Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2026 - 2030 và định hướng đến năm 2035
Mua bán người là một trong những loại tội phạm nghiêm trọng, có tính chất xuyên quốc gia, diễn biến ngày càng phức tạp, tinh vi, gắn với các hình thức di cư lao động, hôn nhân có yếu tố nước ngoài và đặc biệt là lợi dụng không gian mạng, công nghệ số để môi giới, lừa đảo, bóc lột. Thực tiễn cho thấy, nạn nhân của mua bán người ngày càng đa dạng về độ tuổi, giới tính, trình độ, trong đó phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, người nghèo và người di cư vẫn là những nhóm dễ bị tổn thương nhất. Trước tình hình đó, ngày 07/01/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 33/QĐ-TTg ban hành Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2026 - 2030 và định hướng đến năm 2035 (sau đây gọi tắt là Chương trình). Đây là chương trình có ý nghĩa quan trọng, thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Nhà nước Việt Nam trong phòng ngừa, đấu tranh, xử lý tội phạm mua bán người, đồng thời bảo vệ quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số sâu rộng hiện nay.    

Anh-tin-bai

Ảnh: Báo Chính phủ

Đảng, Nhà nước về công tác phòng, chống mua bán người; tập trung thực hiện có hiệu quả quy định của Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, nâng cao trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và của toàn xã hội trong công tác phòng, chống mua bán người. Chủ động ngăn ngừa, quyết tâm ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm tội phạm mua bán người và các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người, góp phần thúc đẩy bảo vệ quyền con người, củng cố xã hội trật tự, kỷ cương, giữ gìn cuộc sống bình yên, an toàn, hạnh phúc của Nhân dân.

Điểm nổi bật của Chương trình là cách tiếp cận toàn diện, liên ngành và lấy con người làm trung tâm, với quan điểm phòng ngừa được coi là giải pháp căn cơ, lâu dài; công tác đấu tranh, xử lý tội phạm phải được thực hiện quyết liệt, đồng bộ; hoạt động hỗ trợ nạn nhân cũng cần được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với chính sách an sinh xã hội, bình đẳng giới, giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội.

Chương trình đặt ra một số nhiệm vụ, giải pháp và phân công trách nhiệm như sau:

Thứ nhất, về công tác lãnh đạo, chỉ đạo: Chương trình xác định tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước là nhiệm vụ xuyên suốt trong công tác phòng, chống mua bán người. Các cấp ủy, chính quyền, bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Phòng, chống mua bán người năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các văn bản hướng dẫn thi hành. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo được yêu cầu gắn với trách nhiệm của người đứng đầu; bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn. Việc chỉ đạo triển khai Chương trình cần gắn với mục tiêu bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội và phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

Thứ hai, về công tác phòng ngừa xã hội: Phòng ngừa xã hội được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa quyết định trong việc giảm thiểu nguy cơ mua bán người. Chương trình tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống mua bán người với nội dung, hình thức phù hợp từng nhóm đối tượng, địa bàn; chú trọng các khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các nhóm có nguy cơ cao. Bên cạnh đó, Chương trình nhấn mạnh việc gắn phòng, chống mua bán người với các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, giảm nghèo, tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội, bình đẳng giới và bảo vệ trẻ em. Các hoạt động phòng ngừa được triển khai từ gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư, cơ sở giáo dục, cơ sở kinh doanh dịch vụ và các thiết chế xã hội khác.

Thứ ba, về công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát phòng, chống tội phạm mua bán người: Chương trình yêu cầu tăng cường công tác quản lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với các lĩnh vực, địa bàn dễ phát sinh mua bán người, nhất là hoạt động xuất nhập cảnh, di cư, lao động, hôn nhân có yếu tố nước ngoài và các hoạt động trên không gian mạng. Các cơ quan chức năng có trách nhiệm chủ động phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm; nâng cao hiệu quả quản lý thông tin, dữ liệu liên quan; tăng cường ứng dụng khoa học – công nghệ, chuyển đổi số trong công tác quản lý và giám sát, góp phần phòng ngừa tội phạm mua bán người từ sớm, từ xa.

Thứ tư, về đấu tranh phòng, chống mua bán người: Đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và các lực lượng chức năng. Chương trình yêu cầu chủ động nắm tình hình, kịp thời phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm các hành vi mua bán người theo đúng quy định pháp luật. Đặc biệt, Chương trình chú trọng đấu tranh với các hành vi lợi dụng công nghệ cao, không gian mạng để tổ chức, môi giới, lừa đảo mua bán người; tăng cường hợp tác quốc tế trong điều tra, truy bắt tội phạm, nhất là các đường dây, tổ chức mua bán người xuyên quốc gia.

Thứ năm, về công tác phát hiện, xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người: Chương trình đề cao vai trò của việc phát hiện sớm và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người. Các cơ quan có thẩm quyền thực hiện đầy đủ chức năng thanh tra, kiểm tra, xử phạt vi phạm hành chính; đồng thời xử lý hình sự các hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Việc xử lý vi phạm được yêu cầu thực hiện công khai, minh bạch, đúng pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả răn đe, phòng ngừa chung, bảo đảm kỷ cương pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống mua bán người.

Thứ sáu, về công tác giải cứu, tiếp nhận, xác minh, xác định nạn nhân; bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân: Chương trình chú trọng công tác giải cứu, tiếp nhận, xác minh, xác định nạn nhân và bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân mua bán người,. Các nhiệm vụ, giải pháp tập trung vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả xác định nạn nhân; bảo đảm nạn nhân và người đang trong quá trình xác định là nạn nhân được bảo vệ an toàn và tiếp cận kịp thời các dịch vụ hỗ trợ cần thiết. Việc hỗ trợ nạn nhân được thực hiện theo hướng tiếp cận dựa trên quyền con người, bảo đảm lợi ích tốt nhất của nạn nhân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, tạo điều kiện thuận lợi cho nạn nhân tái hòa nhập cộng đồng bền vững.

Thứ bảy, về công tác hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến phòng, chống mua bán người: Chương trình nhấn mạnh nhiệm vụ rà soát, nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến phòng, chống mua bán người nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Hoạt động xây dựng, hoàn thiện pháp luật gắn với tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và hiệu quả trong tổ chức thực hiện.

Thứ tám, về công tác hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người: Chương trình xác định hợp tác quốc tế là một bộ phận quan trọng của công tác phòng, chống mua bán người. Các nhiệm vụ, giải pháp tập trung vào tăng cường hợp tác song phương, đa phương trong trao đổi thông tin, phối hợp điều tra, giải cứu, hồi hương và hỗ trợ nạn nhân; thực hiện hiệu quả các điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc tế có liên quan.

Việc ban hành Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2026 - 2030 và định hướng đến năm 2035 không chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý và quản lý nhà nước, mà còn thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với bảo vệ quyền con người, thúc đẩy công bằng xã hội và phát triển bền vững. Đối với đội ngũ cán bộ nghiên cứu và cán bộ quản lý, Chương trình là cơ sở quan trọng để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, góp phần xây dựng một xã hội an toàn, nhân văn và không để ai bị bỏ lại phía sau.

Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Con người, Gia đình và Giới
Vũ Thị Thanh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1