Xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam - một số vấn đề đặt ra
Tóm tắt: Xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng là việc áp dụng các biện pháp chế tài đối với hành vi vi phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Đây là một khâu quan trọng trong công tác phòng, chống tham nhũng, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Bài viết tập trung phân tích các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng và đánh giá thực tiễn áp dụng tại Việt Nam thời gian qua. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ những bất cập, hạn chế và nguyên nhân phát sinh trong quá trình thực thi pháp luật. Từ những phân tích này, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế xử lý vi phạm, tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, góp phần nâng cao năng lực quản trị và xây dựng nền hành chính minh bạch, liêm chính trong thời gian tới.
Từ khóa: Xử lý vi phạm; pháp luật về
phòng, chống tham nhũng; thực trạng; giải pháp.
Abstract: The handling legal violations in
anti-corruption refers to the act of competent agencies, organizations, and
individuals applying prescribed legal sanctions to violations, following
established legal procedures to determine the acts of violations, as well as
the nature and extent of those legal violations. From there, the article
provides some assessments of the results of handling legal violations in
anti-corruption, serving as a basis for proposing solutions to ensure the
effective handling of legal violations in anti- corruption in Vietnam in the
coming time.
Keywords: Handling legal violations; anti-corruption
law; current situation solutions.
Ngày nhận bài: 25/03/2025; Ngày sửa
bài: 10/4/2025; Ngày duyệt đăng bài: 08/5/2025.
1. Quy định pháp luật về xử lý tham nhũng
Hiện nay, quy định về
xử lý hành vi tham nhũng được ghi nhận trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật,
tiêu biểu gồm: Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; Bộ luật Hình sự năm 2015
(được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật Viên chức
năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/9/2020
của Chính phủ về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức...
1.1. Quy định của Luật phòng, chống
tham nhũng về xử lý tham nhũng
Luật Phòng, chống
tham nhũng năm 2018 quy định rõ hành vi tham nhũng xảy ra trong cả khu vực nhà
nước và khu vực ngoài nhà nước. Trong khu vực nhà nước, hành vi tham nhũng do
người có chức vụ, quyền hạn thực hiện bao gồm: tham ô tài sản, nhận hối lộ, lạm
dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản, lợi dụng chức vụ để trục lợi, lạm
quyền vì vụ lợi, giả mạo trong công tác vì vụ lợi, nhũng nhiễu, bao che cho
hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi, cản trở hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm
tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật,...
Đối với khu vực ngoài
nhà nước, hành vi tham nhũng bao gồm: tham ô tài sản, nhận hối lộ, đưa hối lộ,
môi giới hối lộ nhằm giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức vì vụ lợi.Về
nguyên tắc xử lý, Điều 92 và Điều 93 quy định mọi cá nhân có hành vi tham
nhũng, dù đang đương chức hay đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác đều phải
bị xử lý nghiêm minh. Người đứng đầu hoặc cấp phó nếu có hành vi tham nhũng hoặc
để xảy ra tham nhũng sẽ bị xem xét áp dụng hình thức kỷ luật nghiêm khắc hơn.
Ngoài ra, Điều 94 và Điều 95 quy định việc xử lý các hành vi khác vi phạm pháp
luật về phòng, chống tham nhũng đối với cả khu vực nhà nước và ngoài nhà nước.
Các đối tượng vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc
bị xử lý theo điều lệ, quy định của tổ chức chính trị - xã hội mà họ là thành
viên.
Để cụ thể hóa Luật,
Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2019/NĐ-CP, trong đó quy định chi tiết các
biện pháp xử lý: tạm đình chỉ công tác, điều chuyển vị trí đối với người có dấu
hiệu vi phạm (Chương VI); xử lý trách nhiệm người đứng đầu, cấp phó khi để xảy
ra tham nhũng (Chương X); và xử lý vi phạm trong các lĩnh vực như công khai,
minh bạch (Điều 81), chế độ - định mức - tiêu chuẩn (Điều 82), quy tắc ứng xử
(Điều 83), xung đột lợi ích (Điều 84), báo cáo về hành vi tham nhũng (Điều 85),
và vi phạm trong khu vực ngoài nhà nước (Điều 87).
