệu quả truyền đạt tinh thần “nhân văn”, “nhân đạo”
trong tác phẩm phim ảnh Trung Quốc đầu thế kỷ 21.
Giá trị công lý, công bằng xã hội
Giá trị công lý,
công bằng xã hội thể hiện mức tiến bộ và ổn định trật tự của xã hội, mà còn bộc
lộ thái độ của mỗi con người đối với công lý, lẽ phải. Những phim mang tính
thời sự và chính luận, nhất là dòng phim điều tra phá án, thường thể hiện rõ
giá trị “công lý”, công bằng xã hội này. Kết quả khảo sát cảm nhận của khán giả
về giá trị này cho thấy đây là giá trị khá quan trọng trong tâm niệm người Việt
Nam. Điều này thể hiện thái độ ủng hộ sự công bằng và lẽ phải, mưu cầu một xã
hội ổn định và đề cao công lý.
Thực chất, tư tưởng
này khá tương đồng với bối cảnh Trung Quốc. Thời kỳ cuối thập kỷ 90 thế kỷ 20,
loạt phim truyền hình về đề tài chống tham ô, đấu tranh với tội phạm của Trung
Quốc được đón nhận nồng nhiệt tại Việt Nam, trong hoàn cảnh phim Mỹ, Hàn hay
nhiều nước khác chưa khai thác được chủ đề này một cách gai góc và gần gũi với
hoàn cảnh Việt Nam như vậy. Sau khi chiếu dòng phim này của Trung Quốc, Việt
Nam cũng cho làm một số phim lấy đề tài chống tội phạm (Chạy án, Cảnh sát hình
sự, Cổ cồn trắng…). Điện ảnh Trung Quốc thế kỷ 20 cũng thành công phản ánh bức
tranh hiện thực của những con người có thân phận bên lề, gần gũi với hướng phát
triển của điện ảnh Việt Nam giai đoạn này.
Bước sang đầu thế
kỷ 21, dòng phim đề tài hiện thực xã hội đương đại của Trung Quốc ít được phổ
biến tới khán giả Việt Nam hơn. Đây cũng không phải một giá trị trọng tâm được
phản ánh trong phim truyện nước này đầu thế kỷ 21. Vì vậy, đây là giá trị mà khán
giả Việt Nam chờ đợi nhưng chưa tìm thấy tác phẩm phù hợp ở dòng phim Trung
Quốc. Mặt khác, với đề tài mang giá trị này, phim truyền hình Việt Nam giai
đoạn này lại có những nét đột phá, thu hút khán giả và trở thành tâm điểm dư
luận với một số phim như Người phán xử, Quỳnh búp bê…
Giá trị nhân quả
báo ứng
Giá trị nhân quả
báo ứng là một giá trị mang đậm nét giáo lý răn dạy, phổ biến ở cả phương Đông
và phương Tây, được coi trọng từ trong triết lý Phật giáo tới đời sống thế tục.
Nó thể hiện tinh thần “ở hiền gặp lành, ác giả ác báo” hay “gieo nhân nào gặt quả
nấy”, phản ánh sự liên kết giữa thái độ sống và vận mệnh của con người. Một
triết lý như vậy có ý nghĩa răn đe, dạy bảo con người sống tốt, sống ngay
thẳng, hướng con người tới cái thiện và kiêng dè làm chuyện xấu.
Theo nhiều khán
giả, việc thể hiện quan niệm “nhân quả báo ứng” là một trong những điều làm nên
giá trị yêu thích của khán giả đối với phim Trung Quốc hiện thời. Nó thường
được thể hiện ở những cảnh phim cao trào đòi lại lẽ công bằng cho nhân vật,
giải tỏa những uất ức, bị hiểu lầm, nhân vật chính được bù đắp lại những thiệt
thòi đã phải chịu đựng; đồng thời trừng trị kẻ ác, khẳng định sự giả dối, thâm
hiểm sẽ không nhận được kết quả tốt đẹp. Giai đoạn đầu thế kỷ 21, phim Trung
Quốc làm khá tốt các đoạn cao trào kịch tính theo mô thức này, đặc trưng trong
các phim cung đấu, phim gia đình, phim nghề nghiệp, hay phim đề tài xã hội đô
thị hiện đại. Bởi vậy, hiệu quả tiếp nhận giá trị này trên phim càng chứng tỏ
sự yêu thích của khán giả đối với một dòng phim đang nổi nằm ở giá trị triết lý
của bộ phim.
Đối chiếu hệ giá
trị con người trong đời thực và hiệu quả tiếp nhận giá trị quan phim Trung Quốc
thế kỷ 21
Có thể thấy, các
giá trị mà phim Trung Quốc đầu thế kỷ 21 truyền tải có sự phù hợp nhất định với
hệ giá trị con người Việt Nam, đây có thể là một hướng lý giải cho nguyên nhân
tiếp nhận dòng phim này ở khán giả Việt. Tuy vậy, thái độ của khán giả đối với
giá trị quan trong phim Trung Quốc vẫn có nhiều điểm khác biệt với giá trị quan
con người Việt Nam trong đời sống hằng ngày. Điều này phần nào cho thấy sự độc
lập, bộ lọc của khán giả trong việc phân định giữa câu chuyện phim ảnh và đời
sống thực tế.
Giá trị mà phim
Trung Quốc truyền tải được đánh giá cao nhất lần lượt là: “tình yêu”, “triết lý
nhân quả báo ứng”, “gia đình”, “tinh thần nhân đạo”. Có thể thấy đây là các giá
trị thường xuyên xuất hiện trong những dòng phim ăn khách nhất và cũng được phát
hành sang Việt Nam nhiều nhất ở giai đoạn đầu thế kỷ 21: phim ngôn tình, cung
đấu, hiện thực gia đình luân lý, thanh xuân. Sự đánh giá của khán giả về giá
trị “nhân đạo” của phim Trung Quốc ở cả quan niệm cá nhân lẫn hiệu quả truyền
đạt của phim ảnh đều tương đối cao, biểu hiện đây là một trong những giá trị
cốt lõi của nhân loại và cả trong nghệ thuật. Hơn nữa còn chứng tỏ giá trị
“nhân văn” thể hiện trong phim Trung Quốc thế kỷ 21 là khá tương đồng, phù hợp
với quan điểm chung của khán giả Việt Nam.
Những giá trị được
khán giả Việt Nam đón nhận ít nồng nhiệt nhất (“đạo đức”, “tinh thần anh hùng”,
“lòng yêu nước”, “công lý, công bằng xã hội”) thuộc về loại hình phim ảnh ít
được phổ biến ở Việt Nam trong thế kỷ 21 so với thời kỳ trước, ví dụ phim có đề
tài chính luận, chiến tranh. Mặt khác, những giá trị kể trên cần có sự đồng
thuận, gần gũi về bối cảnh xã hội giữa thế giới trong phim và thực tế xã hội
của quốc gia tiếp nhận thì mới tạo ra hiệu quả tiếp nhận tốt nhất. Một số giá
trị như “lòng yêu nước, đoàn kết dân tộc”, “công lý, công bằng xã hội” có sự
phân định rành mạch giữa giá trị quan con người và giá trị quan trên phim: lòng
yêu nước, tinh thần dân tộc, tinh thần xã hội trong giá trị quan con người là
gắn với quốc gia dân tộc Việt Nam, còn những giá trị này trên phim của một quốc
gia khác thì không tạo được sự đồng cảm, xúc động mạnh mẽ.
Sự tiếp nhận về giá
trị quan này tương đồng với thực tế phát hành phim Trung Quốc ở Việt Nam đầu
thế kỷ 21. Nếu thập niên cuối thế kỷ 20 được coi là thời hoàng kim của các dòng
phim tâm lý xã hội, gia đình luân lý, những phim phản ánh thực tế cải cách thời
kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc, thì bước sang thế kỷ 21, khán giả
Việt Nam chủ yếu theo đuổi dòng phim cổ trang Trung Quốc và không còn nhiều
hứng thú với các phim xã hội hiện đại. Tương ứng với thực tế này, sự tiếp nhận
giá trị quan cũng không có hiệu quả cao ở những giá trị “đạo đức”, “công lý,
công bằng xã hội”, “lòng yêu nước”… thường là chủ đề trọng tâm của các dòng
phim chính luận và xã hội hiện đại. Thay vào đó, giá trị “tình yêu” được khai
thác chính trong các phim mới trở thành trào lưu hút khách ở thế kỷ này như
ngôn tình, cổ trang, thậm chí các phim cung đấu, dã sử cũng chọn cách khai thác
chủ đề tình yêu ở thế giới cổ đại dưới góc nhìn và quan niệm của con người hiện
đại.
Vào cuối thập niên
thứ hai của thế kỷ 21, phía Tổng cục Điện ảnh truyền hình Trung Quốc có động
thái hạn chế các dòng phim cung đấu, huyền huyễn, ngôn tình… Điều này vấp phải
tiếng nói phản đối, chất vấn mạnh mẽ từ phía báo chí và khán giả, vì “tại sao dòng
phim đang có giá trị thương mại chủ lực lại cấm chiếu?”. Nhìn từ góc độ hiệu
quả kinh tế thì chủ trương này đúng là đang hạn chế sự lan tỏa của phim Trung
Quốc ở thị trường quốc tế, nhưng nếu nhìn từ góc độ hiệu quả tiếp nhận giá trị
quan thì có lẽ phía Tổng cục Điện ảnh truyền hình Trung Quốc lo ngại sự xa rời
giá trị thực tế của các dòng phim này khiến cho hiệu quả tiếp nhận giá trị quan
không đi theo đúng chủ trương phát triển văn hóa, vốn tập trung thúc đẩy truyền
bá hình tượng Trung Quốc đương đại.
Về phía quan niệm
cá nhân, người Việt đề cao các giá trị “gia đình”, “tinh thần nhân đạo”, “lạc
quan tích cực”, “đạo đức” trong hệ giá trị của mình. Những giá trị này thể hiện
tiềm năng phát triển mà phim Trung Quốc trong thế kỷ này còn có thể đẩy mạnh khai
thác và thảo luận. Đồng thời, phát lộ những điểm quan trọng trong giá trị quan
của khán giả cũng cho thấy hướng phát triển đúng đắn của ngành điện ảnh truyền
hình nói chung trong thế kỷ XXI này: đó là đề cao tình cảm gia đình, tình yêu
giữa con người với người, lan truyền năng lượng tích cực trong cuộc sống, quay
lại đề tài hiện thực với các triết lý luân lý đời thường.
Những giá trị có sự chênh lệch lớn về độ tiếp nhận có thể phân vào hai trường
hợp: thứ nhất, giá trị trong quan niệm cá nhân xếp ở vị thế không quá cao,
trong khi sự thể hiện giá trị trên phim rất được yêu thích (ở “tình yêu”, “nhân
quả báo ứng”); hoặc thứ hai, giá trị trong cả quan niệm cá nhân và trong phim
đều không được đánh giá quá cao (“tinh thần anh hùng”). Ở trường hợp 1 những
giá trị này cho thấy sức truyền đạt của phim ảnh là tương đối hiệu quả, tác
phẩm phim có khả năng tạo ra một thế giới lý tưởng được khán giả gửi gắm kỳ
vọng và hài lòng vượt hơn cả hiện thực cuộc sống (ví dụ, số đông khán giả cho
rằng giá trị tình yêu được truyền tải trên phim Trung Quốc đẹp và lý tưởng hơn
tình yêu mà họ có thể gặp ngoài đời). Với trường hợp này, phim có thể tạo thêm
niềm tin vào giá trị (“tình yêu”, “nhân quả”) cho con người trong cuộc sống,
hoặc là chỗ trú cho mơ ước, lý tưởng đối nghịch đời thực của con người. Còn ở
trường hợp 2, sức truyền đạt của phim ảnh chưa chắc đã thật hiệu quả so với các
giá trị khác, nhưng vẫn có sự đón nhận không bài trừ từ phía khán giả.
Những giá trị có
N/n<1 rõ nhất là: “đạo đức”, “công lý, bằng xã hội”, “lòng yêu nước”, “lạc
quan, tích cực”. Sự chênh lệch này thể hiện một trong hai khả năng: hoặc là kỳ
vọng của khán giả vào giá trị này vượt quá khả năng diễn giải của phim (“lạc
quan, tích cực”), hoặc là cách thức diễn giải của phim chưa phù hợp với quan
niệm, bối cảnh văn hóa xã hội của khán giả (“lòng yêu nước”, “đạo đức”, “công
lý, bằng xã hội”). Ở trường hợp này, khoảng cách tỉ lệ chênh lệch càng lớn càng
biểu hiện phim ảnh còn nhiều không gian phát triển để tìm ra cách thức truyền
đạt giá trị hiệu quả nhất so với mong muốn, kỳ vọng và tầm quan trọng của giá
trị trong lòng khán giả.
