Phát triển sinh kế của một số tộc người ở vùng biên giới tỉnh Đồng Nai
Bài viết phân tích thực trạng sinh kế của một số cộng đồng tộc người ở vùng biên giới tỉnh Đồng Nai. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các hoạt động sinh kế của người dân địa phương bao gồm sinh kế nông nghiệp, phi nông nghiệp và một số hình thức sinh kế xuyên biên giới, được tổ chức và duy trì với những hình thức khá đa dạng nhằm thích ứng với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, những hoạt động sinh kế này cũng bộc lộ một số khó khăn và thách thức, đặc biệt liên quan đến sự khác biệt trong khả năng tiếp cận nguồn lực, vị thế kinh tế và cơ hội tiếp cận thị trường giữa các nhóm tộc người. Từ thực tiễn đó, bài viết thảo luận một số vấn đề cần được quan tâm trong hoạch định chính sách nhằm ổn định đời sống kinh tế và thúc đẩy phát triển sinh kế bền vững cho các cộng đồng tộc người sinh sống tại khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc tỉnh Đồng Nai.
MỞ
ĐẦU
Khu
vực biên giới Việt Nam - Campuchia tại tỉnh Đồng Nai (mới) bao gồm 8 xã, với
khoảng 258km đường biên tiếp giáp với tỉnh Mondulkiri, Vương quốc Campuchia.
Đây là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng
- an ninh và đối ngoại của nước ta. Cư trú ở đây chủ yếu gồm các tộc người tại
chỗ như Mnông, Xtiêng và các tộc người mới di cư đến sau là Tày, Nùng và người
Kinh. Phần lớn các tộc người sinh sống tại vùng biên giới duy trì nhiều mối
quan hệ đa dạng, bao gồm quan hệ đồng tộc, thân tộc trên các lĩnh vực kinh tế,
xã hội và văn hóa. Những mối quan hệ này không chỉ diễn ra trong phạm vi cộng
đồng ở phía Việt Nam, mà còn được mở rộng với các nhóm đồng tộc và khác tộc
sinh sống ở khu vực biên giới Campuchia. Vì vậy, việc phát triển sinh kế, nâng
cao đời sống và giảm nghèo cho cư dân các tộc người ở khu vực biên giới có ý
nghĩa quan trọng nhằm góp phần ổn định đời sống kinh tế - xã hội và củng cố ý
thức quốc gia - dân tộc của cộng đồng địa phương. Từ đó, đóng góp vào việc giữ
vững an ninh chính trị khu vực biên giới và bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ của
Việt Nam.
Trên
cơ sở tư liệu thu thập từ các đợt điền dã trong 2 năm 2025 và 2026, bài viết
này tập trung phân tích các đặc điểm và vai trò của những hoạt động sinh kế
trong đời sống các tộc người ở vùng biên giới tỉnh Đồng Nai, đồng thời xem xét
những tác động tích cực cũng như thách thức từ những hoạt động kinh tế của một
số nhóm cư dân, bao gồm tộc người tại chỗ (lựa chọn người Xtiêng, tộc người có
lịch sử cư trú lâu đời tại đây, có đời sống kinh tế nông nghiệp truyền thống và
đang từng bước thích ứng với lối canh tác, phương thức mới); các tộc người di
cư (lựa chọn người Nùng, một trong những tộc người mới di cư đến đây, có đời
sống kinh tế phát triển, có phương pháp canh tác hiệu quả tại vùng đất mới); và
người Kinh. Nghiên cứu sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học nhằm thu thập
thông tin về thực trạng đời sống kinh tế - xã hội của cư dân tại hai xã Bù Gia
Mập và Đăk Ơ trong giai đoạn 2020 - 2025. Tác giả đã thực hiện 20 cuộc phỏng
vấn sâu với các thành viên thuộc các tộc người Xtiêng (thôn Bù Rên, xã Bù Gia
Mập; thôn Bù Bưng, xã Đăk Ơ), người Nùng (thôn Cầu Sắt, xã Bù Gia Mập; thôn Tư,
xã Đăk Ơ) và người Kinh (thôn Dù Dốt, xã Bù Gia Mập; thôn 6, xã Đăk Ơ), đồng
thời, tổ chức một số cuộc thảo luận nhóm với đại diện của ba cộng đồng này. Các
thôn nghiên cứu đều nằm trong khu vực xung quanh Vườn Quốc gia Bù Gia Mập và
giáp biên giới Campuchia qua sông Đăk Huýt.
Bù
Gia Mập và Đăk Ơ là hai xã biên giới thuộc tỉnh Đồng Nai có đường biên tiếp
giáp với Campuchia qua sông Đắk Huýt. Địa hình chủ yếu là rừng rậm, thuộc địa
giới hành chính của Vườn Quốc gia Bù Gia Mập. Xã Bù Gia Mập có đường biên giới
dài 11,711km với 06 cặp mốc phụ tiếp giáp xã Senmonorum, huyện Ô Răng, tỉnh
Mondulkiri, Campuchia (UBND xã Bù Gia Mập, 2025). Xã Đăk Ơ có đường biên giới
dài 24,646km, với 02 cặp mốc chính và 08 cặp mốc phụ, tiếp giáp xã Senmonorum,
huyện Ô Răng, tỉnh Mondulkiri, Campuchia (UBND xã Đăk Ơ, 2025). Đến nay, khu
vực biên giới này vẫn chưa có cửa khẩu chính ngạch và hoạt động giao thương, mà
chỉ có sự giao lưu, trao đổi giữa các tộc người ở hai bên biên giới qua đường
sông Đắk Huýt. Các giao dịch thương mại và hoạt động làm thuê được thực hiện
qua cửa khẩu Hoàng Diệu, xã Hưng Phước (tỉnh Đồng Nai), cách địa bàn 2 xã
khoảng 25 - 30km.
Xã
Bù Gia Mập có diện tích 34.251ha, trong đó gần 26.000ha thuộc vùng lõi Vườn Quốc
gia Bù Gia Mập, phía đông giáp xã Quảng Trực (tỉnh Lâm Đồng), phía tây giáp xã Đăk Ơ, phía nam giáp các xã Phú Nghĩa và Đăk Nhau, phía bắc giáp Campuchia, có 45km đường biên giới tiếp giáp
với Vương quốc Campuchia (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025). Sau thời điểm sáp
nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh ngày 1/7/2025, xã Bù Gia Mập có 7.975 người
(1.898 hộ), trong đó: dân tộc Xtiêng 2.750 người (635 hộ), dân tộc Mnông 1.430
người (328 hộ), dân tộc Tày 859 người (215 hộ), dân tộc Nùng có 418 người (100
hộ), dân tộc Kinh 1.983 người (487 hộ) và một số tộc người khác. Sinh kế của
các tộc người tại đây chủ yếu làm nông nghiệp; trong đó nổi bật là trồng cây
công nghiệp lâu năm như: điều (2.373ha), cao su (1.205ha), hồ tiêu (147ha) và
cà phê (262ha). Bên cạnh đó, người dân cũng phát triển các loại cây ăn quả như
chôm chôm và sầu riêng (89,9ha) (UBND xã Bù Gia Mập, 2025).
Xã
Đăk Ơ có diện tích 24.649,07ha, phía đông giáp xã Bù Gia Mập, phía
tây giáp xã Hưng Phước, phía nam
giáp xã Phú Nghĩa,
phía bắc giáp với huyện Ô Răng, tỉnh Mondulkiri, Vương quốc Campuchia với
chiều dài 15,896km (có 2 cột mốc 16.1; 16.2 và 7 cặp mốc phụ). Xã Đăk Ơ có
19.023 người (4.648 hộ), trong đó: dân tộc Xtiêng có 5.344 người (1.144 hộ),
dân tộc Nùng 670 người (159 hộ), dân tộc Tày 735 người (173 hộ), dân tộc Kinh
11.659 người (3.105 hộ). Sinh kế chính của các tộc người ở xã là trồng cây công
nghiệpvới diện tích trồng điều 3.434ha, hồ tiêu 351ha, cao su 4.228ha (UBND xã
Đăk Ơ, 2025).
KẾT
QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1.
Sinh kế nông nghiệp
1.1. Tiếp cận và sử dụng đất nông nghiệp
Phương
thức canh tác truyền thống của người Xtiêng là rẫy luân canh (Mạc Đường, chủ
biên 1985). Họ thường lựa chọn rẫy ở các khu vực gần rừng và nguồn nước để
thuận lợi cho sinh hoạt và sản xuất. Mỗi khu rẫy được canh tác khoảng 3 - 5
năm; khi đất bạc màu và năng suất cây trồng giảm, người dân khai phá chỗ rẫy
mới để canh tác. Sau một thời gian bỏ hóa, khi đất dần phục hồi độ phì nhiêu,
họ quay trở lại canh tác theo chu kỳ luân canh. Với tư cách là cư dân tại chỗ,
trước năm 2020 người Xtiêng sở hữu diện tích đất rẫy lớn hơn so với các nhóm cư
dân khác trong khu vực. Tại thôn Bù Rên (xã Bù Gia Mập), diện tích đất rẫy
trước đây phổ biến của các hộ Xtiêng dao động từ 7 - 10ha/hộ. Từ năm 2020 đến
nay, diện tích rẫy của người Xtiêng có xu hướng giảm đáng kể, thậm chí một số
hộ không còn đất canh tác. Phần lớn diện tích đất rẫy được chuyển nhượng cho
người Kinh do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nổi bật là áp lực vay vốn
và các nhu cầu chi tiêu của hộ gia đình. Thực trạng bán hoặc cầm cố đất rẫy
diễn ra khá phổ biến, làm thay đổi đáng kể cấu trúc sở hữu đất đai giữa các
nhóm cư dân tại địa phương. Một trong những nguyên nhân quan trọng là rủi ro
khi đầu tư sản xuất. Các hộ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể vay vốn
tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Đăk Ơ với mức tối
đa khoảng 50% giá trị tài sản thế chấp, chủ yếu để đầu tư trồng hồ tiêu. Tuy
nhiên, các đợt dịch bệnh trong các năm 2012 và 2019 khiến hồ tiêu chết hàng
loạt, làm nhiều hộ không còn khả năng trả nợ và buộc phải bán hoặc cầm cố đất
rẫy. Khảo sát tại thôn Bù Rên cho thấy một số trường hợp điển hình: gia đình
ông Điểu V. bán 1,1ha đất rẫy để trả khoản vay 400 triệu đồng; ông Điểu Ph. bán
1,5ha đất rẫy cùng 255m² đất thổ cư để trả khoản nợ 800 triệu đồng; ông Điểu
Ch. buộc phải bán 1,6ha đất rẫy sau khi hơn 200 gốc hồ tiêu bị chết do dịch
bệnh (Tư liệu điều tra tại thực địa tại xã Bù Gia Mập, tháng 7/2025). Bên cạnh
các khoản vay ngân hàng, một số hộ người Xtiêng còn vay tiền từ nguồn tín dụng
không chính thức của các hộ người Kinh đang kinh doanh tại địa phương với lãi
suất rất cao (khoảng 50 - 60%/tháng). Trong bối cảnh khó khăn về kinh tế và hạn
chế hiểu biết pháp lý, nhiều người chấp nhận các điều kiện vay bất lợi; khi
không có khả năng trả nợ, buộc phải bán hoặc gán cho chủ nợ. Ngoài ra,
chi phí cho các nghi lễ truyền thống như cưới hỏi và tang ma cũng tạo áp lực
đáng kể đối với kinh tế hộ gia đình. Người dân địa phương cho biết: “Chi
phí cho một đám cưới có thể khoảng 100 - 200 triệu đồng, trong khi một đám tang
theo tín ngưỡng truyền thống cũng tốn kém hàng trăm triệu đồng” (PVS, Điểu
C., nam, 68 tuổi, tháng 2/2026). Trong nhiều trường hợp, đất rẫy trở thành
nguồn tài sản quan trọng để trang trải các khoản chi phí này. Khảo sát năm 2025
cho thấy sự chênh lệch đáng kể về diện tích đất nông nghiệp giữa các nhóm cư
dân. Tại xã Bù Gia Mập, diện tích đất rẫy phổ biến của các hộ Xtiêng hiện trung
bình khoảng 2 - 4ha, mặc dù một số hộ còn sở hữu khoảng 10ha. Tại xã Đăk Ơ,
trong tổng số 201 hộ Xtiêng ở Đội 1 (thôn 4), chỉ có 2 hộ có khoảng 6ha; 10 hộ
có từ 3 - 5ha, còn lại phổ biến từ 1 - 2ha. Mặc dù là cư dân tại chỗ, diện tích
đất sản xuất của người Xtiêng hiện nay lại thấp hơn so với người Nùng và người
Kinh di cư đến sau.
Trong
khi đó, người Kinh và người Nùng tiếp cận đất nông nghiệp chủ yếu thông qua các
giao dịch thị trường và mạng lưới quan hệ xã hội. Người Kinh thường mua đất
trực tiếp từ các hộ Xtiêng; nhiều giao dịch chỉ được lập bằng giấy viết tay
giữa hai bên mà không thực hiện đầy đủ thủ tục hành chính. Theo lời kể của ông
Điểu R., 49 tuổi, dân tộc Xtiêng, thôn 10, xã Đăk Ơ, tháng 2/2026: “Do cần
số tiền lớn để đưa mẹ đi chữa bệnh Ung thư, nhiều lần phải đi bệnh viện ở Thành
phố Hồ Chí Minh; nên phải bán 2ha rẫy đã trồng tiêu, cho người Kinh với giá 320
triệu đồng, thủ tục bán đơn giản, giấy tờ mua bán do người Kinh viết tay, rồi
cả nhà mình cùng ký vào giấy bán đất, vợ không biết chữ thì điểm chỉ. Việc mua
bán này phải giấu, nếu cán bộ xã biết sẽ phạt vì có chủ trương của Nhà nước cấm
không cho bán, cầm cố đất”. Tại xã Bù Gia Mập, có 17 hộ người Kinh sở hữu
trên 20ha đất rẫy; tiêu biểu như hộ ông N.H.T (thôn Bù Dốt) với 9ha điều, 7ha
cà phê và 4ha hồ tiêu. Người Nùng tiếp cận đất chủ yếu thông qua khai hoang và
sau đó tích lũy vốn để mua thêm đất từ các hộ Xtiêng. Theo lời kể của một bậc
cao niên: “Người Nùng đến định cư tại địa phương từ khoảng năm 1994, họ
khá chăm chỉ, có tính toán cẩn trọng trong sản xuất. Họ thường trồng xen canh
nhiều loại cây công nghiệp nên duy trì nguồn thu ổn định, nhờ đó diện tích đất
sản xuất ngày càng được mở rộng” (PVS, Hoàng Văn Th., nam, 78 tuổi, xã
Đăk Ơ, năm 2025). Những biến động trong sở hữu và sử dụng đất đai cho thấy đất
nông nghiệp không chỉ là tư liệu sản xuất mà còn là không gian tương tác giữa
các nhóm tộc người trong quá trình tổ chức sinh kế. Trong bối cảnh chuyển đổi
kinh tế ở vùng biên giới, sự khác biệt về nguồn lực, kinh nghiệm sản xuất và
khả năng tiếp cận thị trường đã dẫn đến sự tái phân bố đất đai giữa các nhóm cư
dân. Điều này, vừa tạo ra những cơ hội sinh kế mới, vừa làm gia tăng áp lực
cạnh tranh và những bất bình đẳng nhất định trong tiếp cận đất đai giữa các tộc
người tại chỗ và các nhóm di cư.
1.2. Hợp tác lao động và thực hành canh tác
Đối
với người Xtiêng, việc huy động lao động trong sản xuất nông nghiệp truyền
thống chủ yếu dựa vào mạng lưới họ hàng và cộng đồng. Vào mùa vụ, các hộ gia
đình thường tổ chức “đổi công”, hỗ trợ nhau trong các khâu làm đất, gieo trồng
và thu hoạch. Đây không chỉ là phương thức tổ chức lao động trong sản xuất nông
nghiệp, mà còn góp phần củng cố các quan hệ xã hội trong cộng đồng (Mạc Đường
chủ biên, 1985). Hiện nay, hình thức đổi công giữa các nhóm hộ trong thôn và
trong dòng họ của người Xtiêng vẫn được duy trì, đặc biệt trong mùa thu hoạch
điều. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hóa, cách thức tổ
chức lao động của người Xtiêng cũng có những thay đổi nhất định. Bên cạnh các
hình thức hợp tác truyền thống, nhiều hộ bắt đầu thuê lao động thời vụ vào thời
điểm thu hoạch rộ nhằm bảo đảm tiến độ sản xuất. Một bộ phận lao động người
Xtiêng cũng tham gia làm thuê cho các hộ người Kinh và người Nùng. Điều này cho
thấy sự chuyển dịch dần từ các hình thức hợp tác lao động mang tính cộng đồng
sang các quan hệ lao động mang tính thị trường. Đối với người Kinh và các tộc
người di cư, thường thuê mướn lao động thời vụ người Xtiêng, đồng thời, đưa vào
khu vực này nhiều kỹ thuật canh tác mới như sử dụng máy móc, giống cây trồng
cải tiến và các loại phân bón công nghiệp. Bên cạnh đó, thực hành canh tác giữa
các nhóm tộc người cũng có sự trao đổi và tiếp biến nhất định. Khi người Kinh
và người Nùng áp dụng kỹ thuật trồng hồ tiêu bằng cọc cố định và cho thấy hiệu
quả sản xuất, người Xtiêng cũng tiếp thu và vận dụng các kỹ thuật này trong
hoạt động canh tác của mình. Ngược lại, người Xtiêng chia sẻ cho các nhóm di cư
giống cây trồng truyền thống và kinh nghiệm canh tác trên đất rẫy. Tại xã Đăk
Ơ, người Nùng học được từ người Xtiêng cách làm lúa rẫy trên đất đỏ bazan, kỹ
thuật trồng điều và hình thức xen canh lúa với điều. Họ còn được người Xtiêng
cho vay gạo, cung cấp giống lúa và giống điều, đồng thời, hướng dẫn cách trồng
và chăm sóc các loại cây trồng trên đất đỏ bazan. Những tương tác này cho thấy hợp
tác lao động và trao đổi kinh nghiệm sản xuất đã tạo nên một “không gian trung
gian” trong quan hệ tộc người tại địa phương, nơi các nhóm cư dân vừa duy trì
các thực hành canh tác truyền thống, vừa tiếp nhận những kỹ thuật sản xuất mới.
Quá trình này góp phần hình thành các hình thức sinh kế nông nghiệp đa dạng hơn
trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế ở vùng biên giới
Trong
giai đoạn đầu, các tộc người tại chỗ ít tham gia trực tiếp vào các mạng lưới
thị trường lớn do hạn chế về vốn, thông tin và quy mô sản xuất. Họ tham gia vào
các hoạt động kinh tế với nhiều vai trò khác nhau như cung cấp lao động tại các
trang trại của người Kinh. Bên cạnh đó, người Xtiêng tham gia sản xuất và chế
biến nông sản hoặc duy trì một số nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm,
đan gùi, nấu rượu cần,... Tại thôn Bù Rên hiện có ba hộ người Xtiêng mở cơ sở
chế biến điều xuất khẩu. Nhiều hộ trong thôn tham gia công đoạn tách vỏ lụa
điều cho các cơ sở chế biến của người Kinh trong xã, với mức công khoảng 15.000
đồng/kg điều khô. Bên cạnh đó, tại mỗi xã có khoảng 5 - 7 hộ người Xtiêng duy
trì nghề đan gùi và dệt thổ cẩm để bán cho cư dân địa phương, khách du lịch và
các hợp tác xã du lịch tại xã Bù Gia Mập. Trong khi đó, người Kinh và các tộc
người di cư thường có lợi thế hơn trong việc tiếp cận thị trường nhờ mạng lưới
quan hệ rộng với các trung tâm kinh tế, chợ đầu mối và hệ thống thương lái. Tại
mỗi xã hiện có khoảng 25 - 30 hộ người Kinh làm đại lý thu mua nông sản như
điều, hồ tiêu và mủ cao su để cung cấp cho các nhà máy chế biến ở Bình Dương và
Thành phố Hồ Chí Minh. Từ năm 2020, tại xã Đăk Ơ cũng xuất hiện hai hộ người
Nùng ở thôn Tư làm đại lý thu mua mủ cao su, họ thu mua từ người Nùng và người
Xtiêng, sau đó vận chuyển đến bán cho Công ty Phú Thịnh (cách khoảng 18km), với
mức giá cao hơn khoảng 2.000 đồng/lít so với việc bán trực tiếp cho các thương
lái đến tận thôn.
Như
vậy, sinh kế nông nghiệp là hoạt động chính trong đời sống kinh tế của các tộc
người ở xã Đăk Ơ và xã Bù Gia Mập. Kết quả phỏng vấn sâu các hộ gia đình cho thấy,
nguồn thu nhập chính và quan trọng nhất đối với người Xtiêng và người Nùng là
từ sản xuất nông nghiệp. Còn người Kinh lại đóng vai trò là thương lái, đại lý
thu mua và kết nối các kênh tiêu thụ nông sản tại địa phương. Tuy nhiên, lợi
ích thu được từ thị trường giữa các nhóm tộc người không phân bố đồng đều.
Những nhóm có lợi thế hơn về vốn, kinh nghiệm sản xuất và mạng lưới quan hệ -
chủ yếu là người Kinh và một bộ phận các hộ di cư - thường có điều kiện tiếp
cận thị trường thuận lợi hơn so với các hộ người Xtiêng tại chỗ.
2.
Sinh kế phi nông nghiệp
2.1. Lao động làm thuê
Người
Xtiêng khi tìm việc thường dựa vào các mối quan hệ đồng tộc và có xu hướng làm
việc tại cùng một công ty hoặc cùng địa điểm. Họ thường di chuyển theo nhóm và
duy trì sự gắn kết trong sinh hoạt cũng như lao động. Chẳng hạn, tại thôn Bù
Rên hiện có 16 thanh niên người Xtiêng đang làm việc tại một công ty bao bì ở
Bình Dương; họ thuê nhà trọ gần nhau, sinh hoạt trong cùng khu vực và hỗ trợ
lẫn nhau khi gặp khó khăn, mức lương trung bình khoảng 7-8 triệu
đồng/người/tháng. Thông thường, mỗi cặp vợ chồng chỉ chi tiêu khoảng 5-6 triệu
đồng, gồm tiền ăn và thuê nhà trọ, số tiền còn lại gửi về quê nuôi con.
Tại
địa phương, nhiều hộ người Nùng thuê lao động người Xtiêng làm công việc cạo mủ
cao su. Công việc này thường diễn ra vào ban đêm và sáng sớm do đặc thù khai
thác mủ, với mức tiền công dao động từ 5 - 10 triệu đồng/người/tháng (tuỳ từng
thời vụ thu mủ, mỗi lao động làm thuê chỉ cạo mủ 3-4 tiếng rồi lại về nhà làm
công việc khác). Công việc này được xem là ổn định hơn so với làm cỏ hoặc nhặt
điều, thu tiêu tại các vườn.
Đối
với các vườn của người Kinh, lao động được thuê chủ yếu là người Xtiêng và
Mnông tại địa phương, với mức tiền công khoảng 300.000 - 350.000 đồng/ngày.
Những lao động này thường làm việc theo nhóm và theo từng đợt ngắn, khoảng 4 -
5 ngày, thay vì làm việc cố định theo tháng. Vào mùa thu hoạch điều, để bảo đảm
tiến độ sản xuất, nhiều chủ vườn người Kinh còn thuê thêm khoảng 30 - 40 lao
động người Kinh từ Phan Rang - Tháp Chàm (tỉnh Ninh Thuận cũ) đến làm việc thời
vụ. Theo nhận xét của chủ vườn: “Lao động tại chỗ thường không làm việc
lâu dài, mỗi đợt dài nhất khoảng 5 - 7 ngày; tuy nhiên họ được đánh giá là làm
việc nhiệt tình và thật thà. Đối với một số lao động người Xtiêng theo Tin Lành
hoặc Công giáo, họ thường chỉ làm việc vào các ngày trong tuần và dành cuối
tuần để tham gia sinh hoạt tôn giáo tại Nhà thờ Thiên An” (PVS, Nguyễn
Hiệp Th., nam, 50 tuổi, chủ vườn, thôn Bù Dốt, xã Bù Gia Mập, tháng 7/2025).
Một
bộ phận lao động người Xtiêng còn tổ chức làm việc theo nhóm, chủ yếu là những
người có quan hệ họ hàng hoặc cùng theo đạo Tin Lành, Công giáo. Các nhóm này
thường nhận việc theo hình thức khoán gọn, như phát cỏ với mức lương khoảng 1,7
triệu đồng/ha hoặc nhặt điều với tiền công tính theo sản lượng, khoảng 4.000
đồng/kg; trung bình tiền công nhặt 1 tấn điều khoảng 4 triệu đồng/người. Hình
thức tổ chức lao động theo nhóm giúp họ dễ dàng phối hợp công việc và hỗ trợ
lẫn nhau trong quá trình lao động. Tuy nhiên, theo ý kiến của một số chủ
vườn: “Dù giá nông sản giảm hoặc mất mùa, chi phí thuê lao động vẫn ít
thay đổi, điều này phần nào làm gia tăng áp lực chi phí sản xuất đối với các hộ
trồng trọt” (PVS, Nguyễn Thị T., nữ, 53 tuổi, chủ vườn, thôn Bù Dốt,
xã Bù Gia Mập, tháng 7/2025).
Như
vậy, người Kinh và người Nùng giữ vai trò chủ đạo trong việc sử dụng lao động
hoặc trung gian trong các hoạt động kinh tế và thị trường, trong khi phần lớn
lao động làm thuê lại là người Xtiêng, chủ yếu đảm nhận các công việc lao động
phổ thông và thời vụ. Bên cạnh đó, người Nùng không chỉ chủ động được nguồn lao
động trong cộng đồng, mà còn thuê thêm lao động người Xtiêng, đặc biệt, vào các
thời điểm cần nhiều nhân công như thu hoạch hồ tiêu, cạo mủ cao su và các hoạt
động nông nghiệp khác. Thực tế này phản ánh sự khác biệt về nguồn lực kinh tế,
khả năng tiếp cận thị trường và vị thế xã hội giữa các nhóm tộc người trong bối
cảnh chuyển đổi sinh kế tại khu vực biên giới hiện nay.
2.2. Tiểu thủ công nghiệp, buôn bán nhỏ và dịch vụ
Trong
các hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ (chế biến nông sản, nghề
mộc, đan lát, buôn bán tại chợ biên giới, dịch vụ ăn uống, vận tải nhỏ…), có
vai trò quan trọng trong việc hình thành và duy trì các mạng lưới sinh kế tại
địa phương. Các nghề thủ công truyền thống của người Xtiêng như dệt thổ cẩm,
đan gùi và nấu rượu cần, đã được duy trì qua nhiều thế hệ. Lớp trẻ người Xtiêng
đã có sự tiếp thu tri thức tộc người trong việc bảo tồn và phát triển các nghề
này. Từ năm 2020 đến nay, các hoạt động thủ công truyền thống còn được gắn với
các chương trình bảo tồn văn hóa và phát triển du lịch cộng đồng tại Vườn Quốc
gia Bù Gia Mập, góp phần vừa gìn giữ bản sắc văn hóa tộc người, vừa tạo thêm
nguồn sinh kế cho người dân địa phương. Trong khi đó, người Kinh đóng vai trò
cung cấp nguồn hàng và kết nối thị trường tiêu thụ, cung cấp dịch vụ vay tín
dụng. Thực tế tại xã Bù Gia Mập cho thấy hoạt động kinh doanh nhỏ lẻ của người
Kinh ngày càng phát triển: hiện toàn xã có 4 doanh nghiệp và 129 hộ kinh doanh
cá thể, giảm 2 doanh nghiệp nhưng tăng 24 hộ kinh doanh so với năm 2020. Xu
hướng này phản ánh sự mở rộng của các hình thức kinh doanh quy mô hộ của người
Kinh trong cộng đồng dân cư địa phương. Trong lĩnh vực thu mua nông sản, phần
lớn thương lái thu mua điều, hồ tiêu và mủ cao su tại địa bàn xã là người Kinh.
Theo người dân địa phương: “Nhiều thương lái từ Đồng Xoài hoặc Thành
phố Hồ Chí Minh đến thu mua trực tiếp tại vườn; tuy nhiên, giá bán tại vườn
thường thấp hơn khoảng 15 - 20% so với việc bán tại các điểm thu mua của cơ sở
chế biến hoặc các đại lý lớn” (PVS, Nguyễn Trường G., nam, 41 tuổi,
thôn 6, xã Đăk Ơ, tháng 7/2025).
Tại
chợ Bù Gia Mập và chợ Đăk Ơ, phần lớn tiểu thương là người Kinh; chỉ có một số
ít người Nùng tham gia buôn bán và gần như không có người Xtiêng hoạt động
thương mại tại chợ. Các đại lý thu mua nông sản như điều, hồ tiêu và sầu riêng
cũng chủ yếu do người Kinh đảm nhận; riêng tại xã Đăk Ơ có hai trường hợp người
Nùng làm đại lý thu mua mủ cao su. Bên cạnh đó, hầu hết các cửa hàng kinh doanh
phân bón và vật tư nông nghiệp tại các thôn cũng thuộc sở hữu của người Kinh,
với nguồn hàng được cung cấp từ các đô thị lớn. Nhìn chung, họ nắm giữ các khâu
thu mua, vận chuyển và phân phối, trong khi các nhóm tộc người khác chủ yếu
tham gia với vai trò cung cấp nông sản hoặc lao động.
Những
thông tin trên cho thấy, người Kinh đóng vai trò quan trọng trong liên kết các
hoạt động, vừa phản ánh sự phân công vai trò kinh tế giữa các nhóm cư dân.
Người Xtiêng chủ yếu duy trì và phát huy các nghề thủ công truyền thống, đồng
thời bước đầu gắn các hoạt động này với phát triển du lịch cộng đồng. Trong khi
đó, người Kinh và có lợi thế hơn trong các hoạt động thương mại nhờ mạng
lưới quan hệ rộng, khả năng tiếp cận vốn và thị trường, từ đó đảm nhận các khâu
trung gian như thu mua, phân phối và cung ứng vật tư nông nghiệp trong hệ thống
kinh tế địa phương.
2.3. Tiếp cận vốn và hỗ trợ sinh kế
Đối
với người Xtiêng, việc tiếp cận nguồn vốn chủ yếu thông qua các kênh vay mượn,
cầm cố trong cộng đồng, điều này thường diễn ra giữa hộ Xtiêng với các hộ người
Kinh kinh doanh tạp hóa và các dịch vụ khác tại địa phương. Hình thức này vay
cầm cố giúp người Xtiêng giải quyết nhanh nhu cầu tài chính và giảm bớt rào cản
thủ tục của các kênh tín dụng chính thức, song tiềm ẩn nhiều rủi ro do lãi suất
cao và thiếu các ràng buộc pháp lý.
Theo
trưởng thôn Bù Rên, tính đến tháng 7/2025, trong thôn có 7 hộ người Kinh kinh
doanh tạp hóa kết hợp cho vay lãi. Tại mỗi thôn thuộc hai xã khảo sát cũng có
khoảng 5 - 7 hộ người Kinh buôn bán tạp hóa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật
hoặc sửa chữa xe máy, đồng thời tham gia cho vay tiền. Trong một số trường hợp,
khi người Xtiêng gặp khó khăn do mất mùa hoặc không có khả năng trả nợ, một số
chủ hộ người Kinh có thể giảm hoặc xóa nợ; tuy nhiên, những trường hợp này
không phổ biến. Trong nhận thức của người Xtiêng, người Kinh thường có nhiều
kinh nghiệm trong buôn bán, biết tính toán và quản lý tài chính nên dễ thành
công khi đến định cư tại địa phương. Phần lớn các hộ người Kinh sau khi ổn định
đời sống tiếp tục tạo điều kiện cho người thân từ quê cũ đến sinh sống và làm
ăn. Ngược lại, nhiều người Kinh cho rằng người Xtiêng ít có kinh nghiệm buôn
bán, ít tiếp xúc với thị trường và vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp
trên nương rẫy. Lãi suất trong các quan hệ vay mượn phi chính thức giữa người
Xtiêng và người Kinh thường dao động khoảng 50 - 60%/năm (ví dụ vay 10 triệu
đồng, sau một năm phải trả khoảng 15 - 17 triệu đồng cả gốc và lãi). Lãi suất
trong các quan hệ vay mượn phi chính thức giữa người Xtiêng và người Kinh
thường dao động khoảng 50 - 60%/năm (ví dụ vay 10 triệu đồng, sau một năm phải
trả khoảng 15 - 17 triệu đồng cả gốc và lãi). Đối với các hộ nghèo vay vốn từ
ngân hàng, nhiều trường hợp chỉ có khả năng trả lãi hằng năm mà chưa thể thanh
toán gốc. Thực tế khảo sát cho thấy, khi phải trả nợ gốc trong thời gian ngắn,
một số hộ buộc phải tìm đến các nguồn tín dụng phi chính thức từ người Kinh với
lãi suất cao để xoay vòng vốn để đáo hạn ngân hàng hoặc dùng chi trả việc chữa
bệnh, điều đó làm gia tăng nguy cơ rơi vào vòng xoáy nợ nần.
3.
Sinh kế xuyên biên giới
Người
Xtiêng và sinh kế xuyên biên giới: đối với người Xtiêng, các
hoạt động sinh kế xuyên biên giới gắn với lịch sử cư trú lâu đời, quan hệ thân
tộc và không gian sinh thái truyền thống vốn tồn tại trước khi đường biên giới
quốc gia được xác lập. Các hoạt động trao đổi nông sản, lâm sản phụ, khai thác
tài nguyên theo mùa hoặc lao động thời vụ thường được tổ chức thông qua mạng
lưới họ hàng và cộng đồng tộc người hai bên biên giới. Tại địa bàn nghiên cứu,
sau mùa thu hoạch điều, một số người Xtiêng di chuyển đến khu vực cửa khẩu
Hoàng Diệu (cách khoảng 25km) để làm các công việc bốc vác, làm cỏ với mức tiền
công khoảng 300.000 -350.000 đồng/người/ngày. Theo người dân, cơ hội việc làm
tại khu vực cửa khẩu dễ tìm hơn và thu nhập cao hơn so với lao động tại địa
phương, song các công việc này đòi hỏi phải có sức khỏe nên chủ yếu do thanh
niên đảm nhận. Tuy nhiên, phần lớn các hoạt động này diễn ra dưới hình thức phi
chính thức và quy mô nhỏ, thu nhập còn hạn chế và dễ bị tác động bởi thay đổi
do chính sách quản lý biên giới hoặc biến động thị trường.