1.2. Quy định của Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 2015 về xử lý tham nhũng
Bộ luật Hình sự số
100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14
(sau đây gọi là BLHS năm 2015) đã kế thừa Bộ luật Hình sự năm 1999 đồng thời sửa
đổi, bổ sung nhiều nội dung mới liên quan đến tội tham nhũng. Nhóm tội phạm về
tham nhũng được quy định tại mục 1 Chương XXIII của BLHS năm 2015 gồm 7 điều, từ
Điều 353 đến Điều 359. Đó là các tội: Tội tham ô tài sản; Tội nhận hối lộ; Tội
lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn
trong khi thi hành công vụ; Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ; Tội lợi dụng
chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi và Tội giả mạo
trong công tác.
Ngoài ra, BLHS năm
2015 còn có những quy định liên quan đến một số chính sách xử lý đặc thù đối với
tội phạm tham nhũng. Một số chính sách lớn trong nhóm tội phạm về tham nhũng đã
được sửa đổi, bổ sung cụ thể trong BLHS năm 2015 so với BLHS 1999, phù hợp với
tình hình thực tế hiện nay và yêu cầu của các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên. Tuỳ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của từng tội danh được quy định
trong các điều luật trên mà áp dụng hình phạt khác nhau như tù có thời hạn, tù
chung thân, tử hình, tịch thu tài sản...
1.3. Quy định về các chế tài khác
về xử lý tham nhũng
Theo khoản 2 Điều 92
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, người có hành vi tham nhũng, tùy theo
tính chất, mức độ vi phạm, có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Quy định này áp dụng với mọi đối tượng, kể
cả người đã nghỉ hưu, thôi việc hoặc chuyển công tác.
Về xử phạt hành
chính, Nghị định số 63/2019/NĐ-CP quy định các hình thức gồm cảnh cáo, phạt tiền
và các biện pháp bổ sung như tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm, hoặc áp dụng
biện pháp khắc phục hậu quả. Với cán bộ, đảng viên vi phạm, Quy định số
102-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương quy định rõ mức độ xử lý kỷ luật, bao gồm
khiển trách, cảnh cáo, cách chức hoặc khai trừ khỏi Đảng theo tính chất, hậu quả
hành vi.
Đối với công chức,
viên chức, theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức
năm 2019, người bị kết án về tội tham nhũng sẽ bị buộc thôi việc; nếu giữ chức
vụ lãnh đạo, quản lý thì đương nhiên thôi chức. Nghị định số 112/2020/ NĐ-CP
quy định chi tiết các hình thức xử lý kỷ luật, từ khiển trách đến buộc thôi việc,
căn cứ vào mức độ tái phạm và tính chất nghiêm trọng của hành vi tham nhũng.
Ngoài ra, Nghị định số 59/2019/NĐ-CP xác định trách nhiệm của người đứng đầu, cấp
phó nếu để xảy ra tham nhũng tại cơ quan, đơn vị mình quản lý, với hình thức kỷ
luật từ khiển trách đến cách chức.
Như vậy, hệ thống chế
tài xử lý hành vi tham nhũng được xây dựng toàn diện, bảo đảm tính răn đe và
phòng ngừa, áp dụng tương ứng với từng chủ thể và mức độ vi phạm.
2. Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt
Nam
2.1. Kết quả xử lý
Theo số liệu do Tổ chức
Minh bạch thế giới (TI) công bố, chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Việt Nam
trong những năm gần đây đã tăng lên, thể hiện một chỉ báo tích cực đối với các
nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN).
Hiện nay, so với Singapore và Trung Quốc, Việt Nam có chỉ số trong sạch tham
nhũng ở mức thấp nhất, xếp 34 bậc sau Trung Quốc và 106 bậc so với Singapore
trên Bảng xếp hạng chỉ số cảm nhận tham nhũng toàn cầu năm 2016. So với kết quả
đánh giá từ các năm về trước, điểm số của Việt Nam tăng nhẹ (2 điểm so với mức
điểm 31/100, trong suốt các năm từ 2012 đến 2015), Tổ chức minh bạch quốc tế
tin rằng đây là một dấu hiệu đáng mừng đối với những nỗ lực chống tham nhũng của
Nhà nước và xã hội. Mặc dù vậy, so với các quốc gia phát triển trong khu vực, với
số điểm 33/100, Việt Nam chưa tạo ra được sự thay đổi mang tính đột phá trong cảm
nhận về tham nhũng trong khu vực công và tiếp tục nằm trong nhóm các nước mà
tham nhũng được cho là nghiêm trọng[1]. Kết quả này
cũng phản ánh chính xác mức độ hiệu quả trong việc thực hiện pháp luật về xử lý
phòng chống tham nhũng tại nước ta hiện nay.
Theo số liệu trong nước,
tại tổng kết về công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong nhiệm kỳ đại hội
XII của Đảng cho thấy, có đến hơn 87 nghìn đảng viên bị kỷ luật, trong đó vi phạm
chủ yếu là nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc, những điều đảng
viên không được làm, tham nhũng, tiêu cực, buông lỏng lãnh đạo, cố ý làm trái.
Kết quả cũng cho thấy, có đến 113 cán bộ cao cấp diện trung ương quản lý bị kỷ
luật (tăng hơn 10 lần so với nhiệm kỳ đại hội XI - chỉ xử lý 11 trường hợp cán
bộ thuộc diện trung ương quản lý). Thanh tra chính phủ và thanh tra chuyên
ngành đã chuyển cơ quan điều tra xem xét, xử lý gần 450 vụ, hơn 600 đối tượng.
Kiểm toán nhà nước đã chuyển gần 20 vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan
điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật. Từ năm 2013-2020, các cơ quan tiến
hành tố tụng trung ương và địa phương đã khởi tố, điều tra 14.300 vụ/24.410 bị
can, xét xử sơ thẩm hơn 11.700 vụ/22.600 bị cáo về tham nhũng, kinh tế, chức vụ.
Riêng ban chỉ đạo đã đưa hơn 800 vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng,
phức tạp, dư luận xã hội quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo.
Năm 2019 các cơ quan
có thẩm quyền đã phát hiện và xử lý nhiều hành vi tham nhũng, theo đó: Cơ quan
điều tra trong Công an Nhân dân đã thụ lý điều tra 423 vụ án, 1.073 bị can phạm
tội về tham nhũng; Viện Kiểm sát các cấp đã truy tố 300 vụ/672 bị can; Cơ quan
điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao khởi tố mới 12 vụ/16 bị can về tội danh
tham nhũng xảy ra trong hoạt động tư pháp; Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý
theo thủ tục sơ thẩm 410 vụ/976 bị cáo về các tội danh tham nhũng, đã xét xử sơ
thẩm 279 vụ, 614 bị cáo. Tỷ lệ bị cáo được hưởng án treo, cải tạo không giam giữ
là 23,2%. Có 10 bị cáo bị tuyên phạt mức án tử hình, tù chung thân.
Năm 2020, các cơ quan
có thẩm quyền tiếp tục phát hiện và xử lý thêm nhiều hành vi tham nhũng, cụ thể:
Các Cơ quan điều tra trong Công an Nhân dân đã thụ lý điều tra 531 vụ án, 1.245
bị can phạm tội về tham nhũng; Cơ quan điều tra trong Quân đội Nhân dân đã khởi
tố điều tra: 04 vụ/04 bị can; Viện Kiểm sát Nhân dân các cấp thụ lý kiểm sát điều
tra 845 vụ/1596 bị can. Đã giải quyết 390 vụ/827 bị can, tỷ lệ giải quyết đạt
46,1%. Đã thụ lý giải quyết là 350 vụ/962 bị can; đã giải quyết 246 vụ/692 bị
can; Tòa án Nhân dân các cấp đã thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 436 vụ với 1.175 bị
cáo; đã xét xử sơ thẩm 269 vụ, 645 bị cáo phạm các tội tham nhũng, trong đó có
08 bị cáo bị tuyên phạt tù chung thân hoặc tử hình; xét xử phúc thẩm 158 vụ,
326 bị cáo.
Năm 2021: Các Cơ quan
điều tra trong Công an Nhân dân đã thụ lý điều tra 582 vụ án, 1.262 bị can phạm
tội về tham nhũng; trong đó khởi tố mới 310 vụ, 665 bị can (tăng 20 vụ, 49 bị
can so với kỳ báo cáo năm trước). Đã kết luận điều tra và đề nghị truy tố 305 vụ,
804 bị can; tạm đình chỉ điều tra 37 vụ, 58 bị can; đình chỉ điều tra 04 vụ, 03
bị can; xử lý khác (thay đổi tội danh, nhập vụ án...) 10 vụ, 13 bị can; hiện
đang điều tra 226 vụ, 384 bị can. Thiệt hại trong các vụ án thụ lý: trên 800 tỷ
đồng, 398.643,83 m2 đất, 21 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Công tác thực hành
quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố: Viện Kiểm
sát Nhân dân các cấp thụ lý giải quyết 402 vụ/1.222 bị can, trong đó án mới 369
vụ/1100 bị can (tăng 29 vụ/363 bị can tương đương 8,2% so với cùng kỳ năm
2020); đã giải quyết 330 vụ/989 bị can (đạt 82%, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm
2020). Trong đó: Truy tố 329 vụ/983 bị can (chiếm 99,6% tổng số án đã giải quyết);
đình chỉ 01 vụ/06 bị can. Hiện đang giải quyết 72 vụ/233 bị can.
Tòa án Nhân dân các cấp
đã thụ lý 415 vụ với 1.163 bị cáo; đã xét xử sơ thẩm 254 vụ với 631 bị cáo về
các tội tham nhũng (so với cùng kỳ năm trước thụ lý giảm 21vụ và 12 bị cáo, xét
xử giảm 15 vụ và 14 bị cáo). Trong số 631 bị cáo phạm tội tham nhũng đã xét xử,
các Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt tù chung thân 06 bị cáo; xử phạt tù từ
trên 15 năm đến 20 năm đối với 22 bị cáo. Trong những năm gần đây, điểm nổi bật
là, đã khởi tố mới nhiều vụ án lớn, mở rộng điều tra, khởi tố thêm nhiều bị can
là cán bộ cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, sĩ quan cấp tướng trong lực lượng
vũ trang (Có 10 cán bộ diện Trung ương quản lý - Trong nhiệm kỳ XII, có 19 cán
bộ diện Trung ương quản lý bị xử lý hình sự). Trong đó, tập trung điều tra, xử
lý nghiêm nhiều vụ án, vụ việc tiêu cực xảy ra trong lĩnh vực giáo dục, y tế,
và mới đây nhất là Vụ án vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng;
đưa hối lộ, nhận hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
xảy ra tại Công ty Việt Á, CDC Hải Dương, các đơn vị, địa phương liên quan. Đây
là vụ án đặc biệt nghiêm trọng, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, địa
phương, dư luận đặc biệt quan tâm, và yêu cầu khẩn trương điều tra làm rõ để xử
lý nghiêm. Thường trực Ban Chỉ đạo đã có văn bản chỉ đạo cụ thể về vấn đề này.
Kết quả công tác thi hành án liên quan đến việc thu hồi tài sản tham nhũng,
kinh tế: Số việc phải thi hành 4.799 việc; số việc có điều kiện đang được tổ chức
thi hành là 3.691 việc; đã thi hành xong 2.697 việc. Tổng số tiền phải thi hành
trên 72 nghìn tỷ đồng; đang tổ chức thi hành trên 34 nghìn tỷ đồng; đã thu được
trên 4 nghìn tỷ đồng.
2.2. Đánh giá thực trạng xử lý vi
phạm
Hơn một thập kỷ kể từ
khi Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 162-QĐ/TW về thành lập Ban Chỉ đạo
Trung ương về phòng, chống tham nhũng, công tác này tại Việt Nam đã đạt được
nhiều chuyển biến mạnh mẽ và toàn diện. Dưới sự lãnh đạo thống nhất, xuyên suốt
của Đảng, đặc biệt sau Nghị quyết Đại hội XII, công tác phòng, chống tham nhũng
được tổ chức bài bản, quyết liệt, với lộ trình cụ thể, trọng tâm rõ ràng và sự
phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng.
Chiến lược phòng, chống
tham nhũng không chỉ tập trung xử lý vi phạm mà còn đặc biệt nhấn mạnh đến
phòng ngừa, gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hoàn thiện
hệ thống chính trị. Việc triển khai đồng bộ các biện pháp chính trị, pháp luật,
tổ chức, hành chính và hình sự đã tạo hiệu ứng răn đe mạnh mẽ, lan tỏa tích cực
trong xã hội.
Về khía cạnh pháp lý,
Việt Nam đã xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật tương đối hoàn chỉnh điều chỉnh
hành vi tham nhũng, nổi bật là Bộ luật Hình sự, Luật Phòng, chống tham nhũng
năm 2018 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành. Hệ thống pháp luật này không chỉ
làm cơ sở xử lý hình sự mà còn hỗ trợ xử lý kỷ luật Đảng, xử lý hành chính và
thu hồi tài sản tham nhũng. Việc gắn trách nhiệm người đứng đầu trong công tác
phòng, chống tham nhũng được chú trọng, phản ánh sự kết hợp giữa trách nhiệm
chính trị và trách nhiệm pháp lý.
Các cơ quan tiến hành
tố tụng như thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử đã tăng cường phối
hợp với các cơ quan kiểm tra Đảng nhằm phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng
một cách đồng bộ, nghiêm minh, minh bạch. Nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng,
phức tạp đã được xử lý dứt điểm, khẳng định nguyên tắc “không có vùng cấm,
không có ngoại lệ”, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự nghiêm minh của pháp
luật và quyết tâm chính trị của Đảng.
Trong công tác thu hồi
tài sản tham nhũng, các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản được áp
dụng từ giai đoạn điều tra nhằm ngăn chặn tẩu tán tài sản. Đến nay, cơ quan chức
năng đã thu giữ, kê biên, phong tỏa tài sản trên 15.000 tỷ đồng, riêng các vụ
án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương theo dõi đã thu hồi hơn 31.000 tỷ đồng, đạt
khoảng 33% tổng thiệt hại. Vụ án Phan Sào Nam được xem là bước tiến quan trọng
trong hợp tác quốc tế khi Việt Nam thu hồi thành công hơn 2,6 triệu USD và hơn
126 nghìn đô la Singapore từ nước ngoài. Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng tại
các địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực. Đến nay, 100% địa phương đã khởi
tố, xử lý các vụ án tham nhũng. Nhiều địa phương như Đồng Nai, An Giang, Khánh
Hòa, TP. Hồ Chí Minh, Phú Yên, Hà Nội, Sơn La đã chủ động phát hiện và xử lý
nghiêm các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội
quan tâm. Năm 2021, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường kiểm tra, xử
lý nghiêm tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Đã thi hành kỷ luật 223 tổ chức đảng
và 20.257 đảng viên, trong đó có 618 trường hợp vi phạm liên quan tham nhũng, cố
ý làm trái, tăng đáng kể so với năm 2020. Ngành Thanh tra, Kiểm toán tập trung
thanh tra các lĩnh vực có nguy cơ cao về tham nhũng và tiêu cực. Qua thanh tra,
kiểm toán, đã kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính 81.290 tỷ đồng và 811 ha đất;
xử lý hành chính 2.286 tập thể và 6.132 cá nhân, tăng so với năm trước.
Bên cạnh đó, cơ quan
tiến hành tố tụng cũng đã kịp thời cung cấp thông tin, chuyển tài liệu sai phạm
của nhiều cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương
để xem xét, kiểm tra, xử lý theo quy định của Đảng. Việc thực hiện cơ chế này,
vừa nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa bảo đảm sự đồng
bộ, nghiêm minh, kịp thời giữa kỷ luật của Đảng với xử lý hình sự, xử lý kỷ luật
hành chính, đoàn thể đối với cán bộ, đảng viên vi phạm.
Như vậy, có thể nói công
tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam đã đạt nhiều kết quả tích cực, thể
hiện sự quyết tâm chính trị và tính nghiêm minh trong xử lý vi phạm. Việc phối
hợp chặt chẽ giữa các cơ quan và thu hồi tài sản tham nhũng tạo hiệu ứng răn đe
mạnh mẽ. Tuy nhiên, để đảm bảo bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kiểm
soát quyền lực, tăng cường minh bạch và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ phòng,
chống tham nhũng, đồng thời duy trì sự đồng bộ giữa xử lý kỷ luật Đảng và pháp
luật nhà nước.
2.3. Hạn chế và nguyên nhân của hạn
chế
Bên cạnh những kết quả
đạt được, công tác xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt
Nam thời gian qua còn tồn tại nhiều hạn chế:
Thứ nhất, hoạt động phát hiện và xử lý tham nhũng còn biểu hiện né
tránh, nể nang, thiếu quyết liệt. Trách nhiệm cá nhân và vai trò chuyên trách của
cơ quan chức năng chưa được phát huy đầy đủ. Mức lương, chế độ đãi ngộ chưa
tương xứng, làm giảm động lực liêm chính trong đội ngũ cán bộ, công chức. Việc
thực hiện pháp luật về tố cáo tham nhũng chưa thực sự hiệu quả.
Thứ hai, còn tồn tại tâm lý lo ngại việc xử lý nghiêm các hành
vi tham nhũng sẽ ảnh hưởng đến uy tín tổ chức hoặc làm giảm tinh thần đổi mới,
sáng tạo. Giáo dục đạo đức công vụ và xây dựng văn hóa liêm chính chưa được chú
trọng đúng mức.
Thứ ba, cơ chế tự kiểm tra, phát hiện tham nhũng trong nội bộ
nhiều cơ quan, tổ chức còn yếu. Một số vụ việc có dấu hiệu tội phạm được phát
hiện qua thanh tra, kiểm toán nhưng tỷ lệ chuyển cơ quan điều tra
còn thấp. Đáng lo ngại
là ngay trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng vẫn xảy ra tham nhũng. Giai
đoạn 2013-2020, ngành Thanh tra ghi nhận 71 vụ việc tiêu cực với 105 cán bộ,
công chức vi phạm, trong đó có cả thanh tra cấp bộ và tỉnh, cho thấy nguy cơ “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong chính đội ngũ thực thi nhiệm vụ.
Thứ tư, công tác giám định, định giá tài sản và thu hồi tài sản
tham nhũng còn nhiều bất cập. Tài sản thu hồi trong các vụ án tham nhũng còn thấp
so với số bị chiếm đoạt, phần lớn chưa áp dụng kịp thời các biện pháp như kê
biên, phong tỏa tài sản. Việc truy tìm tài sản bị tẩu tán, đặc biệt ra nước
ngoài, gặp nhiều khó khăn do thiếu quy định và cơ chế hiệu quả.
Thứ năm, ở một số địa phương, bộ, ngành, công tác phòng, chống tham
nhũng chưa có chuyển biến rõ nét. Việc phát hiện nhiều vụ án lớn vẫn chủ yếu do
cơ quan điều tra trung ương thực hiện. Trách nhiệm người đứng đầu chưa được xác
lập đầy đủ. Công tác phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan
giám định, định giá tài sản còn hạn chế, ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng giải
quyết các vụ án tham nhũng. Đặc biệt, còn thiếu phát hiện yếu tố vụ lợi, động
cơ tham nhũng tiềm ẩn trong nhiều vụ án kinh tế.
Những hạn chế nêu
trên xuất phát từ nguyên nhân chủ yếu là việc chưa kiểm soát chặt chẽ quyền lực,
đặc biệt trong các cơ quan thực thi nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng; chưa hình
thành đầy đủ cơ chế bảo đảm tính độc lập, khách quan trong xử lý; và còn tồn tại
những khoảng trống pháp lý trong thu hồi tài sản, xử lý cán bộ vi phạm.
Nguyên nhân của những hạn chế
Những tồn tại trong
công tác xử lý tham nhũng xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó đáng chú ý
là:
Thứ nhất, chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng phần lớn là người có
chức vụ, quyền hạn, làm việc trong các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, có điều
kiện tiếp cận và chi phối nguồn lực công. Các hành vi tham nhũng ngày càng tinh
vi, có sự móc nối giữa các cấp, các ngành, giữa khu vực công và khu vực tư. Tham
nhũng không chỉ nhằm trục lợi vật chất mà còn phục vụ lợi ích phi vật chất như
quyền lực, vị trí, ảnh hưởng chính trị, tạo nên các nhóm lợi ích.
Thứ hai, hạn chế trong thể chế quản lý kinh tế - xã hội và
phòng, chống tham nhũng là nguyên nhân cơ bản. Một số quy định pháp luật còn
thiếu chặt chẽ, đồng bộ, tạo kẽ hở để cán bộ, đảng viên lợi dụng thực hiện hành
vi vi phạm. Quản lý nhà nước trong một số lĩnh vực còn buông lỏng, thiếu kiểm
tra, giám sát thường xuyên, dẫn đến vi phạm không được phát hiện kịp thời.
Thứ ba, công tác thu hồi tài sản tham nhũng chưa hiệu quả do
nhận thức và sự quan tâm của các cấp ủy, cơ quan chức năng còn hạn chế. Hầu hết
địa phương chưa có chỉ đạo cụ thể về công tác này. Việc kiểm tra, giám sát thu
hồi tài sản chủ yếu được lồng ghép trong hoạt động điều tra, xét xử, thi hành
án, thiếu tính chủ động. Các quy định pháp luật liên quan còn mang tính nguyên
tắc, chưa rõ ràng về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp, dẫn đến lúng túng
trong thực hiện.
