Bước ngoặt trong chính sách tự chủ công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản: Liên hệ với tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền quốc phòng Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Mở đầu
Trong bối cảnh môi trường an ninh quốc tế ngày càng bất ổn với các diễn biến như gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, xung đột quân sự kéo dài tại Ukraine và căng thẳng leo thang tại Trung Đông, Nhật Bản đã có những điều chỉnh quan trọng trong chính sách an ninh nói chung và chính sách tự chủ công nghiệp quốc phòng nói riêng. Nếu như bộ ba văn kiện chiến lược năm 2022 bao gồm Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS), Chiến lược Quốc phòng (NDS) và Chương trình Tăng cường Quốc phòng đã đặt nền móng cho việc nâng cao năng lực quốc phòng, thì các điều chỉnh chính sách trong những tháng đầu năm 2026 đã đánh dấu một bước ngoặt thực chất, đánh dấu sự chuyển đổi từ mô hình công nghiệp quốc phòng hạn chế, hướng nội sang mô hình mở, hướng ngoại và có tính tự chủ cao hơn của Nhật Bản.
1. Chính sách tự chủ công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản
1.1. 1.1. Bước ngoặt chiến lược trong chính sách xuất khẩu quốc phòng
Tháng 4/2026, Nhật Bản đã điều chỉnh các nguyên tắc kiểm soát xuất khẩu vũ khí theo hướng cho phép xuất khẩu nhiều loại trang bị quân sự hơn, bao gồm cả các hệ thống có tính sát thương cao. Sự thay đổi này được xem là bước đi lớn nhất kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, phản ánh sự thay đổi trong tư duy chiến lược của Nhật Bản, khi công nghiệp quốc phòng không còn bị giới hạn như một lĩnh vực nhạy cảm cần kiểm soát, mà trở thành một trụ cột cần được phát triển tích cực nhằm bảo đảm an ninh quốc gia.
Một trong những động lực chính của chính sách này là nhu cầu khắc phục những điểm yếu mang tính cấu trúc của ngành công nghiệp quốc phòng Nhật Bản. Trong nhiều thập kỷ, do quy mô thị trường nội địa hạn chế và các ràng buộc pháp lý đối với xuất khẩu, các doanh nghiệp quốc phòng Nhật Bản phải hoạt động trong điều kiện sản xuất nhỏ lẻ, chi phí cao và lợi nhuận thấp. Hệ quả là xu hướng co hẹp ngày càng rõ nét, khi nhiều doanh nghiệp, nhất là các nhà thầu phụ và doanh nghiệp vừa và nhỏ, rút khỏi lĩnh vực quốc phòng. Việc mở rộng xuất khẩu được kỳ vọng sẽ giải quyết vấn đề này bằng cách tạo ra thị trường mới, tăng quy mô sản xuất và qua đó giảm chi phí đơn vị, đồng thời duy trì năng lực công nghiệp cốt lõi.
Song song với đó, Nhật Bản cũng đẩy mạnh liên kết giữa chính sách công nghiệp quốc phòng và chiến lược đối ngoại. Xuất khẩu quốc phòng ngày càng được coi là một công cụ ngoại giao quan trọng nhằm tăng cường quan hệ với các đối tác chiến lược, đặc biệt là tại khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Các quốc gia như Philippines hay Australia được xem là những đối tác tiềm năng trong việc tiếp nhận trang bị quốc phòng từ Nhật Bản, qua đó góp phần xây dựng một mạng lưới an ninh khu vực dựa trên các giá trị và lợi ích chung. Trong cách tiếp cận này, tự chủ công nghiệp quốc phòng không đồng nghĩa với tự cung tự cấp hoàn toàn, mà là khả năng duy trì năng lực sản xuất và đổi mới trong nước trong khi vẫn tích cực tham gia vào chuỗi cung ứng quốc phòng toàn cầu.
