Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng về phát huy vai trò người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay
Phát huy vai trò người cao tuổi là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước nhằm khẳng định và phát huy nguồn lực kinh nghiệm, tri thức và uy tín xã hội của người cao tuổi trong quá trình phát triển đất nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh già hóa dân số và chuyển đổi số đã xuất hiện một số quan điểm phiến diện, sai lệch, thậm chí xuyên tạc về vai trò của người cao tuổi như coi người cao tuổi là gánh nặng xã hội, tạo sự đối lập giữa người cao tuổi với thế hệ trẻ, phủ nhận khả năng thích ứng công nghệ và đóng góp của người cao tuổi trong thời đại số. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận và quan điểm của Đảng về phát huy vai trò người cao tuổi, bài viết nhận diện một số quan điểm sai trái, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm đấu tranh phản bác các quan điểm này, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng về phát huy vai trò người cao tuổi trong giai đoạn hiện nay.
1. Cơ sở lý luận và quan điểm của Đảng
về phát huy vai trò người cao tuổi
1.1. Cơ sở lý luận
Truyền thống tôn trọng
và đề cao vai trò của người cao tuổi (NCT) đã được hình thành từ rất sớm trong
lịch sử dân tộc Việt Nam. Tiêu biểu là việc Thượng hoàng Trần Thánh
Tông triệu tập các phụ lão trong cả nước tham dự Hội nghị Diên Hồng
năm 1284 để bàn kế sách chống quân Nguyên xâm lược (Ngô Sĩ Liên, 1993,
tr. 189). Sự kiện này cho thấy sự coi trọng của triều đình và xã hội đối với
kinh nghiệm, uy tín cũng như vai trò của NCT trong các công việc hệ trọng của
đất nước. Truyền thống đó tiếp tục được kế thừa và phát huy qua các giai đoạn
lịch sử, trở thành một trong những cơ sở quan trọng cho việc xây
dựng và hoàn thiện các chính sách chăm sóc và phát huy vai trò NCT ở Việt Nam
hiện nay.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người vừa
là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử - xã hội, vừa là chủ thể có khả năng nhận
thức, cải tạo và phát triển xã hội. Quan điểm này cho thấy, giá trị và vai trò
của con người không chỉ được đánh giá thông qua khả năng lao động vật chất trực
tiếp, mà còn thể hiện ở tri thức, kinh nghiệm, bản lĩnh và những đóng góp đối
với cộng đồng. Dưới góc độ đó, mặc dù tuổi tác có thể làm suy giảm một số khả
năng lao động, NCT vẫn là lực lượng xã hội quan trọng với vốn sống phong phú,
kinh nghiệm tích lũy và ảnh hưởng tích cực đối với đời sống cộng đồng.
Kế thừa truyền thống
dân tộc và vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng hệ thống quan điểm nhất quán về vị trí, vai trò
của NCT trong sự nghiệp cách mạng. Người luôn đánh giá cao những đóng góp của
NCT, coi NCT là “cây cao bóng cả”, “tuổi cao chí càng cao”, là lực lượng có thể
tiếp tục cống hiến trí tuệ, kinh nghiệm và tinh thần trách nhiệm cho đất nước.
Bác Hồ gặp gỡ, thăm hỏi người cao tuổi (Nguồn: https://hcmussh.edu.vn/news/item/16268)
Trong Thư gửi
các phụ lão toàn quốc năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định: “Đất nước hưng thịnh do phụ lão gây dựng. Đất nước tồn tại do phụ
lão góp sức. Nước bị mất, phụ lão cứu. Nước suy sụp, phụ lão phù trì. Nước nhà
hưng, suy tồn, phụ lão đều gánh trách nhiệm hết sức nặng nề… Nước nhà lo, các
cụ cùng phải lo. Những hành động, nghĩa cử cứu nước từ trước đến nay đều do các
vị phụ lão đương thời gây dựng nên, vun đắp nên, nhuần tưới lên…” (Hồ
Chí Minh, 2011a, tr. 232). Quan điểm này khẳng định vai trò quan trọng của NCT
trong lịch sử dân tộc và trong sự nghiệp cách mạng. Đồng thời, Người cũng phê
phán những quan niệm cho rằng “Lão lai tài tận, lão giả an chi” (tuổi
già thì tài hết, người già nên ở yên) (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 23) và
khẳng định NCT vẫn có thể tiếp tục đóng góp cho xã hội phù hợp với điều kiện
sức khỏe và hoàn cảnh cụ thể. Trong Thư gửi các vị phụ lão năm 1945, Người chỉ
rõ: “Đối với NCT, tuy sức khỏe không bằng lúc còn trẻ nhưng có những mặt
mạnh cơ bản, đó là: có lòng yêu nước nồng nàn, sâu sắc; tuổi càng cao chí càng
cao; tích lũy được vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng phong phú; có sự tín
nhiệm cao” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 24); “Chúng ta già cả, không
làm được công việc
nặng nề thì khua gậy đi trước, để khuyến khích bọn thanh niên và san sẻ những
kinh nghiệm của chúng ta cho họ.” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 24).