Thứ tư, việc kiểm soát quyền lực còn thiếu cơ chế hữu hiệu. Dù kiểm
soát quyền lực là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhưng
trong thực tiễn, cơ chế giám sát quyền lực vẫn phụ thuộc nhiều vào sự tự giác,
chuẩn mực đạo đức cá nhân của người có chức vụ, quyền hạn. Trong khi đó, đời sống
cán bộ, công chức còn nhiều khó khăn, dễ bị tác động bởi lợi ích vật chất. Cơ
chế kiểm tra, giám sát trách nhiệm công vụ chưa phát huy đầy đủ hiệu quả, chưa
tạo được rào cản đủ mạnh đối với hành vi lạm dụng quyền lực.
Tổng thể, nguyên nhân
của những hạn chế nêu trên phản ánh sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế, tăng
cường kiểm soát quyền lực, nâng cao năng lực phát hiện và xử lý vi phạm, cũng
như đổi mới cách tiếp cận trong công tác phòng, chống tham nhũng theo hướng thực
chất, toàn diện và hiệu quả hơn.
3. Giải pháp bảo đảm xử lý vi phạm pháp luật phòng, chống tham nhũng
3.1. Giải pháp về xử lý vi phạm
pháp luật phòng, chống tham nhũng
Thứ nhất, để nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp luật trong phòng,
chống tham nhũng, trước hết cần thống nhất nhận thức và khẳng định quyết tâm
chính trị từ cấp lãnh đạo đến cán bộ, công chức. Việc tuyên truyền, đào tạo nhằm
nâng cao ý thức về liêm chính trong hoạt động công vụ là nền tảng quan trọng để
xây dựng hệ thống công quyền trong sạch, vững mạnh.
Thứ hai, công tác phát hiện, xử lý vi phạm phải được thực hiện kịp
thời, nghiêm minh thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán,
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Nguyên tắc “không có vùng cấm, không
có ngoại lệ” cần được bảo đảm tuyệt đối, đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt quy
trình tố tụng và quyền con người.
Thứ ba, đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử là yêu cầu
cấp thiết nhằm khắc phục những vướng mắc, chậm trễ hiện nay. Việc áp dụng biện
pháp ngăn chặn như kê biên, phong tỏa tài sản cần được thực hiện đồng bộ và kịp
thời ngay từ giai đoạn thanh tra, kiểm toán, điều tra, nhằm bảo đảm khả năng
thi hành án và thu hồi tài sản tham nhũng.
Thứ tư, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan thanh tra, kiểm sát
và thi hành án phải được tăng cường để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong
phát hiện và xử lý vi phạm, đồng thời hạn chế tối đa sai sót trong quá trình
thi hành án.
Thứ năm, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực bằng
cơ chế minh bạch, rõ trách nhiệm và giám sát chặt chẽ, nhất là trong các lĩnh vực
dễ phát sinh tham nhũng. Cơ chế này phải bao gồm kiểm soát nội bộ, kiểm soát lẫn
nhau và kiểm soát xã hội, tạo thành hệ thống ràng buộc quyền lực hiệu quả, góp
phần phòng ngừa và ngăn chặn hành vi lạm quyền, vi phạm pháp luật.
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp
luật về xử lý vi phạm luật phòng chống tham nhũng
Thứ nhất, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định
về thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án hình sự về tham
nhũng, kinh tế, nhất là pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự, dân sự, thi hành
án dân sự, tố tụng dân sự, phá sản, giá, giám định, định giá, tín dụng, ngân
hàng, xử lý nợ xấu, đăng ký tài sản, đấu giá tài sản công… đảm bảo thống nhất,
đồng bộ, tránh chồng chéo để nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản trong các vụ án
tham nhũng, kinh tế.
Thứ hai, hoàn thiện các quy định về công khai, minh bạch của
các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đồng thời có biện pháp tăng cường chế độ kiểm
soát và chế tài đối với các trường hợp không chấp hành nghiêm quy định về công
khai, minh bạch. Theo đó, cần bổ sung các quy định về công khai, minh bạch quá
trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, cần bổ sung
quy định về công khai, minh bạch quá trình ra quyết định giải quyết một vụ việc
cụ thể của cơ quan nhà nước ở tất cả các cấp chính quyền và các cơ quan quản
lý, nhất là các quyết định liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của công dân và
doanh nghiệp.
Thứ ba, cần hoàn thiện quy định về tổ chức và hoạt động của
các cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng theo hướng bảo đảm tính hệ thống,
hiệu quả và độc lập. Thiết lập cơ chế giám sát đa chiều, gồm giám sát nội bộ và
giám sát xã hội, nhằm phát hiện hành vi bao che, thiếu trách nhiệm hoặc tham
nhũng trong nội bộ. Đồng thời, quy định rõ tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức
làm công tác phòng, chống tham nhũng. Cần nghiên cứu áp dụng các biện pháp đặc
biệt trong thanh tra, kiểm tra, điều tra để nâng cao hiệu quả xử lý. Bên cạnh
đó, xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan như Thanh tra, Kiểm
toán, Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án; làm rõ nội dung, hình thức, phương thức
phối hợp để bảo đảm xử lý tham nhũng một cách đồng bộ và hiệu quả.
Thứ tư, cần hoàn thiện quy định pháp luật về thống kê, đo lường và
đánh giá thực trạng tham nhũng cũng như hiệu quả công tác phòng, chống tham
nhũng theo các chuẩn mực khoa học, đảm bảo các tiêu chí đánh giá vừa dễ định lượng, vừa phản ánh chính xác thực tiễn.
Quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong việc tổ chức
thu thập, phân tích, theo dõi và công khai kết quả xử lý tham nhũng. Đồng thời,
cần tăng cường sự tham gia, giám sát của xã hội dân sự, báo chí và cộng đồng nhằm
bảo đảm tính khách quan, minh bạch trong công tác đánh giá, góp phần nâng cao
hiệu quả phòng, chống tham nhũng. Việc này không chỉ củng cố niềm tin của Nhân
dân vào quá trình xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng mà còn tạo
cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác hoàn thiện chính sách, pháp luật liên
quan.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo Chính phủ
công tác phòng, chống tham nhũng năm 2019.
2. Báo cáo Chính phủ
công tác phòng, chống tham nhũng năm 2020.
3. Báo cáo Chính phủ
công tác phòng, chống tham nhũng năm 2021.
4. Ban Nội chính tỉnh
uỷ Phú Yên (2022), Xử lý nghiêm tham nhũng, tiêu cực, tạo bước chuyển mới
cho công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian tới, http://www.noichinhphuyen.
vn/phong-chong-tham-nhung/xu-ly- nghiem-tham-nhung-tieu-cuc-tao-buoc-
chuyen-moi-cho-cong-tac-dau-tranh- phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-thoi-
gian-toi-891.html.
5. Ban Nội chính Trung
ương (2022), Thách thức và giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở
nước ta hiện nay, https:// noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/202202/
thach-thuc-va-giai-phap-phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-o-nuoc-ta-hien-
nay-310641/.
6. Cao Văn Thống
(2012), Khắc phục những khuyết điểm, hạn chế trong công tác phòng, chống
tham nhũng, http://www. tapchicongsan.org.vn/Home/Phong-chong-
tham-nhung/2012/16902 /Khac-phuc- nhung-khuyet diem - han - che - trong - cong
- tac - phong - chong.aspx.
7. Hoàng Đức Hùng,
Huy Trần, Thanh tra Chính phủ (2022), Chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức
và hành động của cả hệ thống chính trị về phòng, chống tham nhũng, https://ttt.hanam.gov.vn/Pages/ chuyen-bien-manh-me-trong-nhan-thuc-
va-hanh-dong-cua-ca-he-thong-chinh- tri-ve-phong-chong-tham-nhung.aspx.
8. Nguyễn Xuân Trường,
Trang thông tin Ban Nội chính trung ương (2022), Thách thức và giải pháp
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay, link truy cập: https://noichinh.vn/nghien-
cuu-trao-doi/202202/thach-thuc-va-giai- phap-phong-chong-tham-nhung-tieu-cuc-
o-nuoc-ta-hien-nay-310641/.
9. Nghị định số
63/2019/NĐ-CP ngày 11/7/2019 về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực quản lý, sử dụng tài sản công; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ
quốc gia; kho bạc nhà nước.
10. Tổ chức Minh bạch
Quốc tế (TI) (2021), Chỉ số CPI 2020: Cần tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống
tham nhũng quyết liệt để đạt hiệu quả rõ nét hơn ở Việt Nam, https://towardstransparency.org/cpi-2020-
chi-so-tham-nhung-viet-nam/.
11. Văn bản số
7071/VKSNDTC-V5 ngày 12/10/2021 của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao.