Thanh âm nghi lễ và nhịp giao hòa văn hóa khu vực
17/05/2026
Hưởng ứng Ngày Quốc tế Bảo tàng 18/5/2026 với chủ đề “Bảo tàng đoàn kết một thế giới đang chia rẽ”, các bảo tàng ngày nay không chỉ là nơi lưu giữ hiện vật mà còn góp phần mở ra những đối thoại văn hóa, giúp công chúng nhận ra các mối liên kết giữa cộng đồng và khu vực. Tại trưng bày Đông Nam Á của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (Bảo tàng DTHVN), những bộ nhạc cụ nghi lễ không chỉ phản ánh đời sống tinh thần phong phú của các quốc gia trong khu vực mà còn cho thấy nhiều điểm tương đồng văn hóa xuyên biên giới.
Dàn nhạc pin peat của người Khơ-me (Campuchia)
tại trưng bày Đông Nam Á, Bảo tàng DTHVN -
Ảnh: Nguyễn Thị Phượng
Trong đời sống của nhiều cộng đồng Đông Nam Á, âm nhạc không đơn thuần phục vụ giải trí mà gắn chặt với nghi lễ, tín ngưỡng và các hoạt động cộng đồng. Những dàn nhạc lớn với nhiều nhạc cụ, nổi bật là nhạc cụ gõ, xuất hiện phổ biến ở nhiều quốc gia như Campuchia, Myanmar, Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines. Dù mang tên gọi và cấu trúc khác nhau, các dàn nhạc này đều hiện diện trong những không gian thiêng, lễ hội cộng đồng và nghệ thuật trình diễn truyền thống.
Cồng, kong vong touch trong dàn nhạc pin peat tại trưng bày Đông Nam Á, Bảo tàng DTHVN - Ảnh: Bảo tàng DTHVN
Tại Campuchia, dàn nhạc pin peat là một trong những hình thức âm nhạc nghi lễ tiêu biểu. Một dàn pin peat thường có khoảng 10 nhạc cụ, nổi bật với ba dàn thanh gõ, hai vòng cồng, ba trống, một đôi chũm chọe và hai kèn. Không chỉ hiện diện trong các nghi lễ tôn giáo hay cung đình, pin peat còn gắn với nghệ thuật múa mặt nạ và sân khấu truyền thống của người Khơ-me. Đáng chú ý, hình ảnh những nhạc cụ này còn được khắc trên các bức phù điêu ở đền Angkor Wat, cho thấy lịch sử lâu đời và vị trí quan trọng của âm nhạc trong đời sống văn hóa Khơ-me.
Trong khi đó, tại Indonesia, gamelan lại tạo nên một không gian âm thanh mang tính cộng đồng đặc trưng. Một dàn gamelan có thể gồm tới 40 nhạc cụ với nhiều loại khác nhau như trống hai mặt da - kedang, dàn 6 thanh đồng - saron, dàn 14 thanh đồng - gender panerus, cồng treo - gong hay các dàn cồng úp đặt trên giá đỡ - bnang. Gamelan phát triển dưới triều đại Majapahit giai đoạn thế kỷ XIII-XV, đạt đến thời kỳ cực thịnh vào khoảng thế kỷ XVIII và được xem là mang tính thiêng trong nhiều nghi lễ truyền thống.
Dàn nhạc gamelan trong buổi biểu diễn rối bóng tại Yogyakatar (Indonesia), 2007 - Ảnh: Phạm Văn Lợi, Bảo tàng DTHVN
Điều thú vị là dù khác nhau về ngôn ngữ, tín ngưỡng hay lịch sử, nhiều cộng đồng Đông Nam Á lại có sự tương đồng trong cách sử dụng âm nhạc nghi lễ. Những dàn nhạc lớn với nhạc cụ gõ giữ vai trò trung tâm không chỉ tạo nên không gian âm thanh cộng đồng mà còn góp phần kết nối con người với thần linh, tổ tiên và đời sống xã hội. Âm nhạc trở thành một phần không thể thiếu trong múa rối bóng, rối dây, múa mặt nạ, các nghi lễ Phật giáo, Hồi giáo hay những lễ hội cộng đồng quan trọng.
Từ góc nhìn bảo tàng học, việc trưng bày nhạc cụ của quốc gia Đông Nam Á không chỉ nhằm giới thiệu đặc trưng văn hóa của đất nước đó mà còn giúp công chúng nhận ra những “sợi dây” liên kết trong khu vực. Những bộ cồng, dàn thanh gõ hay tiếng trống nghi lễ cho thấy Đông Nam Á không phải là tập hợp rời rạc của các nền văn hóa riêng biệt, mà là một không gian văn hóa có nhiều giao thoa và tương tác lâu dài trong lịch sử.
Trong bối cảnh thế giới ngày càng đối diện với nhiều khác biệt và chia rẽ, các trưng bày của Bảo tàng có thể góp phần tạo nên sự thấu hiểu thông qua những giá trị văn hóa chung. Khi đứng trước dàn nhạc nghi lễ trong không gian trưng bày Đông Nam Á, công chúng không chỉ nhìn thấy sự đa dạng của mỗi quốc gia mà còn cảm nhận được nhịp kết nối văn hóa của cả khu vực - nơi âm thanh trở thành tiếng nói, ký ức và niềm tin chung của nhân loại.
Theo cách ấy, bảo tàng không chỉ lưu giữ hiện vật hay tái hiện quá khứ, mà còn trở thành không gian đối thoại văn hóa, góp phần kết nối con người trong một thế giới nhiều khác biệt bằng chính những giá trị chung của di sản âm nhạc./.
Nguyễn Thị Phượng
Nguồn bài viết: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam