Chủ nghĩa quốc gia - dân tộc theo Nho giáo của hoàng đế Minh Mệnh
Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả đã giới thiệu những tư tưởng quốc gia - dân tộc theo Nho giáo của Minh Mệnh, vị hoàng đế có công phát triển Việt Nam thành một quốc gia Nho giáo hùng mạnh nhất trong lịch sử Việt Nam. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra một số điểm hạn chế trong quan điểm quốc gia - dân tộc của Minh Mệnh theo hệ quy chiếu của chính lý luận về chủ nghĩa quốc gia - dân tộc.
Từ khóa: Quốc gia -
dân tộc, chủ nghĩa quốc gia - dân tộc, tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, Minh Mệnh.
Đã có một thời, chủ
nghĩa quốc gia - dân tộc theo Nho giáo bị phê phán nặng nề trong nghiên cứu lý
luận hiện đại của Việt Nam. Theo đó, những vấn đề liên quan tới chủ nghĩa quốc
gia - dân tộc theo Nho giáo của Minh Mệnh cũng không mấy được chú ý nghiên cứu
và đánh giá đúng với giá trị và ý nghĩa của nó đối với sự vận động của quốc gia
Đại Nam trong nửa đầu thế kỷ XIX. Trên thực tế, chủ nghĩa quốc gia - dân tộc
Nho giáo của Minh Mệnh có tác động to lớn đến sự vận động của quốc gia Đại Nam
trong nửa đầu thế kỷ XIX và những tư tưởng dân tộc chủ nghĩa theo Nho giáo này
đã góp phần phát triển Việt Nam thành một quốc gia Nho giáo hùng mạnh nhất
trong lịch sử Việt Nam. Có thể nói, cùng với rất nhiều loại hình của chủ nghĩa
dân tộc hiện đại đang nổi lên hiện nay, việc nghiên cứu lý luận dân tộc chủ
nghĩa của Việt Nam nói chung, chủ nghĩa quốc gia - dân tộc theo Nho giáo của
Minh Mệnh nói riêng là cần thiết và có ý nghĩa học thuật.
Tư tưởng quốc gia -
dân tộc đã hình thành từ rất sớm trong tiến trình lịch sử Việt Nam, bởi quốc
gia do người Việt làm chủ đã được hình thành từ rất sớm trong thực tiễn đoàn
kết nhân dân liên tục đấu tranh chống ngoại xâm và khắc phục thiên tai để tồn
tại. Khi Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam, nó đã cấp thêm những nền tảng lý
luận để tư tưởng quốc gia dân tộc của Việt Nam được củng cố và phát triển lên
một trình độ nhận thức cao hơn. Tư tưởng quốc gia - dân tộc hàm chứa nhiều khái
niệm, như ý thức về nguồn gốc dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc, quyền lợi
chung, chủ quyền lãnh thổ, dân tộc độc lập tự chủ, sự trung thành và bảo vệ
quốc gia... Nhưng về cơ bản, chủ nghĩa quốc gia - dân tộc Việt Nam nhấn mạnh,
đề cao việc nhận thức và chia sẻ vận mệnh quốc gia trong việc thực hiện quyền
lợi và nghĩa vụ chung của tất cả các tộc người sống trên lãnh thổ Việt Nam,
trên hết là chủ quyền lãnh thổ, quyền độc lập tự chủ trong mối quan hệ với các
quốc gia khác. Trong sự vận động lịch sử, tư tưởng quốc gia - dân tộc thường
được sử dụng để đoàn kết nhân dân, huy động các nguồn lực của quốc gia phục vụ
cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, tư tưởng dân
tộc chủ nghĩa cũng được sử dụng để xây dựng, củng cố sự thống nhất quốc gia
trên các phương diện chính trị, văn hóa, xã hội; trong đó, quan trọng nhất là
tư tưởng bảo vệ tính chính danh, chính thống về quyền lực chính trị trong cuộc
đấu tranh giành quyền kiểm soát chính trị, từ đó kiểm soát mọi nguồn lực ở Việt
Nam[1]. Tư tưởng dân tộc chủ nghĩa của Minh Mệnh
chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, bao hàm tất cả các nội dung trên và là
đỉnh cao của chủ nghĩa quốc gia - dân tộc Việt Nam thời phong kiến.
1. Tư tưởng chính
danh vương quyền họ Nguyễn thống trị quốc gia
Độc lập dân tộc và
toàn vẹn lãnh thổ là tiêu chí xuyên suốt và tối cao của chủ nghĩa quốc gia -
dân tộc Việt Nam. Tiêu chí này, qua lịch sử tiếp thu Nho giáo ngày càng được
củng cố về mặt lý luận. Với việc tiếp thu mô hình quản lý nhà nước Hán vào xây
dựng chế độ quân chủ phong kiến Việt Nam và lý luận Nho giáo[2], ý thức chủ quyền về lãnh thổ, quốc gia
với đại diện hợp pháp là vị quân vương ngày càng được nâng cao và củng cố, đặc
biệt là trong tư tưởng quốc gia - dân tộc của Minh Mệnh.
Nhà vua là biểu
trưng của dân tộc, được coi là người chủ sở hữu hợp pháp của quốc gia, đồng
thời phải gánh trách nhiệm tối cao về độc lập tự do và toàn vẹn lãnh thổ của
dân tộc. Quan niệm Nho giáo về thiên mệnh, về bậc quân chủ, về tính hợp thức
thần thánh của mỗi quốc gia, dân tộc được Minh Mệnh tiếp thu để tuyên bố tính
hợp thức, khẳng định quyền chính danh là vị quân chủ quốc gia - dân tộc của
mình[3] và phát triển đất nước theo hai hướng.
Hướng thứ nhất, tiếp tục quá trình phát triển quyền lực về phương Nam mà các
chúa Nguyễn đã khởi xướng từ thế kỷ XVII. Hoàng đế Minh Mệnh, một mặt, thi hành
chính sách củng cố các vùng lãnh thổ đã chinh phục được; mặt khác, tiếp tục mở
rộng ảnh hưởng của Việt Nam ra khu vực. Lãnh thổ Việt Nam thời cuối đời Minh
Mệnh, bao gồm toàn bộ lãnh thổ Việt Nam hiện đại và một phần lãnh thổ Lào,
Campuchia hiện nay (Trấn Ninh, Trấn Dinh, Trấn Tây Thành). Quá trình này giúp
củng cố vị thế và ảnh hưởng chính trị của Việt Nam trong khu vực Đông Nam Á,
thỏa mãn ý chí bình thiên hạ và ý thức tự ngã của vua Minh Mệnh, coi Việt Nam
là trung tâm của khu vực. Hướng thứ hai, ngoài mục tiêu ổn định xã hội, các
chính sách kinh tế, văn hóa, quân sự của nhà vua cũng nhằm tới mục tiêu phát
triển xã hội. Minh Mệnh có một số động thái chủ động học tập, ứng dụng kỹ thuật
công nghiệp phương Tây trong một số lĩnh vực sản xuất vũ khí và máy móc dân
dụng như tàu chạy hơi bằng nước, máy nước, máy cứu hỏa... Đặc biệt, kỹ thuật
chế tạo vũ khí theo phương Tây, dưới thời Minh Mệnh đã được chú trọng nhằm nâng
cao tính năng sát thương và sức mạnh quân sự, nhằm chuẩn bị lực lượng đối phó
với các nguy cơ can thiệp vào nội vụ đất nước đang ngày càng gia tăng từ phương
Tây.
Hoàng đế Minh Mệnh
có nhận thức rất mãnh liệt về sứ mệnh củng cố sức mạnh dân tộc và vị thế quốc
gia trong khu vực. Ý thức về một quốc gia mạnh và độc lập, có đầy đủ chủ quyền,
thậm chí có uy lực chi phối nhiều quốc gia - dân tộc khác được thể hiện bằng
các tư tưởng và quyết sách đối ngoại rất rõ ràng của Hoàng đế Minh Mệnh qua
đường lối “phủ biên, nhu viễn” (phủ dụ, ràng buộc các nước láng giềng làm phên
dậu cho Việt Nam và mềm mỏng, giữ khoảng cách với các nước phương xa). Việc
Minh Mệnh thi hành đường lối này bằng công tác đối ngoại khôn khéo, kết hợp với
tiềm lực sức mạnh quân sự đã củng cố vị thế của quốc gia Đại Nam hùng mạnh hàng
đầu Đông Nam Á trong nửa đầu thế kỷ XIX.
Hoàng đế Minh Mệnh
đã khôn khéo giải quyết các mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Hoa, với các
nước láng giềng gần và với các nước phương Tây từ xa tới. Trong quan hệ với
Trung Hoa, Minh Mệnh tiếp tục truyền thống “thần phục trên danh nghĩa, độc lập
thực sự”, thực hiện nghi thức cầu phong và triều cống nhà Thanh nhằm củng cố
tính chính danh quyền thống trị của nhà Nguyễn ở Việt Nam trong khu vực chịu
ảnh hưởng của Trung Hoa, giữ gìn hòa bình, yên ổn của quốc gia. Trong quan hệ
với các nước láng giềng Đông Nam Á, Minh Mệnh xây dựng chế độ phiên thuộc đối
với Lào, Campuchia và duy trì quan hệ bang giao bình đẳng với các nước Đông Nam
Á khác. Đối với các nước phương Tây, Minh Mệnh kiên quyết từ chối mọi đề nghị
thông thương, ngoại giao, không thiết lập quan hệ chính thức với bất cứ quốc
gia nào với mục đích ngăn ngừa sự can thiệp của các nước phương Tây vào Việt
Nam.
2. Tư tưởng thống
nhất quốc gia - dân tộc bằng bộ máy quản lý hành chính nhà nước
Để củng cố sự nhất
thống quốc gia của triều đại, quá trình tập trung quyền lực tuyệt đối vào nhà
vua được thực hiện vừa khôn khéo vừa kiên quyết. Nhà vua đã lấy mô hình hành
chính nhà nước triều Thanh làm khuôn mẫu thiết lập nền hành chính thống nhất
quản lý quốc gia. Với cuộc cải cách hành chính tiến hành trong những năm 1829 -
1831, Minh Mệnh đã hoàn thành quá trình tập trung hóa quyền lực của nhà Nguyễn.
Nhà vua đã tiến hành cải cách hành chính, xóa bỏ chế độ tổng trấn được hình
thành từ thời kỳ đầu lên trị vị của vua Gia Long và kéo dài tới năm 1829, với
hai vị Tổng trấn Bắc thành và Gia Định, có vị trí như hai phó vương. Lãnh thổ
Việt Nam được chia thành 31 tỉnh, thành do nhà vua trực tiếp quản lý, để tập
trung quyền hành tuyệt đối vào tay mình và củng cố sự thống nhất đất nước về
mặt hành chính. Bộ máy hành chính được hình thành qua cuộc cải cách của Minh
Mệnh về cơ bản đã được duy trì cho tới hết triều Nguyễn.
Những tư tưởng trị
nước theo Nho giáo đã được Minh Mệnh thể chế hóa vào bộ máy hành chính. Cơ cấu
triều đình gồm 6 bộ, về cơ bản không khác với triều đình thời Lê và triều đình
nhà Thanh. Ngoài ra, triều Nguyễn còn thành lập Cơ mật viện, Hàn lâm viện và
Nội các là ba cơ quan chính giúp việc nhà vua ra các quyết sách trị nước. Hệ
thống cấp bậc quan lại, trách nhiệm và chế độ đãi ngộ trong triều và ngoài tỉnh
của quan lại đã được Minh Mệnh xây dựng rất chi tiết và được quy định nghiêm
ngặt trong bộ quan chế của triều đình, góp phần vào việc củng cố thuyết chính
danh trong Nho giáo, nhằm ngăn chặn mọi ý đồ tiếm quyền, lạm quyền của quan
lại, củng cố tôn ti, trật tự trong bộ máy hành chính.
3. Tư tưởng thống
nhất quốc gia - dân tộc bằng ý thức hệ Nho giáo
Hoàng đế Minh Mệnh
đã tiếp tục củng cố lựa chọn của vua Gia Long, lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng độc
tôn của quốc gia. Lựa chọn này đã chinh phục lòng dân, đặc biệt là giới nho sĩ
đã thấm nhuần Nho học cả ngàn năm văn hiến. Do đó, địa vị của kẻ sĩ tiếp tục
được củng cố qua lựa chọn khoa cử, trở thành tầng lớp quan liêu trụ cột của
triều đình, giúp nhà vua quản lý xã hội. Lựa chọn này cũng giúp Minh Mệnh củng
cố tính chính thống của triều đại một cách hữu hiệu nhất bằng lý luận Nho giáo.
Khi lấy Nho giáo làm nền tảng lý luận cho tính chính danh của triều đại, Minh
Mệnh tập trung vào các tư tưởng luận giải mối quan hệ giữa trời - thiên tử -
dân và đề cao những quan niệm Nho giáo phù hợp với mục đích chính trị của mình,
như tư tưởng “mệnh trời”, tư tưởng “thiên nhân tương dữ”, tư tưởng “kính
thiên”... Trên thực tế, Minh Mệnh đã cho làm sách Minh Mệnh chính yếu, chỉ lựa
chọn một số tư tưởng Nho giáo phù hợp với yêu cầu chính trị của bản thân và xây
dựng thành một luận thuyết trị nước riêng của triều đại mình. Mỗi thiên trong
cuốn sách Minh Mệnh chính yếu là một nguyên lý trị nước được tổng kết, đúc rút
từ thực tiễn trị nước cũng như là cụ thể hóa đường lối chính trị lý tưởng theo
Nho giáo mà Minh Mệnh tuân thủ. Sự sắp xếp các nguyên lý trị đạo là theo trật
tự tầm quan trọng và tính ưu tiên của các nguyên lý này trong đạo trị nước,
khởi đầu bằng nguyên tắc kính thiên, đến pháp tổ, đôn thân, thể thần, cầu hiền,
kiến quan, cần chánh, ái dân, trọng nông, sùng kiệm, lễ nhạc, giáo hóa, chế
binh, thận hình, tài chính thuế khóa, pháp độ, sùng văn, rộng đường ngôn luận,
cố phòng thủ, phủ biên, nhu viễn.
Lý luận trị nước
trong Minh Mệnh chính yếu tập trung vào tư tưởng mệnh trời, đề cao người ở ngôi
vị hoàng đế là người được trời trao mệnh trị vì dân chúng, thay trời trị dân;
vua là con trời, mọi đất đai và thần dân của một nước đều là của vua. Vị thế
chủ tể trần gian của nhà vua được thần thánh hóa qua thuyết mệnh trời và phổ
biến sâu rộng trong nhân dân. Đây là luận thuyết nhằm lý giải tính chính đáng,
hợp thức quyền thống trị Việt Nam của họ Nguyễn, góp phần đắc lực giúp Minh
Mệnh củng cố nhân tâm nhất thống về một mối. Vua Minh Mệnh trong các chiếu chỉ
của mình thường viện dẫn câu “trên theo mệnh trời, dưới theo ý dân...” để chứng
minh cho tính chính đáng, đúng đắn, sáng suốt, tính khả thi của chiếu chỉ ban
ra: “Việc quân thì quý ở có danh nghĩa, mà đội quân ứng mệnh trời, thuận lòng
người thì trước phải đổi chính sóc... cứ chính đế vị, đổi niên hiệu, tỏ bày đại
nghĩa với thiên hạ, như thế thì được nước là chính đáng, không ai dị nghị gì”[4]. Đặc biệt, tư tưởng trị nước của Minh
Mệnh chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng thiên nhân cảm ứng. Nguyên tắc kính
thiên mang đầy màu sắc đạo đức thần bí được Hoàng đế Minh Mệnh coi là nguyên
tắc hàng đầu trong thực thi chính sự. Theo đó, vua đối với trời như con đối với
cha, phải luôn luôn lo lắng để thực hiện việc chính sự cho đúng với ý trời, để
giữ được thiên mệnh: “Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, lúc nào cũng nâm nấm, nem
nép, chỉ sợ chưa hợp ý trời, nay hạn, dịch làm tai, có phải đấng Thượng đế đã
khiển trách ta không có đức vậy ư?”[5].
Minh Mệnh, một mặt,
lấy đức trị làm đường lối trị nước; mặt khác, dùng pháp trị làm phương pháp cai
trị. Cụ thể hóa đường lối đức trị, Minh Mệnh lấy nông nghiệp làm trọng để dân
yên bản nghiệp, hoàn thiện chế độ khoa cử, giáo dục để giáo hóa dân chúng, đề
cao đạo đức trung hiếu của Nho giáo, đề cao vương đạo trọng nghĩa hơn lợi. Bên
cạnh đó, bộ Hoàng Việt luật lệ soạn dưới thời Gia Long đã được Minh Mệnh sửa
lại hoàn chỉnh và áp dụng vào quản lý xã hội với phương châm pháp luật phải
nghiêm minh. Theo Minh Mệnh, luật là để: “Thưởng người có công răn kẻ có tội.
Một khi có tội không cứ vị quan lớn hay nhỏ đều phải theo pháp luật làm việc”.
Tư tưởng “ngoại Nho nội Pháp”, kết hợp đức trị và pháp trị trên cơ sở của đức
trị và hướng tới nền chính trị vương đạo của Minh Mệnh thể hiện rõ ở chỗ ông
coi “nhà nước định rõ luật hình, để giúp việc giáo dục”, “giáo hóa trước rồi
mới dùng hình phạt” và mục đích cuối cùng của luật pháp là để “cải hóa kẻ phạm
tội trở về chính đạo”.
Có thể nói, Minh
Mệnh đã xây dựng một đường lối quốc gia chủ nghĩa theo Nho giáo riêng của Việt
Nam với 21 nguyên lý lớn được trình bày theo hệ thống và tầm mức quan trọng ưu
tiên trước sau rõ ràng trong thi hành chính trị. Nguyên tắc kính thiên thể hiện
tính chính thống và chính đáng thống trị của vương triều. Nguyên tắc pháp tổ
thể hiện sự kế thừa tính chính thống và trọng đạo hiếu trong cai trị. Các
nguyên tắc tiếp theo là những chỉ dẫn thể hiện đường lối vương đạo trong quan
hệ giữa nhà vua với quần thần và dân chúng khi trị vì, cai quản các lĩnh vực
thiết yếu của xã hội như kinh tế, văn hóa, giáo dục. Những nguyên lý cuối là
quan điểm an ninh, quốc phòng và ngoại giao. Như vậy, đường lối vương đạo Nho
giáo đã được cụ thể hóa thành hệ thống những nguyên tắc xây dựng và phát triển
quốc gia nhất quán và rõ ràng trong tư tưởng quốc gia - dân tộc của Minh Mệnh.
4. Tư tưởng thống
nhất quốc gia - dân tộc về văn hóa - giáo dục
Trên phương diện
văn hóa, niềm tự hào về tính đặc sắc của văn hóa dân tộc là một yếu tố căn bản
nhất của chủ nghĩa quốc gia - dân tộc Việt Nam và là một trong những động lực
và ý nghĩa căn bản của các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập của quốc gia - dân
tộc. Minh Mệnh đã đưa nhận thức về giá trị văn hiến của quốc gia lên một tầm
mức mới, thậm chí mang tính cực đoan, dù về thực chất, nhận thức này chịu ảnh
hưởng sâu sắc của tư tưởng Hoa hạ.
Minh Mệnh có tư
tưởng phân biệt các dân tộc, các vùng miền theo trình độ văn hiến rất rõ ràng.
Ông lấy các chuẩn mực văn hóa Nho giáo về chữ viết, lối sống, quy tắc ứng xử,
tôn giáo... làm thước đo. Theo quan niệm của nhà vua, có một ranh giới văn hóa
rất rõ ràng đã được xác lập giữa vùng trung ương và các vùng ngoại biên. Theo
đó, Minh Mệnh đặt ra các trục tương tác, quan hệ theo kiểu kết cấu hạt nhân và
vệ tinh trong quan hệ giữa triều Nguyễn với các nước láng giềng, giữa trung tâm
thống trị của triều đình nhà Nguyễn với các vùng nội thuộc của quốc gia.
Tư tưởng của Minh
Mệnh về văn hóa, về mối quan hệ trung tâm - ngoại biên được xây dựng và củng cố
trên cơ sở quan niệm văn hóa Hoa hạ, thừa nhận tính ưu việt của nền văn hóa
Trung Hoa, coi đạo Nho là đạo thống, là chuẩn mực xác định phẩm chất văn minh
hay dã man của một quốc gia - dân tộc, một cộng đồng, một vùng, một nhóm người.
Từ nhận thức về quan hệ trung tâm - ngoại biên về văn hóa, Minh Mệnh thừa nhận
trật tự thế giới Nho giáo lấy Trung Quốc là trung tâm, đồng thời cũng tự xác
nhận vai trò trung tâm của triều Nguyễn trong trật tự các nước, các vùng trên
bán đảo Đông Dương. Tư tưởng về trung tâm và ngoại biên này đã tác động và ảnh
hưởng tới nhiều quyết sách và đường lối chính trị thực hành của Minh Mệnh, đặc
biệt là tư tưởng văn hóa lấy Nho giáo làm trung tâm, dùng Nho giáo để sửa đổi
phong tục, thống nhất văn hóa đất nước.
Tư tưởng tự hào về
những thành tựu văn hoá Nho giáo, về nhân tài và nền học thuật của đất nước
luôn sánh ngang Trung Hoa là một tư tưởng chi phối tư tưởng quốc gia - dân tộc
của Minh Mệnh. Việc ông bắt chước mô hình quản lý nhà nước Trung Hoa, bắt chước
chế độ giáo dục khoa cử, giáo hóa dân chúng theo các chuẩn mực văn hóa Nho giáo
là một nỗ lực thể hiện tư tưởng dân tộc chủ nghĩa văn hóa về tính ngang bằng,
bình đẳng của Việt Nam trước đế quốc Trung Hoa khổng lồ. Ngay cách nhìn Hoa hạ
đối với văn minh phương Tây của Minh Mệnh, coi phương Tây là dã man, gọi người
phương Tây là “Tây di” do họ không có chung các ý niệm và thành tựu văn hóa
phương Đông như Hà đồ, Lạc thư..., dù hết sức phi thực tế và không tương thích,
cũng thể hiện rõ tư tưởng quốc gia - dân tộc Nho giáo của Minh Mệnh.
Tóm lại, với tư
tưởng quốc gia - dân tộc theo Nho giáo vừa cứng rắn vừa mềm dẻo, Minh Mệnh đã
góp phần xây dựng, củng cố vững chắc và hiệu quả một quốc gia Đại Nam thống
nhất và hùng mạnh suốt nửa đầu thế kỷ XIX. Ông đã dùng Nho giáo để củng cố uy
quyền của triều đại, mở mang lãnh thổ quốc gia, thống nhất nền hành chính quốc
gia và sửa đổi phong tục, thống nhất văn hóa đất nước. Những nỗ lực của Minh
Mệnh trong việc đề cao học thuyết chính trị - đạo đức Nho học, coi đó là trụ
cột tư tưởng xây dựng và bảo vệ quyền lực triều Nguyễn và khôi phục, phát triển
đất nước đã đạt được những kết quả đáng kể trong nửa đầu thế kỷ XIX. Quốc gia
do Hoàng đế Minh Mệnh cai trị theo tư tưởng quốc gia - dân tộc Nho giáo đã trở
thành một quốc gia hùng mạnh bậc nhất Đông Nam Á vào giữa thế kỷ XIX.
Tuy nhiên, bên cạnh
những thành tựu mà chủ nghĩa quốc gia - dân tộc theo Nho giáo của Minh Mệnh đã
góp phần tạo dựng cho đất nước thì việc độc tôn Nho giáo với mục đích củng cố
chính quyền nhà Nguyễn và khôi phục, ổn định đời sống nhân dân, cũng dẫn tới
một trong những hệ quả nghiêm trọng của nó là sự từ chối tiếp nhận ảnh hưởng
của văn hóa phương Tây. Do đó, Minh Mệnh đã bỏ qua cơ hội tiếp thu và ứng dụng
những thành tựu tri thức khoa học - kỹ thuật và văn hóa thế giới vào phát triển
đất nước. Đồng thời, việc độc tôn Nho giáo, phủ nhận các tôn giáo khác trong tư
tưởng dân tộc chủ nghĩa văn hóa của Minh Mệnh cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ bất ổn
trong một quốc gia đa tộc người, đa văn hóa là Việt Nam. Nhất là, trong bối
cảnh chủ nghĩa tư bản thế giới phát triển mạnh mẽ và chuyển sang giai đoạn đế
quốc chủ nghĩa thì những bất ổn tiềm ẩn trong văn hóa, tôn giáo đó rất dễ trở thành
những nhân tố gây bất ổn cho chính trị và nguy hiểm cho số phận dân tộc khi bị
tác động cộng hưởng của các yếu tố bên ngoài.
Có thể thấy, từ
việc xem xét và đánh giá chủ nghĩa quốc gia - dân tộc theo Nho giáo của Hoàng
đế Minh Mệnh, chúng ta có thể rút ra nhiều bài học có ý nghĩa về định hướng
phát triển quốc gia - dân tộc trong thời đại toàn cầu hóa và cách mạng khoa học
công nghệ hiện nay. r
[1] Xem: Vương Xuân
Tình (2019), Cộng đồng kiến tạo. Tộc người với quốc gia-dân tộc trên thế giới
và ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.251.
[2] Chủ quyền, quyền
sở hữu một cộng đồng sinh sống trên một vùng đất xác định trước hết là thuộc về
một vị vua. Ý thức về chủ quyền dân tộc được hình thành trên cơ sở và chủ yếu
dựa vào nhận thức này. Nhận thức này đã được xây dựng từ rất sớm trong “Kinh
thi”: “Phổ thiên chi hạ mạc phi vương thổ, Suất thổ chi tân mạc phi vương
thần”- nghĩa là “Khắp cõi dưới bầu trời này không có nơi nào không phải đất của
vua, Dọc theo những vùng đất ven sông này dân chúng khắp nơi đó không ai không
phải là thần dân của vua”. Bắc Sơn, phần Tiểu nhã. Kinh thi, t.2, Nxb Văn học,
Hà Nội, 1992, tr.1132.
[3] Bài thơ “Nam quốc sơn hà” trong thế kỷ XI
của tác giả khuyết danh Việt Nam là một ví dụ: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.” Nghĩa là:
“Núi sông nước Nam
thì vua Nam ở,
Cương giới rõ ràng
đã ghi trong sách trời”. Dẫn theo: Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (t.II), Văn học
thế kỷ X-XVII”, Nxb Văn học, Hà Nội, 1976, tr.57-58.
[4] Quốc sử quán triều
Nguyễn (2006), Đại Nam thực lục, t.1, Nxb Giáo dục, tr.488.
[5] Minh Mệnh chính
yếu, t.1, Nxb Thuận Hóa - Huế, 1994, tr.22.