1.2.Điều chỉnh nhận thức chiến lược và vai trò của liên minh
Những điều chỉnh gần đây trong chính sách công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản gắn liền với sự thay đổi trong nhận thức chiến lược, đặc biệt là đối với vai trò của liên minh, tiêu biểu là liên minh Nhật – Mỹ. Mặc dù Nhật Bản tiếp tục coi liên minh này là nền tảng của an ninh quốc gia, song những biến động trong chính sách đối ngoại của Mỹ, cùng với các nghi ngại về mức độ cam kết dài hạn, đã thúc đẩy Nhật Bản chủ động tăng cường năng lực tự chủ. Trong bối cảnh đó, việc phát triển công nghiệp quốc phòng trong nước, kết hợp với mở rộng xuất khẩu và hợp tác quốc tế, được xem là một giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro chiến lược và nâng cao khả năng ứng phó đối với các tình huống khủng hoảng.
1.3. Những giới hạn và thách thức
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này cũng đặt ra nhiều thách thức đáng kể. Trước hết, chi phí sản xuất quốc phòng tại Nhật Bản vẫn ở mức cao so với nhiều quốc gia khác, làm suy giảm tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế. Đồng thời, dù thị trường xuất khẩu đang được mở rộng, Nhật Bản vẫn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các nhà cung cấp quốc phòng truyền thống như Mỹ, các nước châu Âu và Hàn Quốc. Bên cạnh đó, các ràng buộc về chính trị và pháp lý, đặc biệt là yêu cầu kiểm soát chặt chẽ đối với mục đích sử dụng cuối cùng của vũ khí xuất khẩu, có thể hạn chế phạm vi và hiệu quả triển khai chính sách. Ở trong nước, việc nới lỏng quy định xuất khẩu vũ khí tiếp tục là vấn đề gây tranh luận, phản ánh sự giằng co giữa các giá trị hòa bình hậu chiến và yêu cầu thích ứng với môi trường an ninh đang biến đổi.
1.4. Mô hình “tự chủ có chọn lọc” và tác động đối với cấu trúc an ninh khu vực
Tổng thể, các điều chỉnh chính sách gần đây cho thấy Nhật Bản đang theo đuổi mô hình “tự chủ có chọn lọc” trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng. Thay vì hướng tới tự cung tự cấp toàn diện – điều khó khả thi trong bối cảnh toàn cầu hóa và hạn chế về nguồn lực – Nhật Bản lựa chọn tập trung vào các lĩnh vực then chốt, đồng thời tận dụng hợp tác quốc tế và thị trường xuất khẩu để duy trì và phát triển năng lực công nghiệp. Cách tiếp cận này phản ánh sự kết hợp giữa yêu cầu tăng cường tự chủ chiến lược và lợi ích của hội nhập quốc tế.
Ở góc độ rộng hơn, sự chuyển đổi này cũng có những tác động đáng kể đối với cấu trúc an ninh khu vực. Việc Nhật Bản nổi lên như một nhà cung cấp quốc phòng tích cực hơn có thể vừa góp phần nâng cao năng lực của các đối tác, vừa làm gia tăng cạnh tranh chiến lược và nhạy cảm chính trị, đặc biệt trong quan hệ với Trung Quốc. Trong thời gian tới, cách thức Nhật Bản triển khai chính sách xuất khẩu quốc phòng – từ lựa chọn đối tác, chủng loại trang bị đến cơ chế kiểm soát – sẽ là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả và tác động của chiến lược tự chủ công nghiệp quốc phòng của nước này.
2. Liên hệ với tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền quốc phòng Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Những điều chỉnh gần đây trong chính sách công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản gợi ra một số vấn đề đáng chú ý trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền quốc phòng toàn dân vào điều kiện hiện nay ở Việt Nam:
Trước hết, tư tưởng Hồ Chí Minh nhất quán nhấn mạnh yêu cầu tự lực, tự cường trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đây không chỉ là nguyên tắc mang tính chính trị – tư tưởng, mà còn là định hướng thực tiễn trong xây dựng tiềm lực quốc phòng và phát huy sức mạnh dân tộc. Tuy nhiên, tự lực, tự cường theo tư tưởng Hồ Chí Minh không đồng nghĩa với khép kín hay biệt lập, mà luôn gắn với quan điểm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác quốc tế phù hợp với lợi ích dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, khi mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế và chuỗi cung ứng ngày càng gia tăng, yêu cầu tự lực, tự cường cần được vận dụng theo hướng phát huy nội lực là cơ bản, đồng thời chủ động khai thác hiệu quả các nguồn lực bên ngoài. Cách tiếp cận mà Nhật Bản đang theo đuổi – tăng cường năng lực công nghiệp trong nước nhưng vẫn mở rộng hợp tác quốc tế – phần nào cho thấy một kinh nghiệm có thể tham khảo trong quá trình hiện thực hóa yêu cầu này.
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền quốc phòng toàn dân đặt nền tảng trên sự gắn kết giữa quốc phòng và kinh tế. Trong đó, công nghiệp quốc phòng không tồn tại biệt lập, mà cần được phát triển trong mối quan hệ hữu cơ với nền công nghiệp quốc gia. Thực tiễn Nhật Bản cho thấy xu hướng huy động mạnh mẽ khu vực doanh nghiệp, kể cả các tập đoàn lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ, tham gia vào sản xuất quốc phòng, qua đó hình thành một hệ sinh thái công nghiệp có tính liên kết cao. Điều này gợi mở cho Việt Nam trong việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế kết hợp quốc phòng – kinh tế, đặc biệt là phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng lưỡng dụng, tận dụng tốt hơn năng lực của khu vực dân sự.
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền quốc phòng toàn dân luôn gắn chặt với quan điểm kết hợp giữa phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng. Người nhấn mạnh phải huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của các ngành và các lực lượng kinh tế phục vụ sự nghiệp bảo vệ đất nước. Theo đó, quốc phòng không tách rời phát triển kinh tế, mà cần được xây dựng trên nền tảng của một nền kinh tế vững mạnh và có khả năng phục vụ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc khi cần thiết. Thực tiễn Nhật Bản hiện nay cho thấy xu hướng đẩy mạnh sự tham gia của khu vực doanh nghiệp, từ các tập đoàn lớn đến doanh nghiệp vừa và nhỏ, vào lĩnh vực sản xuất quốc phòng, qua đó hình thành mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa khu vực dân sự và quốc phòng. Điều này gợi mở cho Việt Nam trong việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế kết hợp kinh tế với quốc phòng, đồng thời phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng lưỡng dụng, tận dụng hiệu quả hơn tiềm lực của khu vực dân sự phục vụ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Thứ tư, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khoa học và kỹ thuật luôn được coi là động lực quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Người nhiều lần nhấn mạnh vai trò của việc học tập khoa học – kỹ thuật, nâng cao trình độ chuyên môn và phát huy trí tuệ con người nhằm tăng cường tiềm lực quốc gia, trong đó có tiềm lực quốc phòng. Trong bối cảnh hiện nay, khi chiến tranh ngày càng gắn với công nghệ cao, yêu cầu làm chủ khoa học – công nghệ trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Những định hướng mà Nhật Bản đang thúc đẩy, như đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn và nâng cao năng lực nghiên cứu – phát triển, cho thấy vai trò ngày càng lớn của khoa học – công nghệ trong bảo đảm năng lực phòng vệ. Đối với Việt Nam, điều này đặt ra yêu cầu phải có chiến lược dài hạn trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng cường liên kết giữa nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng khoa học – công nghệ trong lĩnh vực quốc phòng.
Bên cạnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại vẫn giữ nguyên giá trị trong bối cảnh hiện nay. Theo đó, việc củng cố tiềm lực quốc phòng cần gắn với chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc. Thực tiễn Nhật Bản cho thấy xu hướng tăng cường năng lực nội tại đồng thời chủ động tham gia các cơ chế và mạng lưới hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng. Điều này có thể đem lại một số gợi mở tham khảo đối với Việt Nam trong quá trình mở rộng hợp tác quốc phòng quốc tế, song việc vận dụng cần được cân nhắc phù hợp với điều kiện thực tiễn, đường lối đối ngoại và định hướng chiến lược của Việt Nam.
Kết luận
Từ những phân tích trên có thể thấy, những điều chỉnh trong chính sách công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản không phải là mô hình có thể áp dụng trực tiếp đối với Việt Nam, nhưng đem lại một số kinh nghiệm và gợi mở có giá trị tham khảo. Trong liên hệ với tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, các quan điểm như tự lực, tự cường; kết hợp kinh tế với quốc phòng; coi trọng vai trò của khoa học – kỹ thuật; và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại vẫn giữ nguyên giá trị định hướng trong bối cảnh hiện nay. Vấn đề quan trọng đặt ra là cần vận dụng linh hoạt những quan điểm đó phù hợp với điều kiện thực tiễn, yêu cầu phát triển và định hướng chiến lược của Việt Nam, qua đó từng bước nâng cao tiềm lực, tính tự chủ và hiệu quả của nền quốc phòng trong tình hình mới.
Tài liệu tham khảo
1. 防衛省・自衛隊. 2026. 「『防衛装備移転三原則』等の一部改正について」.
https://www.mod.go.jp/j/press/news/2026/04/21a.html (Truy cập ngày 25/4/2026).
2. 日本弁護士連合会. 2026. 「防衛装備移転の『5類型』による制限の撤廃等による殺傷兵器の輸出の拡大に反対する会長声明」.
https://www.nichibenren.or.jp/document/statement/year/2026/260318.html (Truy cập ngày 24/4/2026).
3. Japan’s new national-security and defence strategies, https://www.iiss.org/publications/strategic-comments/2023/japans-new-national-security-and-defence-strategies
4. Reuters. 2026. “Rattled by Trump, U.S. Allies Eye Japan’s Biggest Arms Opening since WWII.” April 15, 2026.
https://www.reuters.com/world/asia-pacific/rattled-by-trump-us-allies-eye-japans-biggest-arms-opening-since-ww2-2026-04-15/ (Truy cập ngày 25/4/2026).
5. Reuters. 2026. “Japan’s Decade-long March towards Arms Exports.” April 15, 2026.
https://www.reuters.com/world/asia-pacific/japans-decade-long-march-towards-arms-exports-2026-04-15/ (Truy cập ngày 20/4/2026).
6. The Diplomat. 2026. “Japan’s Strategic Pivot: Arms Exports as a Tool of Diplomacy.” April 2026.
https://thediplomat.com/2026/04/japans-strategic-pivot-arms-exports-as-a-tool-of-diplomacy/ (Truy cập ngày 27/4/2026).
7. ABC News. 2026. “Japan Overhauls Defence Export Rules in Major Policy Shift.” April 22, 2026.
https://www.abc.net.au/news/2026-04-22/japan-overhauls-defence-export-rule/106590578 (Truy cập ngày 29/4/2026).
8. Xinhua. 2026. “Column: Japan Lifting Ban on Lethal Weapons Exports—A Dangerous Step toward Remilitarization.” May 1, 2026.
https://english.news.cn/20260501/d6c4addf337e4b9aa9acff68fc0f4e2b/c.html (Truy cập ngày 27/4/2026).
9. Văn phòng Trung ương Đảng (2023), https://hochiminh.vn/tu-tuong-dao-duc-ho-chi-minh/nghien-cuu-tu-tuong-dao-duc-ho-chi-minh/quan-diem-cua-chu-tich-ho-chi-minh-ve-xay-dung-nen-quoc-phong-toan-dan-bao-ve-to-quoc-10106 (Truy cập ngày 3/5/2026).
10. Trần Việt Khoa. 2021. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền quốc phòng Việt Nam - Giá trị vận dụng vào công cuộc giữ nước từ khi nước chưa nguy, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/824049/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-xay-dung-nen-quoc-phong-viet-nam---gia-tri-van-dung-vao-cong-cuoc-giu-nuoc-tu-khi-nuoc-chua-nguy.aspx (Truy cập ngày 1/5/2026).