Điện ảnh Trung Quốc
thế kỷ 21 đề ra định hướng phát triển những câu chuyện mang tính giá trị cốt
lõi của nhân loại, xây dựng hình tượng Trung Quốc đương đại, như đề cao tình
cảm gia đình, tình yêu giữa con người với con người, lan truyền năng lượng tích
cực trong cuộc sống, quay lại đề tài hiện thực với các triết lý luân lý đời
thường… Do đó, nền điện ảnh truyền hình nước này đang hạn chế dần những đề tài
không phù hợp định hướng phát triển, dù đây là những dòng phim rất ăn khách đầu
thế kỷ 21 (như dòng phim “cung đấu”, “ngôn tình”, “thanh xuân”). Hướng phát
triển hiện nay dù đang gặp khá nhiều hoài nghi và phản đối từ phía truyền thông
và khán giả, nhưng nó được các nhà hoạch định truyền thông văn hóa xây dựng từ
lập trường đề cao hiệu quả tiếp nhận giá trị văn hóa. Thực tế cho thấy những
năm đầu thập niên thứ ba thế kỷ 21, phim Trung Quốc đang có sự khởi sắc ở dòng
phim hiện thực xã hội này khi một số bộ phim hiện thực xã hội đương đại đột
nhiên tạo được cơn sốt lớn ở thị trường Việt Nam, như “Ba mươi chưa phải là
hết”, “Danh nghĩa người nhà”, “Đi đến nơi có gió”, “Câu chuyện hoa hồng”, v.v.
Điều này cho thấy những giá trị về “gia đình”, “tinh thần phấn đấu”, “tinh thần
lạc quan, tích cực”, “tình yêu” vẫn có sự vận dụng hiệu quả trong dòng phim
hiện thực xã hội để có sự tiếp nhận của người xem. Khán giả Việt Nam ít
đón nhận phim chính luận và tâm lý xã hội Trung Quốc bằng thế kỷ trước vì ngày
nay, xã hội Việt Nam và Trung Quốc cũng không còn nhiều tương đồng về bối cảnh
phát triển như thời kỳ mới mở cửa kinh tế thị trường và xây dựng xã hội chủ
nghĩa, những giá trị chung trong xã hội đương đại của hai quốc gia cũng ít đi
nhiều. Tuy nhiên, sự chuyển dịch trọng tâm giá trị truyền tải trong
dòng phim hiện thực xã hội này của Trung Quốc có thể là một giải pháp để khán
giả nước ngoài như ở Việt Nam tìm thấy nhiều giá trị chung và tiếp nhận dễ dàng
hơn.
*
* *
Tựu trung lại, có
thể khẳng định những dòng phim ăn khách nổi bật và được truyền bá nhiều nhất
tại Việt Nam gần đây đã phát huy tốt sức truyền tải của mình, đưa một số giá
trị đặc trưng của các tiểu loại này thâm nhập vào tầng tiếp nhận nghệ thuật
sâu: tầng giá trị quan (thể hiện rõ nhất ở giá trị về “tình yêu”, “triết lý
nhân quả báo ứng”, ngoài ra còn có giá trị “gia đình”, “nhân đạo”). Định hướng
gần đây của phát triển điện ảnh, truyền hình Trung Quốc nhấn mạnh đến phục hưng
đề tài hiện thực, cùng việc lan tỏa các giá trị năng lượng tích cực, tình
người, ý chí phấn đấu của con người. Định hướng này thể hiện tính phù hợp với
những giá trị quan cố hữu trong quan niệm sống của khán giả, hứa hẹn sự tiếp
nhận hiệu quả của những dòng phim này trong tương lai. Ở khía cạnh khác là cái
nhìn tầng sâu hơn về nguyên nhân và trở ngại của sự tiếp nhận phim ảnh Trung
Quốc ở hải ngoại nói chung, ở Việt Nam nói riêng. Một trong những nguyên nhân
đó là bộ lọc tiếp nhận văn hóa của khán giả Việt. Đặc biệt đối với tầng bậc giá
trị quan, khán giả có sự nhận định độc lập giữa những giá trị lý tưởng trên
phim và giá trị thực tế trong đời sống, đứng từ bối cảnh xã hội của mình để
nhìn nhận và đánh giá những giá trị quan nào là gần gũi, thiết thực với đời
thực, còn giá trị quan nào chỉ phù hợp với thế giới hư ảo trên màn ảnh.
Đặc điểm này càng
khẳng định sự nhất trí với quan điểm cho rằng tính chân thực và tính hữu dụng
của sự kiện được quan sát thấy trên truyền thông đại chúng là một yếu tố quan
trọng trong quá trình xã hội hóa qua phim ảnh. Sự độc lập trong tiếp nhận giá
trị quan này cho phép chúng ta có cái nhìn khách quan hơn khi đứng trước những
lo âu về sự tiếp nhận văn hóa tràn lan, thiếu chọn lọc qua sản phẩm truyền
thông giải trí ngoại lai. Có thể nói, khán giả không dễ bị kéo theo những giá
trị không phù hợp vì chạy theo thần tượng hoặc đam mê một dòng phim nào đó,
ngược lại, họ là chủ thể tự quyết trong hành động giải trí của chính mình. Khán
giả có sự chọn lọc riêng với các dòng phim mà họ tiếp nhận, sự chọn lọc đó
trước hết là chọn lọc về giá trị quan: Ở cùng một thể loại phim, khán giả sẽ
chọn sản phẩm có giá trị quan phù hợp cuộc sống và xã hội đương thời của mình,
gạt bỏ tác phẩm có giá trị quan lạc lõng; ngược lại với cùng một giá trị, khán
giả chỉ tiếp nhận tác phẩm có bối cảnh và thời đại tương thích với giá trị quan
mà nó phản ánh. Sự xác lập và chọn lọc giá trị quan diễn ra thường trực trong
đời sống và tâm lý con người. Đó không phải một quá trình trừu tượng mà được cụ
thể hóa trong chính những thực hành văn hóa, trong các lựa chọn phục vụ nhu cầu
sinh tồn và nhu cầu tinh thần của con người. Trong khi các bình diện văn hóa,
kinh tế, tôn giáo, giải trí đang ngày càng được đánh giá như những trụ cột chi
phối đời sống con người hiện đại, các nghiên cứu về giá trị càng giúp chúng ta
nhìn rõ hơn những động lực, sức mạnh tạo thành sự thực hành văn hóa và hành vi
xã hội của con người.
CHÚ THÍCH
(i) IP
(Intellectual Property) là sở hữu trí tuệ hoặc tài sản trí tuệ. Trong lĩnh vực
phim điện ảnh và truyền hình, chuyển thể IP thường được hiểu là quá trình
chuyển một tài sản trí tuệ gốc (như tác phẩm văn học, truyện tranh,…) thành
định dạng phim điện ảnh, phim truyền hình, sản phẩm hình ảnh. Theo Chen, A.,
& Gu, H. (2025). IP Adaptation Strategies in Film: A Case Study of Ne Zha 2
(2025). Arts, 14(4), 85. https://doi.org/10.3390/arts14040085 .
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Duy Bắc
(2018), "Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) - chiến lược văn hóa của Đảng
trong thời kỳ Đổi mới", Tạp chí Lý luận chính trị.
https://www.tuyengiao.vn/nghi-quyet-trung-uong-5-khoa-viii-chien-luoc-van-hoa-cua-dang-trong-thoi-ky-doi-moi-121340.
Truy cập ngày 29/9/2018.
Phạm Duy Đức
(2024), "Phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam để thực
hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc", Tạp chí Tuyên
giáo,
https://www.tuyengiao.vn/phat-huy-gia-tri-van-hoa-va-suc-manh-con-nguoi-viet-nam-de-thuc-hien-khat-vong-phat-trien-dat-nuoc-phon-vinh-hanh-phuc-155255.
Truy cập ngày 17/7/2024.
Hoàng Văn Lễ
(2021), Xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp,
https://baovanhoa.vn/chien-luoc-phat-trien-van-hoa-viet-nam-den-nam-2030/xay-dung-con-nguoi-co-nhan-cach-loi-song-tot-dep-524.html.
Truy cập ngày 13/8/2021.
Bandura (1986),
Social Foundations of Thought & Action: A Social Cognitive Theory.
Englewood Cliffs, NJ: Prentice-Hall.
Chaffee, Nass &
Yang (1990), The bridging role of television in immigrant political
socialization. Human Communication Research.
Gebner, Gross,
Morgan, Signorielli (1986), "Living with television: The dynamics of
cultivation process". In J. Bryant & D. Zillman (Eds.), Perspectives
on Media Effects (pp. 17-20). Hillsdale, NJ: Lawrence Erlbaum.
Homans (1974),
Social Behavior: Its Elementary Forms, Newyork: Harcourt Brace Jovanovich.
尹鸿 (2017),《新常态”成中国电影年度关键词——放慢脚步不忘初心》.《人民日报——人民网》,http://media.people.com.cn/n1/2017/0103/c40606-28993314.html. 3/1/2017.