Hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy trong kỷ nguyên mới
Tóm tắt: Hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam trong cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy là yêu cầu khách quan và có tính thời sự, bởi thể chế về tuyển dụng công chức đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, khả thi, phù hợp cùng với khát vọng xây dựng đất nước của đội ngũ công chức sẽ chọn lọc được đội ngũ công chức thực tài để đất nước cất cánh và sánh vai với các nước phát triển trên thế giới. Bài viết sẽ phân tích các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công chức gắn với yêu cầu của cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: Công chức;
tuyển dụng; hoàn thiện pháp luật; cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy.
Abstract: Improving
the legal framework for civil servant recruitment in Vietnam amid the ongoing
administrative streamlining reform is both an objective necessity and a timely
issue. A comprehensive, clear, transparent, and feasible institutional
framework for recruitment-aligned with the national aspiration for
development-will enable the selection of truly competent civil servants,
thereby helping the country thrive and stand alongside developed nations. This
article analyzes the current legal provisions on civil servant recruitment in
Vietnam and proposes solutions for improving the legal framework to meet the
demands of streamlining the state apparatus in the new era.
Keywords: Civil
servant; recruitment; legal framework improvement; streamlining of the state
apparatus.
Ngày nhận
bài: 06/3/2025; Ngày sửa bài: 10/4/2025; Ngày duyệt đăng
bài: 05/5/2025.
1. Sự cần thiết phải
hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu của cuộc
cách mạng tinh gọn trong kỷ nguyên mới
Công chức Việt Nam là
thuật ngữ được đề cập, sử dụng khi thực dân Pháp chính thức cai trị nước ta. Thực
dân Pháp đã xây dựng tổ chức chính quyền trên lãnh thổ Việt Nam, để bộ máy này
hoạt động, chính quyền thực dân Pháp đã sử dụng công chức người Pháp và công chức
là người bản địa. Do đó, những người
trong chính quyền phong kiến được chính quyền Pháp tiếp tục sử dụng vẫn được gọi
là quan lại. Cho đến nay, thuật ngữ công chức dần được hoàn thiện theo thời
gian và phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và nhu cầu quản lý của nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Ở Việt Nam, công chức
đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự, kỷ cương và bảo vệ quyền, lợi
ích chính đáng của tổ chức, công dân
theo quy định của pháp luật. Công chức “là công bộc của dân”, có trách nhiệm xây
dựng mối liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, tôn trọng, lắng
nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân.
Luật Cán bộ, công chức
năm 2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (Luật
2019), quy định về công chức như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển
dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm
trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở
trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân
mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong
cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục
vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước”.
Như vậy, ở Việt Nam,
công chức là khái niệm rất rộng bao hàm cả những người làm việc trong các cơ
quan của Đảng, các tổ chức chính trị xã hội, các cơ quan thực hiện quyền lập
pháp, hành pháp và tư pháp. Đồng thời, công chức Việt Nam bao gồm cả công chức ở
trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Mỗi một công chức ở ngạch, chức vụ,
chức danh tương ứng với vị trí việc làm có những nét đặc thù riêng, tuy nhiên,
các quy định của pháp luật về công chức ở Việt Nam lại đều có những điểm chung
nhất định.
Tuyển dụng công chức
là khâu đầu tiên trong quy trình quản lý đội ngũ công chức trong hệ thống công
vụ. Sau khi được tuyển dụng, công chức sẽ được tổ chức bố trí phân công công việc,
tiến hành tập sự, học việc, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, kỹ năng làm việc, điều động, biệt phái, luân chuyển đến các công việc,
vị trí phù hợp cũng như được bố trí thi nâng ngạch, chuyển ngạch khi công chức
có đủ điều kiện và có thể bổ nhiệm giữ các vị trí lãnh đạo trong cơ quan, tổ chức;
được đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, nghỉ hưu theo quy định của pháp luật về
công vụ, công chức.
Từ những phân tích
trên, có thể khái quát tuyển dụng
công chức ở Việt Nam là công việc do cơ quan, đơn vị, tổ chức có thẩm quyền tiến
hành theo những trình tự, thủ tục đã được quy định trong pháp luật về tuyển dụng
công chức nhằm mục đích lựa chọn những cá nhân có nguyện vọng trở thành công chức,
đáp ứng được yêu cầu của chức danh công chức và vị trí việc làm để thực hiện
các công việc của cơ quan, đơn vị, tổ chức đó.
Công tác tuyển dụng
công chức ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, xác định là nhiệm vụ
trọng tâm và là một trong những đột phá chiến lược trong tiến trình phát triển
đất nước. Do vậy, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản để điều chỉnh lĩnh
vực này, trên cơ sở quy định của Đảng và Luật Cán bộ, công chức, Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 138/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 quy định về tuyển dụng, sử
dụng và quản lý công chức (Nghị định số 138), Nghị định số 116/2024/NĐ-CP
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 138, Nghị định số 06/2023/NĐ-CP
ngày 21/02/2023 quy định về kiểm định chất lượng đầu vào công chức và Thông tư
số 001/2025/TT-BNV ngày 17/3/2025 ban hành Nội quy và Quy chế tuyển dụng, nâng
ngạch, xét thăng hạng công chức, viên chức, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho
công tác tuyển dụng công chức ở Việt Nam. Trong quá trình triển khai các quy định
của Đảng và Nhà nước về tuyển dụng công chức, theo Báo cáo của Bộ Nội vụ “về cơ
bản, các bộ, cơ quan, địa phương thực hiện việc tuyển dụng công chức đúng quy định
của pháp luật, công khai, minh bạch, khách quan; bảo đảm tính cạnh tranh theo
quy định; tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm; thực
hiện đầy đủ các chính sách ưu tiên trong tuyển dụng đối với người có tài năng,
người có công với nước, người dân tộc thiểu số; thực hiện tuyển dụng theo vị
trí việc làm; cắt giảm yêu cầu về chứng chỉ tin học, ngoại ngữ; tăng cường ứng
dụng công nghệ thông tin trong tuyển dụng, công bố công khai trên phương tiện
thông tin đại chúng, trên trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị. Các bộ,
ngành, địa phương đã từng bước thực hiện hiệu quả chính sách đối với người có
tài năng, đã đạt được kết quả tích cực trong tuyển dụng, tạo nguồn cán bộ
từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ theo quy định tại Nghị định
số 140/2017/NĐ-CP ngày 05/12/2017 của Chính phủ. Nhiều địa phương đã có chính
sách riêng thu hút người có tài năng, nguồn nhân lực chất lượng cao. Chất lượng
đội ngũ công chức được tuyển dụng ngày càng được nâng cao, nhất là đội ngũ trẻ
đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập
quốc tế. Từ năm 2020 đến nay, các Bộ, ngành, địa phương đã thực hiện tuyển dụng
22.531 công chức, trong đó năm 2023, các bộ, cơ quan, địa phương đã thực hiện
tuyển dụng 3.664 công chức (cơ quan Trung ương đã tuyển dụng 488 công chức, địa
phương đã tuyển dụng 3.176 công chức)”.
Tuy nhiên, bên cạnh
những kết quả đạt được, sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật tuyển dụng công
chức ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng tinh gọn trong kỷ nguyên mới
bởi những lý do sau:
Thứ nhất, do áp lực từ bối cảnh chuyển đổi số và quản trị hiện đại,
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng với yêu cầu về chính phủ số, nền
hành chính số, đang đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với đội ngũ công chức.
Công chức hiện nay không chỉ cần am hiểu và nắm chắc các quy định của pháp luật,
mà còn cần kỹ năng sử dụng công nghệ, tư duy phản biện,
khả năng tương tác với
người dân trên nền tảng số, cũng như thích ứng nhanh với các thay đổi chính
sách. Trong khi đó, hệ thống tuyển dụng hiện nay chưa phản ánh được yêu cầu
năng lực ấy, do chưa có tiêu chuẩn tuyển chọn gắn với vị trí việc làm theo đúng
nghĩa.
Thứ hai, để khắc phục những bất cập, hạn chế trong pháp luật tuyển
dụng công chức hiện nay. Pháp luật về tuyển dụng công chức hiện được điều chỉnh
bởi Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung 2019), các nghị định hướng
dẫn như Nghị định 138/2020/NĐ-CP, và các văn bản liên quan. Tuy nhiên, trong
tuyển dụng công chức, khi triển khai các quy định của pháp luật còn một số tồn
tại nổi bật đó là:
Thiếu đồng bộ và minh
bạch trong quy trình tuyển dụng công chức, dù quy định rõ ràng về thi tuyển và
xét tuyển, nhưng thực tế còn xảy ra tình trạng “tuyển trước, hợp thức hóa sau”,
hay còn tình trạng thi tuyển hình thức, chưa thực chất.
Chưa đánh giá đúng
năng lực thực tiễn của người được tuyển dụng, hình thức thi cử còn nặng về lý
thuyết, thiếu bài kiểm tra tình huống, kỹ năng xử lý công việc - vốn là những
năng lực cốt lõi của công chức hiện đại.
Chưa áp dụng hiệu quả
công nghệ trong tổ chức thi tuyển, việc số hóa quy trình thi, thi trên máy
tính, hay giám sát chấm thi còn chậm và không đồng đều giữa các địa phương.
Chưa có cơ chế thu
hút người tài từ khu vực tư nhân hoặc du học sinh trở về, nhiều người có năng lực nhưng e ngại môi trường
công vụ thiếu cạnh tranh và minh bạch.
Quy trình tuyển dụng
đôi khi còn rườm rà, kéo dài, chưa thực sự lấy vị trí việc làm làm trung tâm.
Việc ra đề thi chuyên
môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của vị trí việc làm còn hạn chế; tuyển dụng đối với
người dân tộc thiểu số đã được quy định thành một trong các nguyên tắc tại Luật,
tuy nhiên số lượng cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số còn ít, nhất là
tại các bộ, cơ quan Trung ương.
Thực hiện chính sách
thu hút người có tài năng vào làm việc tại các bộ, cơ quan, địa phương đã đạt
nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên số lượng chưa nhiều. Vẫn còn một số bộ, cơ
quan, địa phương chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật về tuyển
dụng, nhiều trường hợp phải thực hiện việc khắc phục sai phạm trong tuyển dụng
công chức. Bên cạnh đó, các quy định của pháp luật để xác định về công chức,
tuyển dụng công chức chưa có sự thống nhất, còn chồng chéo, mâu thuẫn, do vậy,
công tác tuyển dụng công chức chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với yêu cầu
xây dựng thành công nền công vụ liên thông, thống nhất, chuyên nghiệp, trách
nhiệm, công khai, minh bạch, năng động, chưa gắn giữa yêu cầu về bằng cấp với kỹ
năng, năng lực, đạo đức của công chức, còn tư duy “biên chế suốt đời” và chưa đảm
bảo thực hiện phương châm “có lên, có xuống, có vào, có ra”.
Thứ ba, so sánh kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam. Ở nhiều
quốc gia có nền hành chính phát triển, như Nhật Bản, Singapore, Đức, Canada..., việc tuyển dụng công chức được tổ
chức như một thị trường cạnh tranh về trí tuệ và năng lực hành chính. Họ có các
điểm chung: Tuyển dụng theo vị trí việc làm cụ thể, không tuyển theo chỉ tiêu tổng
thể. Áp dụng các bài đánh giá năng lực đa dạng, bao gồm IQ, EQ, kỹ năng xử lý
tình huống và kỹ năng công nghệ. Công khai thông tin tuyển dụng trên nền tảng
điện tử, bảo đảm tính minh bạch tuyệt đối. Có cơ chế thu hút người giỏi từ khối
tư nhân vào làm việc trong khu vực công bằng hợp đồng đặc biệt. Việt Nam có thể
học hỏi các mô hình này để xây dựng một hệ thống tuyển dụng công chức hiện đại,
linh hoạt, minh bạch và hướng tới năng lực - thay vì chỉ dựa vào bằng cấp hay
tiêu chuẩn cứng nhắc.
Từ những hạn chế nêu
trên, việc hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam trong thời
gian tới phải đảm bảo các mục đích thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về
công tác tuyển dụng công chức, phải khắc phục được các hạn chế, bất cập trên thực
tế, đặc biệt chú trọng đi vào chiều sâu và thực chất, tạo sự cạnh tranh và liên
thông trong công tác tuyển dụng công chức trong khu vực công và khu vực tư
nhân, xây dựng chế độ công vụ mới theo vị trí việc làm, theo hướng năng động,
trách nhiệm, minh bạch, thực tài và hiệu quả với nhiều nội dung tiến bộ, trong
đó, cần bỏ phân biệt cán bộ, công chức cấp xã với cấp tỉnh; thay thế chế độ tuyển
dụng “suốt đời biên chế” bằng chế độ công chức hợp đồng theo vị trí việc làm; bỏ
quy định một nơi tuyển dụng cho một nơi sử dụng để thay bằng nguyên tắc “ai
dùng người đó tuyển” và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
2. Một số quy định của
pháp luật về tuyển dụng công chức ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện
Thứ nhất, khái niệm công chức được quy định tại Khoản 2 Điều 4 Luật
2019 chưa đồng bộ, thống nhất với luật chuyên ngành khác
Công chức là công dân
Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với
vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội... nhưng tại Điều 37 Luật Mặt trận Tổ quốc năm 2015 quy định
đối tượng cán bộ, công chức trong cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tuy
nhiên, khoản 2 Điều 4 Luật 2019 không quy định đối tượng cán bộ, công chức tại
cơ quan Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Khoản 8 Điều 18 Luật Dân quân tự vệ
năm 2019 quy định chức danh “Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cấp xã”. Điểm b
khoản 3 Điều 61 Luật 2019 quy định chức danh “Chỉ huy trưởng Quân sự”.
Thứ hai, nội dung các quy định của pháp luật về tuyển dụng công chức
Một là, căn cứ để tuyển dụng công chức được “Việc tuyển dụng công
chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế”.
Như vậy, việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào (i) Chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn của cơ quan, tổ chức. (ii) Cơ cấu công chức theo vị trí việc làm đã được cấp
có thẩm quyền phê duyệt. (iii) Nhu cầu
biên chế của từng cơ quan nhà nước.
Hai là, điều kiện đăng ký dự tuyển công chức: Có quốc tịch Việt Nam
và cư trú tại Việt Nam; Từ đủ 18 tuổi trở lên; Có đơn đăng ký dự tuyển; có lý lịch
rõ ràng; Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp với vị trí việc làm cần tuyển; Có phẩm
chất chính trị, đạo đức tốt; Đủ sức khỏe để thực hiện nhiệm vụ. Đây là những điều
kiện chung hết sức cần thiết để một người có thể hình dung được những tiêu chuẩn,
điều kiện mà mình có thể đáp ứng để tham gia trở thành công chức nhà nước. Tuy
nhiên, cần phải lượng hóa rõ ràng về điều kiện đạo đức tốt của công chức theo
hướng đội ngũ công chức đó có vai trò, sứ mệnh tận tụy phục vụ nhân dân, phụng
sự đất nước, có khát vọng phát triển đất nước, nhận rõ mình chỉ là người được
nhân dân ủy quyền để thực hiện quyền lực của nhân dân nên phải quay trở lại phục
vụ nhân dân chứ không phải cai trị, nhũng nhiễu với nhân dân.
Ba là, phương thức tuyển dụng công chức: Có hai phương thức là thi
tuyển và xét tuyển và các phương thức khác. Thi tuyển được áp dụng cho đa số
các trường hợp tuyển dụng công chức, còn xét tuyển được đặt ra trong trường hợp
(i) Cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở vùng có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn; (ii) Người học theo chế độ cử tuyển theo quy định của
Luật giáo dục, sau khi tốt nghiệp về công tác tại địa phương nơi cử đi học;
(iii) Sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng. Quy định này của
Luật 2019 đã bao quát được thêm nhiều đối tượng so với Luật 2008 và đã thay thế
cho quy định trước đây về cán bộ khoa
học trẻ. Đặc biệt, Khoản 13 Điều 1 Nghị định 27/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định số 40/2014/ NĐ-CP ngày 12/5/2014 của Chính phủ quy định
việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ và Nghị định số
87/2014/NĐ-CP ngày 22/9/2014 của Chính phủ quy định về thu hút cá nhân hoạt động
khoa học và công nghệ là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài
tham gia hoạt động khoa học và công nghệ tại Việt Nam đã giải thích cụ thể thế
nào là nhà khoa học trẻ tài năng “Nhà khoa học trẻ tài năng là cá nhân hoạt
động khoa học và công nghệ dưới 35 tuổi, có trình độ tiến sĩ trở lên,
có kết quả học tập xuất sắc các năm học bậc đại học và đạt một trong các
tiêu chuẩn, điều kiện (i) Chủ trì công trình đạt giải thưởng uy tín về khoa
học và công nghệ; (ii) Là tác giả chính ít nhất 05 bài báo khoa
học được đăng trên tạp chí khoa học quốc tế có uy tín; hoặc là tác giả
của ít nhất 02 sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ...; hoặc là chủ nhiệm một
nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được nghiệm thu... Cá nhân hoạt động trong
lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn nếu không đáp ứng điều kiện này phải
có ít nhất 05 bài báo khoa học được đăng trên tạp chí khoa học
có mã số chuẩn quốc tế ISSN... và có ít nhất 03 lần tham gia chủ
trì hội nghị, hội thảo khoa học chuyên ngành ở cấp quốc gia hoặc tham
gia hội nghị, hội thảo khoa học chuyên ngành quốc tế. Tuy nhiên, nếu thực
hiện nguyên tắc thi tuyển cạnh tranh thì không đảm bảo, do vậy, bên cạnh việc
thống nhất một hình thức tuyển dụng công chức là thi tuyển cạnh tranh thì không
nên để hình thức xét tuyển đối với các đối tượng
này, các quy định của pháp luật có thể hướng tới chính sách cộng điểm hoặc có
chính sách ưu tiên khác cho họ khi họ tham gia thi tuyển cạnh trạnh, nhằm thu
hút nguồn nhân lực chất lượng cao, tránh tình trạng lồng ghép lợi ích nhóm
trong xây dựng các chính sách tuyển dụng công chức ở các cơ quan có thẩm quyền
tuyển dụng, đồng thời với chính sách ưu tiên cụ thể cho đối tượng này còn là động
lực để khuyến khích các đối tượng thi tuyển công chức là sinh viên phấn đấu, cố
gắng trong quá trình học tập, nhưng phải cân nhắc sao cho phải bảo đảm tính
công bằng trong tuyển dụng công chức.
Bốn là, nguyên tắc tuyển dụng công chức: Luật 2019 xác định có 4
nguyên tắc đó là (i) Bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật;
(ii) Bảo đảm tính cạnh tranh; (iii) Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ và vị trí việc làm; (iv) Ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công
với nước, người dân tộc thiểu số. Để đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay về
việc tuyển dụng công chức phải có tính liên thông, phải có vào có ra, có lên có
xuống, ai dùng người đó tuyển” và tự chủ, tự thực hiện, tự chịu trách nhiệm về
quyết định của mình thì nên bổ sung nguyên tắc tuyển dụng công chức phải có
tính thống nhất, liên thông, thực tài và bỏ nguyên tắc ưu tiên tuyển chọn người
có tài năng, người có công với nước, người dân tộc thiểu số mà đưa nguyên tắc
này trở thành đối tượng cộng điểm trong chính sách tuyển dụng công chức.
Năm là, xác định cơ quan thực hiện tuyển dụng công chức: Luật 2019
quy định: (i) Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước thực hiện tuyển dụng và phân cấp
tuyển dụng công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý; (ii)
Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước thực hiện tuyển dụng công chức
trong cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý; (iii) Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ tuyển dụng và phân cấp tuyển dụng công chức trong cơ quan, tổ
chức, đơn vị thuộc quyền quản lý; (iv) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tuyển dụng và
phân cấp tuyển dụng công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý;
(v) Cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội tuyển dụng
và phân cấp tuyển dụng công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản
lý. Hiện nay, trong cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy, các cơ quan trong bộ máy của
hệ thống chính trị đã có nhiều thay đổi, tới đây, cần sửa đổi nội dung này cho
phù hợp với Hiến pháp, Luật Tổ chức chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa
phương để xác định cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức trên cơ sở nguyên
tắc thống nhất, thực tài, cơ quan nào sử dụng cơ quan đó tuyển dụng. Bên cạnh
đó có thể theo phương án thứ hai là dựa trên nguyên tắc thi tuyển cạnh tranh và
đảm bảo sự phân cấp, phân quyền trong tuyển dụng công chức thì có thể xác định
một cơ quan có thẩm quyền tổ chức tuyển dụng công chức ở Trung ương thông qua kỳ
thi tuyển quốc gia và một cơ quan độc lập tổ chức kỳ thi tuyển công chức tại địa
phương. Dựa vào kết quả trúng tuyển, vị trí việc làm mà người thi thuyển đăng
ký, Hội đồng thi tuyển công chức quốc gia hoặc Hội đồng thi tuyển công chức địa
phương sẽ là đầu mối phân công công
việc theo ngạch và vị trí việc làm. Đồng thời, cần có quy định đối với các cơ
quan có thẩm quyền tập trung, thống nhất công khai, minh bạch thông tin tuyển dụng
công chức. Ở Trung ương và các địa phương, cơ quan có thẩm quyền phải thông tin
tuyển dụng công chức về một đầu mối và đăng tải công khai, kiểm tra thông báo
tuyển dụng. Hoàn thiện quy định để đảm bảo phân cấp, phân quyền trong tuyển dụng
công chức đó là trên cơ sở kết quả kỳ thi tuyển dụng công chức có tính cạnh
tranh của quốc gia, địa phương cơ quan sử dụng công chức có thể tiến hành thi
vòng 2 kiến thức chuyên ngành phù hợp với đặc thù bộ, ngành, địa phương.
Sáu là, hoàn thiện các quy định của pháp luật về kinh phí tổ chức Hội
đồng thi tuyển cạnh tranh trong tuyển dụng công chức, nhà nước cần dành nguồn
kinh phí thỏa đáng phục vụ cho công tác tuyển dụng công chức. Coi đây là một nội
dung của nguồn kinh phí phục vụ chính sách phát triển kinh tế, xã hội của đất
nước để có nguồn kinh phí hợp lý cho tuyển dụng công chức. Bỏ quy định thu lệ
phí tuyển dụng công chức như hiện nay, tạo điều kiện cho những thí sinh có hoàn
cảnh khó khăn đều có cơ hội tiếp cận với kỳ thi tuyển dụng công chức.
Bảy là, hoàn thiện pháp luật về thời gian tuyển dụng công chức, cần
quy định thống nhất về thời gian tổ chức thi tuyển công chức ở Trung ương và địa
phương phù hợp, thống nhất với thời gian tốt nghiệp của các thí sinh là sinh
viên các trường đại học. Có như vậy, công tác tuyển dụng công chức mới khách
quan, minh bạch, khoa học và đạt hiệu
quả cao, thu hút được lực lượng lao động có trình độ và chất lượng trong xã hội
vào làm việc tại khu vực công, không bị gián đoạn giữa thời gian học tập với thời
gian thi tuyển công chức.
Tám là, nghiên cứu xây dựng, thí điểm thực hiện chế định công chức
hợp đồng. Việc tuyển dụng công chức ở nước ta hiện nay theo mô hình tuyển dụng
vào biên chế bên cạnh những ưu điểm vẫn còn một số hạn chế, không phát huy được
tính năng động của công chức trong nền công vụ. Vì vậy, trong thời gian tới cần
nghiên cứu quy định ký hợp đồng lao động đối với công chức (chế độ công chức hợp
đồng) để thí điểm thực hiện, đáp ứng yêu cầu nền công vụ năng động. Việc cho
phép các cơ quan được ký hợp đồng lao động đối với công chức sẽ tạo ra khả năng
linh hoạt hơn trong thay đổi nhân sự, đồng thời cũng tạo ra sự cạnh tranh, yêu
cầu buộc nhiều công chức đang làm việc phải làm việc tích cực, chủ động hơn.