Người
Kinh và vai trò trung gian trong sinh kế xuyên biên giới: trong chuỗi hoạt động thu
mua và xuất khẩu nông sản như điều, hồ tiêu và mủ cao su tại khu vực cửa khẩu,
người Kinh thường giữ vai trò trung gian kết nối thị trường. Các chủ hàng người
Kinh thuê lao động người Xtiêng để vận chuyển và bốc xếp hàng hóa qua biên
giới, với hình thức trả công theo ngày hoặc theo khối lượng công việc. Lao động
thường được tổ chức theo nhóm tại các thôn; khi có nhu cầu, chủ hàng chỉ cần
liên hệ với trưởng nhóm để phân công công việc. Quan hệ liên tộc người trong
hoạt động này vừa mang tính hợp tác, vừa phản ánh sự bất cân xứng về vị thế
kinh tế: người Kinh chủ yếu nắm giữ các khâu thu mua, tổ chức vận chuyển và kết
nối thị trường, trong khi người Xtiêng tham gia chủ yếu với làm thuê cho các
chủ hàng người Kinh với các công việc như bốc vác, vận chuyển hàng vào kho, với
mức lương từ 300.000 - 350.000 đồng/người/ngày. Một số chủ hàng người Kinh thuê
vận chuyển, bốc dỡ hàng trả lương theo tiếng, mức trả phổ biến từ 80.000 -
90.000 đồng/1 giờ. Công việc bốc dỡ, vận chuyển các xe chở điều ở cửa khẩu
Hoàng Diệu thu hút đông lao động người Xtiêng đến làm nhất, vì công việc này
được trả lương cao, đây cũng là thời gian nông nhàn với người địa phương.
Người
Nùng và sinh kế xuyên biên giới: khác với người Kinh,
người Nùng thường chuyển điều, hồ tiêu đến bán trực tiếp cho các chủ thu mua
người Campuchia ở cửa khẩu Hoàng Diệu. Ước tính, năm 2025, ở hai xã có khoảng
12 hộ người Nùng chuyên thu mua điều, hồ tiêu tại địa phương bán sang
Campuchia. Họ bán cho 3 chủ người Campuchia, chuyên nhận hàng tại cửa khẩu
Hoàng Diệu. Ngoài việc bán nông sản cho thương nhân Campuchia, người Nùng còn
nhập phân bón từ Campuchia sản xuất về bán cho các chủ vườn, chủ rẫy tại xã.
Theo lời kể của một thương lái người Nùng, 45 tuổi, xã Đăk Ơ, tháng 2/2026: bán
hàng cho chủ bên Campuchia khá thuận lợi, họ thanh toán tiền ngay, ít khi chịu
lại, giá cả ổn định hơn là bán cho các chủ nhập hàng bán sang Trung Quốc. Tuy
nhiên, lượng hàng bán tại cửa khẩu Hoàng Diệu chỉ bằng một nửa so với số lượng
mà thương lái thu mua để bán sang Trung Quốc. Tổng thể cho thấy, sinh kế xuyên
biên giới tại khu vực nghiên cứu không chỉ được định hình bởi các điều kiện
kinh tế hay vị trí địa lý vùng biên, mà còn chịu ảnh hưởng rõ rệt từ cấu trúc
quan hệ tộc người. Trong đó, các mạng lưới thân tộc và cộng đồng tạo điều kiện
cho cư dân tại chỗ tham gia các hoạt động kinh tế qua biên giới, trong khi các
quan hệ liên tộc người góp phần mở rộng kết nối thị trường và tổ chức hoạt động
thương mại. Tuy nhiên, sự khác biệt về nguồn lực kinh tế, khả năng tiếp cận thị
trường và vị thế xã hội cũng tạo ra những bất cân xứng trong phân chia lợi ích,
khiến các tộc người tại chỗ chủ yếu tham gia với vai trò lao động hoặc cung cấp
nguồn lực, qua đó làm gia tăng mức độ phụ thuộc sinh kế trong cấu trúc kinh tế
vùng biên.
4.
Một số vấn đề đặt ra trong phát triển sinh kế
Thứ
nhất, bất bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực sinh kế giữa các tộc người. Một trong những vấn đề
nổi bật là sự khác biệt trong khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh kế như đất
đai, vốn, thông tin thị trường và cơ hội việc làm giữa người Xtiêng với người
Nùng và người Kinh. Trong khi người Kinh và người Nùng thường có lợi thế về
mạng lưới quan hệ xã hội rộng, trình độ học vấn và khả năng tiếp cận cơ chế thị
trường, thì người Xtiêng vẫn phụ thuộc nhiều vào các quan hệ cộng đồng truyền
thống với phạm vi tương đối hạn chế. Thực trạng này bắt nguồn từ nhiều yếu tố
khác nhau, như việc người Xtiêng vẫn duy trì một số tập quán canh tác truyền
thống, chịu ảnh hưởng của các phong tục trong đời sống xã hội, áp lực từ các
chi phí lớn cho các nghi lễ cưới xin và tang ma. Bên cạnh đó, quá trình thích
ứng với phương thức sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường còn diễn ra chậm,
khiến khả năng tích lũy và mở rộng sinh kế của nhóm tộc người ở đây gặp nhiều
hạn chế. Những yếu tố này góp phần lý giải vì sao người Xtiêng vẫn là nhóm tộc
người có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất tại địa phương.
Thứ
hai, sự bất đối xứng trong quan hệ liên tộc người và nguy cơ lệ thuộc sinh kế. Trong nhiều hoạt động
sinh kế, đặc biệt là sinh kế phi nông nghiệp và sinh kế xuyên biên giới, các
quan hệ liên tộc người thường được thiết lập theo hướng bất đối xứng về lợi
ích. Người Kinh thường giữ vai trò trung gian trong các khâu thu mua nông sản,
môi giới lao động và cung ứng dịch vụ, trong khi các tộc người tại chỗ chủ yếu
tham gia ở các công đoạn có giá trị gia tăng thấp. Cấu trúc quan hệ này tạo ra
sự phụ thuộc nhất định của các hộ dân tộc thiểu số vào các nhóm trung gian
trong quá trình tiếp cận thị trường và cơ hội việc làm. Về lâu dài, điều này có
thể làm hạn chế khả năng tích lũy vốn, giảm mức độ tự chủ sinh kế của một số
tộc người ngày càng rơi vào yếu thế.
Thứ
ba, thách thức trong việc lồng ghép tiếp cận liên tộc người vào chính sách phát
triển sinh kế. Một vấn đề đáng chú ý là các chính sách
phát triển sinh kế hiện nay chưa thực sự được xây dựng trên cơ sở tiếp cận liên
tộc người. Nhiều chương trình vẫn tập trung vào từng nhóm đối tượng riêng lẻ,
đặc biệt là các chính sách hỗ trợ cho người Xtiêng, mà chưa chú trọng đầy đủ
đến các mối quan hệ tương tác, phụ thuộc và bất bình đẳng giữa các tộc người trong
cùng một không gian sinh kế. Việc thiếu góc nhìn liên tộc người có thể dẫn đến
những can thiệp chính sách chưa phù hợp với thực tiễn xã hội địa phương. Thực
tế tại địa bàn nghiên cứu cho thấy một số chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo
người Xtiêng còn bộc lộ những hạn chế, như chưa gắn với điều kiện sinh kế lâu
dài của hộ gia đình. Một số hộ được cấp nhà nhưng không có đất sản xuất hoặc
việc làm ổn định, dẫn đến tình trạng tiếp tục di cư tìm sinh kế và khiến nhiều
căn nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết bị bỏ hoang trong thời gian dài.
Từ
những vấn đề trên có thể thấy, phát triển sinh kế ở vùng biên giới không chỉ là
câu chuyện hỗ trợ kinh tế cho từng nhóm đối tượng riêng lẻ, mà cần được đặt
trong bối cảnh quan hệ tộc người và cấu trúc xã hội đa tộc người tại địa
phương. Việc nhận diện rõ các quan hệ tương tác, hợp tác cũng như bất bình đẳng
trong tiếp cận sinh kế giữa các tộc người sẽ góp phần giúp các chính sách phát
triển sinh kế trở nên phù hợp hơn với thực tiễn, đồng thời, tạo điều kiện thúc
đẩy sự tham gia bình đẳng và phát triển bền vững của các cộng đồng cư dân vùng
biên giới.
KẾT
LUẬN
Phát
triển sinh kế của các cộng đồng cư dân ở vùng biên giới tỉnh Đồng Nai không chỉ
là vấn đề kinh tế - xã hội đơn thuần mà bao gồm cả quá trình xã hội - văn hóa
phức hợp. Trong bối cảnh biên giới với tính chất mở về không gian, linh hoạt
trong giao lưu, tương tác và đa dạng về thành phần dân cư, các hoạt động sinh
kế luôn gắn chặt với mạng lưới quan hệ giữa người Xtiêng, người Kinh và người
Nùng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, người Xtiêng duy trì sinh kế truyền thống,
song gặp không ít hạn chế trong việc mở rộng kinh tế hàng hóa và tiếp cận thị
trường lớn. Người Kinh giữ vai trò trung gian nổi bật trong các hoạt động sinh
kế xuyên biên giới và phi nông nghiệp, nắm giữ lợi thế về vốn, thông tin và
mạng lưới quan hệ hành chính - kinh tế. Trong khi đó, người Nùng thể hiện tính
linh hoạt cao trong thích ứng sinh kế và năng động trong việc tham gia vào hoạt
động sinh kế ở vùng biên giới.
Thực
tế, sinh kế xuyên biên giới không chỉ là không gian trao đổi hàng hóa và lao
động, mà còn là không gian tái cấu trúc quan hệ tộc người. Sự đan xen giữa hợp
tác và cạnh tranh, giữa hỗ trợ phi chính thức và kiểm soát hành chính đã làm
nảy sinh những hình thức liên kết mới, đồng thời đặt ra nhiều vấn đề xã hội như
bất bình đẳng sinh kế, rủi ro pháp lý. Vì thế, các chính sách phát triển sinh
kế và quản lý biên giới không nên chỉ dựa trên tiêu chí kinh tế - hành chính,
mà cần tính đến sự đa dạng tộc người, sự khác biệt về vị thế xã hội và khả năng
tiếp cận nguồn lực giữa các nhóm cư dân. Chỉ khi gắn kết hài hòa giữa phát
triển sinh kế, củng cố quan hệ tộc người và đảm bảo công bằng xã hội, vùng biên
giới tỉnh Đồng Nai mới có thể đạt được mục tiêu phát triển bền vững và ổn định
lâu dài./.
Tài liệu tham khảo
1. Mạc Đường. (Chủ
biên, 1985). Vấn đề dân tộc ở Sông Bé. Nxb. Tổng hợp Sông Bé.
2.
Uỷ ban nhân dân xã Bù Gia Mập. (2025). Báo cáo kết quả thực hiện các chương
trình, chính sách dân tộc năm 2020-2025.
3.
Ủy ban nhân dân xã Đăk Ơ. (2025). Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh 9 tháng đầu năm và
phương hướng, nhiệm vụ 3 tháng cuối năm 2025 (Báo cáo số 191/BC-UBND
ngày 7/10/2025).
4. Ủy ban Thường vụ
Quốc hội. (2025). Nghị quyết về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp
xã của tỉnh Đồng Nai năm 2025 (Số 1662/NQ-UBTVQH15).