Những quan điểm này của Bác đặt nền tảng cho cách tiếp
cận tích cực, coi NCT không chỉ là đối tượng cần được chăm sóc mà còn là nguồn
lực xã hội có giá trị đối với sự phát triển đất nước.
1.2. Quan điểm của Đảng về phát huy vai trò người cao tuổi
Kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta xác định NCT vừa được nhìn nhận như đối tượng thụ
hưởng chính sách, vừa là một nguồn lực xã hội cần được phát huy. Tại Hội nghị
Trung ương 06 khóa XII ngày 25.10.2017, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành
Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới, trong đó nêu rõ
nhiệm vụ: “Bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò NCT; khuyến khích NCT tham gia
các hoạt động kinh tế - xã hội...” (Ban Chấp hành Trung ương, 2017). Đặc
biệt, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng năm 2021 đã khẳng định tầm quan trọng
của việc "phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, học tập của NCT
trong xã hội, cộng đồng và gia đình. Tiếp tục xây dựng gia đình kiểu mẫu ông
bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr. 170).
Quan điểm này của Đảng còn được cụ thể hóa trong các chủ
trương về tổ chức và thực thi chính sách. Kết luận số 58-KL/TW ngày 23/06/2023
của Ban Bí thư nhấn mạnh yêu cầu “tiếp tục thực hiện tốt công tác bảo vệ,
chăm sóc, phát huy vai trò NCT”; “quan tâm chỉ đạo xây dựng, quản lý quỹ chăm sóc và phát huy
vai trò người cao tuổi các cấp hoạt động có hiệu quả, đúng pháp luật”; “động
viên người
cao tuổi phát huy trí
tuệ, kinh nghiệm góp phần phát triển địa phương, đất nước…” (Ban Chấp hành Trung ương, 2023). Đây là cơ
sở quan trọng để chuyển hóa các quan điểm thành hành động thực tiễn.
Trong bối cảnh già hóa dân số và chuyển dịch cơ cấu lao
động, các nghị quyết gần đây như Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 và
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/04/2025 đã mở rộng cách tiếp cận về việc làm và
sử dụng nguồn nhân lực, tạo điều kiện để người trong và sau độ tuổi lao động
tiếp tục tham gia đóng góp, đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi tri thức, kinh
nghiệm và chuyên môn sâu. Điều này cho thấy sự linh hoạt trong tư duy chính
sách, phù hợp với xu hướng kéo dài tuổi thọ và yêu cầu phát triển bền vững.
Tiếp nối định hướng đó, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XIV (tháng 01/2026) tiếp tục khẳng định quan điểm phát triển con
người toàn diện, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân và bảo đảm tiến bộ, công
bằng xã hội. Trong tổng thể chiến lược phát triển, NCT được đặt trong mối quan
hệ với yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực. Qua đó tiếp tục
phát huy tri thức, kinh nghiệm và uy tín xã hội trong các lĩnh vực phù hợp.
Đặc biệt, Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/04/2026 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã xác định những nhiệm vụ trọng tâm năm
2026 để thực hiện mục tiêu tăng trưởng “02 con số”, trong đó có nhiệm vụ “xây
dựng Đề án phát triển nền kinh tế bạc; chính sách lao động, việc làm để thích
ứng với vấn đề già hóa dân số nhanh” (Ban Chấp hành Trung ương, 2026). Quan
điểm này cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt trong tư duy chính sách, từ cách tiếp
cận coi NCT chủ yếu là đối tượng thụ hưởng sang nhìn nhận họ như một nguồn lực
phát triển. Trong bối cảnh chuyển đổi số và sự phát triển của nền kinh tế tri
thức, yêu cầu phát huy vai trò NCT càng được đặt ra theo hướng tạo điều kiện để
lực lượng này tiếp tục tham gia, đóng góp phù hợp vào đời sống kinh tế - xã hội.
Như vậy, quan điểm của Đảng về phát huy vai trò NCT thể
hiện sự nhất quán trong tư duy phát triển con người toàn diện, đồng thời có sự
vận dụng linh hoạt trước những biến đổi của bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay.
2. Nhận diện và đấu tranh phản bác các
quan điểm sai trái, xuyên tạc về phát huy vai trò người cao tuổi
2.1. Nhận diện một số quan điểm sai
trái
Thứ nhất, phủ nhận vai trò và
đóng góp của NCT, coi NCT chủ yếu là gánh nặng xã hội.
Đây là quan điểm nhìn
NCT chủ yếu từ góc độ tài chính, nhấn mạnh gánh nặng chi phí y tế, trợ cấp xã
hội hoặc áp lực chăm sóc đối với gia đình. Ở Việt Nam, diễn ngôn coi NCT là
gánh nặng ít khi xuất hiện công khai dưới dạng công kích trực tiếp, nhưng
thường biểu hiện gián tiếp qua các lo ngại về phụ thuộc kinh tế, chi phí chăm
sóc, chi phí y tế hoặc áp lực đặt lên con cháu trong gia đình. Trên không gian
mạng, đôi khi xuất hiện những ý kiến phiến diện chỉ nhìn NCT ở khía cạnh bệnh
tật, chi phí điều trị hay nhu cầu trợ cấp, từ đó coi nhẹ vai trò và đưa NCT vào
thế phụ thuộc.
Bên cạnh đó cũng xuất hiện một số quan điểm cho rằng cha
mẹ già không nên trông cậy vào con cháu vì sẽ tạo gánh nặng kinh tế và trách
nhiệm cho thế hệ trẻ. Dù được trình bày dưới dạng khuyến khích tự chủ tuổi già,
nhiều cách diễn đạt đã vô tình xem NCT như nguồn áp lực đối với gia đình. Nếu
lan rộng, quan điểm này có thể làm suy giảm đạo lý liên thế hệ, gia tăng định
kiến tuổi tác và làm xói mòn trách nhiệm chăm sóc trong gia đình Việt Nam. Xét
về bản chất, quan điểm này không chỉ phủ nhận những đóng góp thực tế của NCT mà
còn đi ngược với chủ trương của Đảng về phát huy vai trò NCT như một nguồn lực
quan trọng trong quá trình phát triển đất nước.
Thứ hai, tạo ra sự đối lập giữa
NCT và lực lượng lao động trẻ, từ đó phủ nhận chủ trương phát huy nguồn lực
NCT.
Một số ý kiến cho rằng việc kéo dài tuổi lao động hoặc
khuyến khích NCT tiếp tục tham gia đời sống kinh tế - xã hội sẽ làm thu hẹp cơ
hội việc làm của thanh niên, đặc biệt trong bối cảnh thị trường lao động cạnh
tranh và chuyển dịch cơ cấu nhanh chóng. Cách nhìn này xuất phát từ giả định
rằng cơ hội việc làm là hữu hạn và sự tham gia của NCT sẽ “lấy đi” cơ hội của
người trẻ.
Quan điểm này thường xuất hiện trong các bình luận cá
nhân trên mạng xã hội như Facebook, TikTok... Một nghiên cứu phân tích 673
video trên TikTok có gắn các hashtag như #Boomer hoặc #OkBoomer (với tổng hơn
5,4 tỷ lượt xem) cho thấy, có tới 49,3% video chứa nội dung định kiến tiêu cực
về NCT. Các nội dung này chủ yếu xoay quanh sự khác biệt về quan điểm, giá trị,
những trải nghiệm tương tác không tích cực, thậm chí khắc họa hình ảnh đối đầu
giữa NCT và giới trẻ (Ng & Indran, 2023).
Mặc dù phần lớn các nội dung này không mang động cơ chính
trị, nhưng nếu lan truyền rộng rãi có thể làm gia tăng định kiến tuổi tác, suy
giảm sự gắn kết giữa các thế hệ và tạo môi trường thuận lợi cho các luận điệu
xuyên tạc về vai trò của NCT. Nếu không được nhận diện đúng, quan điểm này có
thể dẫn tới nhận thức sai lệch rằng việc phát huy vai trò NCT là cản trở sự
phát triển của thế hệ trẻ, từ đó làm suy giảm sự đồng thuận xã hội đối với các
chủ trương, chính sách của Đảng về thích ứng với già hóa dân số.
Thứ ba, phủ nhận khả năng tham
gia chuyển đổi số và đóng góp của NCT trong thời đại số.
Trên không gian mạng
hiện nay, đôi khi xuất hiện những quan điểm cho rằng NCT chậm thích nghi với
công nghệ, khó tiếp cận môi trường số nên không còn khả năng tham gia hiệu quả
vào các hoạt động kinh tế - xã hội trong bối cảnh chuyển đổi số. Từ nhận thức
đó, một số ý kiến đi đến phủ nhận vai trò của NCT trong quá trình đổi mới sáng
tạo, thậm chí cho rằng NCT nên đứng ngoài các hoạt động liên quan đến công nghệ
và chuyển đổi số.
Đây là cách nhìn phiến
diện, đánh đồng tuổi tác với năng lực thích ứng và tuyệt đối hóa ưu thế của
giới trẻ trong tiếp cận công nghệ. Trên thực tế, nhiều nội dung trên mạng xã
hội đã gắn NCT với hình ảnh chậm chạp, lạc hậu, bảo thủ hoặc sử dụng các hình
thức châm biếm, giễu cợt nhằm hạ thấp khả năng tiếp cận công nghệ của nhóm dân
số này. Những biểu hiện đó không chỉ tạo ra định kiến tuổi tác mà còn phủ nhận
khả năng học tập, thích ứng và tiếp tục đóng góp của NCT trong xã hội số. Nếu
để các quan điểm này lan truyền rộng rãi, có thể làm gia tăng khoảng cách số
giữa các thế hệ, hạn chế cơ hội tham gia của NCT vào đời sống kinh tế - xã hội,
đồng thời đi ngược với chủ trương của Đảng về phát huy vai trò NCT trong chuyển
đổi số quốc gia, đồng thời phủ nhận khả năng tiếp tục cống hiến của NCT trong
nền kinh tế số và xã hội số. Vì vậy, cần nhận diện rõ đây là một dạng định kiến
mới trong môi trường số để kịp thời đấu tranh, phản bác.
Thứ tư, lợi dụng những khó
khăn, thách thức của già hóa dân số và công tác NCT để xuyên tạc chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước.
Biểu hiện của quan
điểm này là việc gắn các vấn đề về an sinh xã hội, việc làm và chăm sóc NCT với
những nhận định phiến diện cho rằng các chủ trương, chính sách hiện hành thiếu
tầm nhìn chiến lược, từ đó phủ nhận năng lực lãnh đạo và quản lý của Đảng và
Nhà nước.
Trên không gian mạng,
một số luận điệu đã cố tình phóng đại những khó khăn trong quá trình già hóa
dân số, đồng thời tách rời các vấn đề này khỏi bối cảnh quốc tế và xu thế già
hóa dân số toàn cầu, nhằm tạo dựng nhận thức sai lệch rằng đây là hệ quả của
quản trị yếu kém. Thậm chí, có những cách diễn giải mang tính quy chụp, quy kết
trách nhiệm một chiều, bỏ qua tính chất phức tạp và đa chiều của các vấn đề dân
số trong điều kiện phát triển hiện nay.
Xét về bản chất, đây
là cách nhìn nhận mang tính phiến diện và quy kết một chiều, khi tách rời các
vấn đề già hóa dân số khỏi bối cảnh chung của xu hướng già hóa dân số toàn cầu
và quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong nước. Việc cho rằng những thách
thức của già hóa dân số chỉ là hệ quả của “quản trị yếu kém” không chỉ thiếu cơ
sở khoa học mà còn có thể bị lợi dụng để xuyên tạc chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước, làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Do đó, những quan điểm
này cần được nhận diện rõ để kịp thời đấu tranh, phản bác.
2.2. Đấu tranh phản bác các quan điểm
sai trái
Trước hết, cần bác bỏ quan điểm phủ nhận vai trò và đóng
góp của NCT, coi NCT chủ yếu là “gánh nặng xã hội”.
Thực tiễn cho thấy, NCT không chỉ là đối tượng thụ hưởng
chính sách mà còn trực tiếp tham gia vào quá trình phát triển. Theo Cục Thống
kê, năm 2023, cả nước có khoảng 4,74 triệu NCT tham gia các hoạt động kinh
tế, chiếm 29,4% tổng số NCT (Cục Thống kê, 2023, tr. x). Cũng trong năm
2023, cả nước có 455.267 NCT làm kinh tế giỏi, trong đó có 321.718 NCT là chủ
trang trại, chủ doanh nghiệp (Nhật Anh, 2023). Báo cáo của Hội NCT
Việt Nam cũng cho thấy, cả nước có 656.000 NCT tham gia công tác Đảng, chính
quyền, Mặt trận và các đoàn thể; khoảng 300.150 NCT trực tiếp tham gia phòng
chống tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự ở địa phương (Ban Chấp hành Trung ương,
Hội Người cao tuổi Việt Nam, 2021). Những số liệu này cho thấy NCT không phải
là nhóm phụ thuộc, mà là một bộ phận tích cực tạo ra giá trị kinh tế và góp
phần vào ổn định xã hội.
Ở góc độ quốc tế, Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) trong
báo cáo về già hóa dân số tại Việt Nam cũng khẳng định: già hóa không chỉ là
thách thức mà còn là cơ hội nếu quốc gia có chính sách phát huy hiệu quả nguồn
vốn kinh nghiệm của NCT (UNFPA, 2011). Đồng thời, cách tiếp cận
hiện đại về già hóa dân số nhấn mạnh khái niệm “già hóa tích cực”, trong đó NCT
được tạo điều kiện để tiếp tục tham gia đời sống kinh tế, xã hội và duy trì
chất lượng cuộc sống (WHO, 2002). Như vậy, việc đồng nhất NCT với “gánh nặng xã hội” không chỉ
thiếu cơ sở thực tiễn mà còn không phù hợp với cách tiếp cận phát triển con
người hiện đại.
Thứ hai, cần bác bỏ quan điểm
tạo ra sự đối lập giữa người cao tuổi và lực lượng lao động trẻ, từ đó phủ nhận
chủ trương phát huy nguồn lực NCT.
Các nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho
thấy thị trường lao động có tính động, chịu tác động của cơ cấu ngành nghề,
trình độ kỹ năng và chính sách việc làm, do đó, sự tham gia của các nhóm tuổi
khác nhau không nhất thiết tạo ra quan hệ thay thế trực tiếp (ILO, 2019). Trên
thực tế, sự kết hợp giữa kinh nghiệm của NCT và sức sáng tạo của thế hệ trẻ góp
phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường liên kết giữa các thế hệ.
Vì vậy, việc phát huy vai trò NCT không làm thu hẹp cơ hội việc làm của thanh
niên, mà trái lại còn góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực con người
trong toàn xã hội.
Thứ ba, cần phản bác quan điểm
phủ nhận khả năng tham gia chuyển đổi số và đóng góp của NCT trong thời đại số.
Hiện nay, ngày càng nhiều NCT sử dụng điện thoại thông
minh, mạng xã hội, thanh toán số, dịch vụ công trực tuyến và các ứng dụng chăm
sóc sức khỏe. Thực tiễn cho thấy định kiến cho rằng NCT “không thể thích ứng
công nghệ” là thiếu căn cứ. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông,
tính đến tháng 06/2023, nhóm từ 55 tuổi trở lên chiếm gần 20% số người dùng
Internet tại Việt Nam (Minh Anh, 2024). Bên cạnh
đó, nhiều mô hình xã hội và cộng đồng đã tổ chức hướng dẫn NCT sử dụng điện
thoại thông minh, tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số và kỹ năng an
toàn mạng. Điều đó cho thấy vấn đề không phải NCT “không thể dùng công nghệ”,
mà là cần xây dựng môi trường số bao trùm, giao diện thân thiện và cơ chế hỗ
trợ phù hợp với mọi lứa tuổi.
Thứ tư, cần kiên quyết bác bỏ
những luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.
Thực tế cho thấy, Đảng ta đã sớm nhận diện già hóa dân số
là một xu thế tất yếu và ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết mang tính chiến
lược như Nghị quyết số 21-NQ/TW, Nghị quyết số 42-NQ/TW, Kết luận số
58-KL/TW... Trên cơ sở đó, Nhà nước từng bước thể chế hóa và triển khai bằng
nhiều chính sách, chương trình về bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội, chăm sóc sức
khỏe và phát huy vai trò NCT. Bên cạnh Luật NCT năm 2009 và các văn bản hướng
dẫn thi hành, nhiều chương trình, đề án và hoạt động đã được triển khai nhằm
tạo điều kiện để NCT tiếp tục tham gia đời sống kinh tế - xã hội, như Tháng
hành động vì NCT Việt
Nam, Chương trình
hành động quốc gia về NCT, Chiến lược quốc gia về NCT, Đề án NCT tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển
đổi xanh, khởi nghiệp và tạo việc làm... Những chính sách và chương trình này cho thấy các chủ trương
của Đảng không chỉ dừng lại ở định hướng chính trị mà đã được cụ thể hóa thành
các cơ chế, chính sách và hoạt động thực tiễn, góp phần bảo đảm an sinh xã hội
và phát huy vai trò NCT trong quá trình phát triển đất nước.
Việc quy kết các vấn
đề của già hóa dân số thành hệ quả của “quản trị yếu kém” là cách tiếp cận
thiếu cơ sở khoa học, khi tách rời vấn đề này khỏi bối cảnh già hóa dân số toàn
cầu và điều kiện phát triển cụ thể của Việt Nam. Thực tiễn hoàn thiện thể chế,
mở rộng chính sách an sinh và phát huy nguồn lực NCT đã khẳng định năng lực
định hướng và vai trò lãnh đạo của Đảng trong xử lý các vấn đề xã hội. Do đó,
các luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng không chỉ thiếu căn cứ mà còn
mang tính xuyên tạc, cần được nhận diện và bác bỏ một cách kiên quyết.
3. Một số giải pháp nhằm phát huy vai
trò người cao tuổi và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trong giai đoạn
hiện nay
Một là, cần tuyên truyền nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của NCT.
Đây là giải pháp có ý nghĩa nền tảng, nhằm khắc phục những định kiến còn tồn
tại, đặc biệt là quan niệm coi NCT là “gánh nặng xã hội”. Công tác tuyên truyền
cần tập trung lan tỏa hình ảnh NCT như một nguồn lực xã hội quan trọng, có đóng
góp tích cực trong phát triển kinh tế, gìn giữ văn hóa và củng cố khối đại đoàn
kết toàn dân tộc. Đồng thời, cần tăng cường cung cấp thông tin chính thống, kịp
thời định hướng dư luận, góp phần nâng cao khả năng nhận diện và phản bác các
thông tin sai lệch.
Hai là, tiếp tục hoàn thiện chính sách và thể chế nhằm tạo điều kiện
để NCT phát huy vai trò. Các chủ trương của Đảng cần được cụ thể hóa đồng bộ
trong hệ thống pháp luật, nhất là trong lĩnh vực việc làm và an sinh xã hội.
Cần có cơ chế khuyến khích NCT, đặc biệt là những người có chuyên môn và kinh
nghiệm, tiếp tục tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội phù hợp, qua đó tận
dụng tốt hơn nguồn lực này trong bối cảnh già hóa dân số.
Ba là, tạo điều kiện để NCT tham gia vào môi trường số một cách phù
hợp và hiệu quả. Việc phát triển kỹ năng số cần được triển khai theo hướng đơn
giản, dễ tiếp cận, gắn với đặc điểm của NCT, đồng thời huy động vai trò hỗ trợ
của gia đình và cộng đồng. Khi được trang bị điều kiện cần thiết, NCT không chỉ
tiếp cận thông tin mà còn có thể tham gia lan tỏa các giá trị tích cực và góp
phần định hướng dư luận xã hội.
Bốn là, phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng và các tổ chức xã hội
trong hỗ trợ NCT. Gia đình và cộng đồng tiếp tục là nền tảng quan trọng giúp
NCT duy trì sự gắn kết và phát huy vai trò xã hội. Các tổ chức như Hội NCT cần
được củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động, thực sự trở thành cầu nối giữa NCT
với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời phát huy vai trò
của lực lượng này trong tham gia xây dựng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Năm là, tăng cường đấu tranh
trên không gian mạng đối với các thông tin sai lệch, xuyên tạc về NCT. Cần chủ
động phát hiện, nhận diện và xử lý các thông tin sai lệch, định kiến tuổi tác
hoặc các luận điệu xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối
với NCT. Đồng thời, phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông, tổ
chức Hội và đội ngũ cán bộ làm công tác NCT trong việc lan tỏa thông tin chính
thống, xây dựng hình ảnh tích cực về NCT và định hướng dư luận xã hội trên môi
trường số.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Anh Minh. (2024). Người cao tuổi và nỗi lo “công nghệ số”. Báo Đại Đoàn Kết. https://daidoanket.vn/nguoi-cao-tuoi-va-noi-lo-cong-nghe-so-10277023.html
2. Ban Chấp hành Trung ương.
(2017). Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017, Hội nghị lần thứ Sáu
Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới. Cổng
thông tin Văn kiện Đảng. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/hoi-nghi-bch-trung-uong/khoa-xii/nghi-quyet-so-21-nqtw-ngay-25102017-hoi-nghi-lan-thu-sau-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-ve-cong-tac-dan-so-trong-571
3. Ban Chấp hành Trung ương. (2023). Kết
luận số 58-KL/TW ngày 23/06/2023 của Ban Bí thư về tổ chức và hoạt động của Hội
Người cao tuổi Việt Nam. Cổng thông tin Văn kiện Đảng. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/ket-luan-so-58-kltw-ngay-2362023-cua-ban-bi-thu-ve-to-chuc-va-hoat-dong-cua-hoi-nguoi-cao-tuoi-viet-nam-9596
4. Ban Chấp hành Trung ương.
(2026). Kết luận Hội nghị lần thứ Hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay,
trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu
phấn đấu tăng trưởng “2 con số”. Cổng thông tin văn kiện Đảng. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/ket-luan-so-18-kl-tw-ngay-02-4-2026-hoi-nghi-lan-thu-hai-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv-ve-ke-hoach-phat-trien-k.html
5. Ban Chấp hành Trung ương, Hội
Người cao tuổi Việt Nam. (2021). Báo cáo Đại hội VI kết quả hoạt động
nhiệm kỳ 2016 - 2021 và phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2021 –
2026.
6. Cục Thống kê.
(2023). Tổng quan về lao động có việc làm phi chính thức ở Việt Nam.
Nxb Thanh niên.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam.
(2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập
1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
8. Hồ Chí Minh. (2011a). Hồ
Chí Minh toàn tập: Tập 3. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
9. Hồ Chí Minh. (2011b). Hồ
Chí Minh toàn tập: Tập 4. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
10. ILO. (2019). Báo cáo
quốc gia: Việc làm thỏa đáng và các mục tiêu phát triển bền vững tại Việt Nam. International Labour Organization.
https://www.ilo.org/sites/default/files/wcmsp5/groups/public/@asia/@ro-bangkok/@ilo-hanoi/documents/publication/wcms_737432.pdf
11. Ngô Sĩ Liên. (1993). Đại Việt Sử
ký toàn thư (Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch). Nxb Khoa học xã hội.
12. Nhật Anh. (2023, ngày 16 tháng 11). Hội nghị
biểu dương người cao tuổi tiêu biểu làm kinh tế giỏi lần thứ IV. Báo Nhân
Dân. https://nhandan.vn/hoi-nghi-bieu-duong-nguoi-cao-tuoi-tieu-bieu-lam-kinh-te-gioi-lan-thu-iv-post782842.html
13. Ng, R., & Indran, N. (2023). Videos about older adults
on TikTok. PLoS One, 18(8). https://doi.org/10.1371/journal.pone.0285987
14. UNFPA. (2011). Già hóa dân số và
người cao tuổi ở Việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách.
Liên Hợp Quốc. https://vietnam.unfpa.org/vi/topics/gi%C3%A0-h%C3%B3a-d%C3%A2n-s%E1%BB%91
15. WHO. (2002). Active ageing: a policy
framework. World
Health Organization. https://iris.who.int/items/46476232-b305-47b4-ab28-e3931607c70c