Chín là, xem xét ban hành chính sách liên thông nguồn nhân lực khu
vực công với khu vực tư; chính sách liên thông cán bộ, công chức cấp xã với cấp
tỉnh. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương lần thứ bảy,
khóa XII nhấn mạnh: “Nghiên cứu thực hiện cơ chế, chính sách liên thông, bình đẳng,
nhất quán trong hệ thống chính trị; liên thông giữa cán bộ, công chức cấp xã với
cán bộ, công chức nói chung, giữa nguồn nhân lực ở khu vực công và khu vực tư;
có cơ chế cạnh tranh vị trí việc làm để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức và tiến tới bỏ chế độ “biên chế suốt đời”. Bên cạnh đó, hiện
nay pháp luật quy định tiêu chuẩn, điều
kiện công chức cấp xã đã ngang bằng với công chức cấp tỉnh, ví dụ: phải có bằng
đại học, có chứng chỉ tin học, ngoại ngữ,... do vậy, các quy định của pháp luật
về tuyển dụng công chức ở địa phương phải có tính liên thông, thực tế các quy định
của pháp luật nước ta hiện nay còn tách bạch công chức cấp xã với công chức
(Trung ương, cấp huyện, cấp tỉnh) việc quy định này để đảm bảo sau khi tuyển dụng
công chức thì quá trình sử dụng công chức, dù công chức ở vị trí cấp xã có thể
điều chuyển trở thành công chức cấp tỉnh và ngược lại. Đồng thời, cần bổ sung
quy định về ngạch công chức cấp xã tương đương với công chức cấp tỉnh để công
chức cấp xã đều được giữ ngạch chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp, thực tế
công chức xã chỉ có ngạch chuyên viên, cán sự và nhân viên. Còn nếu xác định
theo vị trí việc làm thì cần phải có những quy định cụ thể để đảm bảo công chức
trong nền công vụ ở vị trí việc làm nào cũng được quản lý và sử dụng thống nhất.
Hoặc cần sớm nghiên cứu ban hành và thực hiện chính sách liên thông nguồn nhân
lực khu vực công với khu vực tư để thực hiện biệt phái công chức sang làm việc ở
khu vực tư và ngược lại.
Kết luận
Công chức là một vấn
đề quan trọng trong hoạt động của mọi Nhà nước, đặc biệt là trong điều kiện quốc
tế hoá lực lượng sản xuất. Khi mà các chính sách xã hội đã tương đối phù hợp với
thực tiễn thì điều kiện quyết định thành công hay thất bại là do công tác phát
triển nguồn nhân lực. Ngày nay trong bối cảnh cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy
trong kỷ nguyên mới, việc giải quyết tốt công tác phát triển nguồn nhân lực vẫn là khâu then chốt, quyết định
sự phát triển bền vững của xã hội, việc hoàn thiện pháp luật về tuyển dụng công
chức càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết, tạo cơ sở pháp lý xây dựng thành công nền
công vụ liên thông, thống nhất, chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động và thực
tài, đáp ứng yêu cầu phục vụ Nhân dân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập
4, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H.
2. Quốc hội, Luật Cán bộ, công chức
năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên
chức năm 2019.
3. Bộ Nội vụ, Báo
cáo Tổng kết Luật Cán bộ, công chức từ năm 2008 sửa đổi, bổ sung
năm 2019.
4. Bộ Nội vụ, Báo cáo gửi Đại biểu Quốc
hội tại Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV.
5. Ban Chấp hành
Trung ương khóa XII, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 về tập trung
xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực
và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự
thật, Hà Nội.
Nguyễn Thị Hồng Hải,
“Một số vấn đề về đổi mới tuyển dụng công chức ở Việt Nam”, Tạp chí Tổ chức
nhà nước, tháng 02/2017.