Đánh giá biến động giá trị dịch vụ hệ sinh thái vùng cửa sông Thu Bồn, thành phố Đà Nẵng
Bản tin tóm tắt lại nghiên cứu được đăng tải trên Tạp chí Nghiên cứu Địa lý nhân văn, số 1(42) - Tháng 3/2024 với tiêu đề “Đánh giá biến động giá trị dịch vụ hệ sinh thái vùng cửa sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam”. Chi tiết xin tìm đọc tại tạp chí số 1 (42) - Tháng 3/2024
1. Đặt vấn đề
Dịch vụ hệ sinh thái
(DVHST) là “những lợi ích thu nhận được từ các hệ sinh thái” (Millennium
Ecosystem Assessment, 2005), gồm dịch vụ cung cấp, dịch vụ điều tiết, dịch vụ
văn hóa và dịch vụ hỗ trợ. Tại vùng cửa sông (VCS), nơi có môi trường sinh học
đa dạng, các hệ sinh thái cung cấp nhiều DVHST quan trọng. Nguồn tài
nguyên VCS đã tạo điều kiện cho việc mở rộng đô thị và phát triển các hoạt
động du lịch, văn hóa góp phần hỗ trợ sinh kế cho khoảng 2/3
dân số Việt Nam. Tuy nhiên, VCS là khu vực nhạy cảm, chịu nhiều áp lực và rủi
ro thiên tai từ hoạt động phát triển kinh tế [1], không chỉ dưới hạ nguồn,
mà còn trên thượng lưu các con sông dẫn đến suy giảm tài nguyên và chất lượng hệ
sinh thái (HST).
VCS Thu Bồn thuộc
thành phố Đà Nẵng (tỉnh Quảng Nam cũ) là vùng đất ngập nước rộng lớn, khí
hậu, môi trường thuận lợi nên HST đa dạng. Khu vực có giá trị nổi bật về tự
nhiên và văn hóa, gắn với Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Hội An (năm
2009), các HST đóng vai trò thiết yếu đối với sinh kế và phát triển du lịch.
Tuy nhiên, khu vực này đang đối mặt với nhiều thách thức như lũ lụt, xói lở bờ
biển, đô thị hóa nhanh và suy giảm diện tích HST đất ngập nước. Chỉ trong vòng
12 năm (từ 2004 đến 2016), diện tích HST đất ngập nước trong khu dự trữ sinh
quyển bị mất khoảng 112,5ha (gồm 77,1ha rừng dừa nước, 34,6ha thảm cỏ biển và
0,8ha rạn san hô) [2]. Những biến động này làm suy giảm cấu trúc, chức
năng của HST, kéo theo sự suy giảm tính toàn vẹn của HST cửa sông Thu Bồn và
giá trị DVHST bị thay đổi và suy giảm chất lượng.
Việc đánh giá DVHST
đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ ra quyết định, lựa chọn các phương án đánh
đổi (trade-offs); mô hình hóa các kịch bản tương lai... Thực tế tầm quan trọng
của các DVHST ít được biết đến hoặc bị đánh giá thấp trong các quyết định chính
trị [3]. Các nghiên cứu còn thiếu tính tổng hợp và chưa làm rõ mối
liên kết cũng như sự đánh đổi giữa các loại DVHST. Trong bối cảnh đó, mô
hình Bayesian Belief Network (BBN) là công cụ tiềm năng giúp mô tả,
phân tích, dự đoán và định giá DVHST, hỗ trợ quyết định quy hoạch không gian và
dự đoán tính dễ bị tổn thương của HST trước những thay đổi về áp lực của con
người. Mô hình BBN cũng có thể được áp dụng cho nhiều HST, khu vực khác nhau,
được sử dụng bởi nhiều đối tượng, có sự tham gia và đánh giá của các bên liên
quan.
Do đó, nghiên cứu hướng
tới đánh giá tổng hợp DVHST VCS Thu Bồn thông qua mô hình BBN, nhằm làm rõ mối
quan hệ và sự đánh đổi giữa phát triển kinh tế và bảo tồn HST, từ đó cung cấp
cơ sở khoa học cho xây dựng chính sách và quản lý bền vững.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng mô
hình BBN – một công cụ dựa trên xác suất theo định lý Bayes, có khả năng mô tả
các mối quan hệ nhân quả phức tạp trong hệ thống tự nhiên và xã hội. Cấu trúc
BBN gồm hai thành phần chính: (i) đồ thị có hướng không chu trình (DAG) thể hiện
mối quan hệ giữa các biến và (ii) bảng xác suất có điều kiện (CPTs) biểu thị mức
độ liên kết giữa các biến [4].
Để xây dựng mô hình,
nghiên cứu xác định các nút là các loại DVHST, tổng hợp từ các tài liệu trước
đó, gồm 17 loại hình thuộc ba nhóm: cung cấp, điều tiết và văn hóa. Ma trận
đánh giá DVHST được xây dựng thông qua phương pháp Delphi với sự tham gia của
21 chuyên gia trong và ngoài nước, thuộc nhiều lĩnh vực như sinh thái, nông
nghiệp, lâm nghiệp, địa mạo và khoa học xã hội. Quá trình Delphi được thực hiện
lặp lại cho đến khi đạt được sự đồng thuận, qua đó chuẩn hóa và hiệu chỉnh các
giá trị đánh giá.
Các chỉ thị DVHST được
lượng hóa trên thang điểm 0–100, chia thành 5 cấp độ phản ánh khả năng cung cấp
dịch vụ của các HST. Phương pháp này cho phép giảm thiểu sự không đồng nhất dữ
liệu và hỗ trợ tích hợp với GIS để xây dựng bản đồ và kịch bản đánh giá DVHST.
Giá trị DVHST của từng
loại hình sử dụng đất được tính theo công thức: DVHST = ∑Wi × Sj, trong đó Wi
là trọng số tiềm năng cung cấp dịch vụ và Sj là diện tích loại hình sử dụng đất.
Tổng giá trị DVHST của khu vực nghiên cứu được xác định bằng tổng các giá trị
thành phần.
Bảng 1. Bảng ma
trận đánh giá khả năng cung cấp các DVHST vùng cửa sông Thu Bồn

3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Xu hướng biến đổi loại hình sử dụng đất vùng cửa sông Thu Bồn
Ranh giới VCS Thu Bồn
thuộc vùng hạ lưu của dòng sông Thu Bồn nơi dòng nước đổ ra biển Đông tại cửa Đại.
Về mặt hành chính, khu vực nghiên cứu bao gồm các đơn vị là phường Hội An, Hội
An Đông, xã Duy Nghĩa và phần phía đông xã Nam Phước. Về mặt không gian, khu vực
nghiên cứu được xác định từ vùng hạ lưu sông Thu Bồn nơi dòng sông phân thành
nhiều nhánh nhỏ và uốn khúc ra biển 3km đến độ sâu -6m (ranh giới của vùng đất
ngập nước).
Nghiên cứu đánh giá
xu hướng biến đổi sử dụng đất trong vòng 30 năm từ năm 1991 đến năm 2020. Các
loại hình sử dụng đất được xét đến thay cho các HST vì nghiên cứu hướng đến mục
tiêu đánh giá được những tác động trực tiếp và gián tiếp của con người thông
qua các hoạt động canh tác, kinh tế - xã hội trên loại hình sử dụng đất khai
thác tài nguyên. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu ảnh Worldview-2 từ Google Earth Pro
để xác định các loại hình lớp phủ trong 5 năm gần nhất và dữ liệu ALOS có độ
phân giải không gian 30m xác định lớp phủ trong 30 năm.
Kết quả cho thấy, đầu
thập niên 1990, dân cư chủ yếu phân bố ven biển và dọc sông Thu Bồn; đến năm
2020, mật độ dân cư tăng mạnh quanh khu vực phố cổ Hội An và mở rộng ra dải ven
biển phục vụ phát triển du lịch. Đất nông nghiệp được quy hoạch tập trung hơn tại
các bãi nổi ven sông. Khu vực ven biển có xu hướng xói lở mạnh, đường bờ dịch
chuyển vào đất liền và lệch về phía nam cửa sông, làm gia tăng diện tích đất ngập
nước. Hệ thống sông hạ lưu có sự thay đổi rõ rệt: từ mạng lưới nhiều nhánh nhỏ
chuyển dần sang dòng chính lớn hơn, kèm theo hiện tượng xói lở – bồi tụ diễn ra
trên diện rộng. Các bãi bồi, đảo cát có xu hướng dịch chuyển về phía cửa sông
và ngày càng được con người khai thác cho mục đích cư trú, canh tác và nuôi trồng.
Về hệ sinh thái, rừng dừa nước Cẩm Thanh được duy trì ổn định, trong khi rừng
phòng hộ ven biển phát triển nhưng độ che phủ còn hạn chế. Loại hình ít bị biến
đổi nhất là đất cằn cỗi/đất trống, chủ yếu là đất cát khó canh tác và lớp phủ hầu
như không có thực vật.
3.2. Chỉ thị và ma trận đánh giá dịch vụ hệ sinh thái vùng cửa sông Thu
Bồn
Trong nghiên cứu ứng dụng mô hình BBN, việc xây dựng hệ thống
chỉ thị đánh giá DVHST đóng vai trò then chốt. Dựa trên hệ thống phân loại của
Common International Classification of Ecosystem Services (CICES), đặc điểm khu
vực nghiên cứu và tổng hợp các tài liệu trước đây, nghiên cứu xác định 17 loại
hình DVHST thuộc ba nhóm: cung cấp, điều tiết và văn hóa.
Nhóm DVHST cung cấp gồm
5 loại hình, được đánh giá dựa trên khả năng cung ứng của HST thông qua các số
liệu thống kê và khảo sát thực địa. Nhóm DVHST điều tiết gồm 6 loại hình, phản
ánh chức năng điều hòa môi trường, giảm thiểu rủi ro thiên tai và duy HST. Nhóm
DVHST văn hóa gồm 6 loại hình, được đánh giá thông qua các lợi ích phi vật chất
như du lịch, cảnh quan và giá trị văn hóa – xã hội dựa trên số liệu thống kê và
điều tra thực tế.
Các DVHST có mối quan
hệ chặt chẽ với điều kiện tự nhiên (lớp phủ đất, thủy văn, khí hậu, địa hình)
và tương tác lẫn nhau cả trong và giữa các nhóm dịch vụ. Trên cơ sở ma trận
đánh giá, dữ liệu được mã hóa và xây dựng thành mạng lưới BBN mô tả mối liên kết
giữa 17 loại hình DVHST. Kết quả cho thấy các DVHST điều tiết thường đóng vai
trò nút gốc, chi phối đến các DVHST cung cấp và văn hóa thông qua các mối quan
hệ nhân quả trong mô hình.
3.3. Giá trị dịch vụ hệ sinh thái
Giá trị DVHST trong
giai đoạn 1991–2020 phản ánh xu hướng biến đổi chất lượng HST VCS Thu Bồn. Tổng
giá trị DVHST tương đối ổn định, dao động từ khoảng 627 đến 670 điểm, tuy nhiên
từng nhóm dịch vụ có sự biến động khác nhau.
Tổng giá trị dịch vụ
hệ sinh thái của khu vực cửa sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam
DVHST cung cấp duy
trì mức ổn định trong suốt 30 năm và chiếm tỷ trọng thấp nhất so với các nhóm
còn lại. Sự ổn định này gắn với việc đảm bảo nguồn lương thực quy mô địa
phương, mặc dù có sự chuyển đổi trong sử dụng đất và phương thức sản xuất như
chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản, cây trồng giá trị cao và tình trạng bỏ
hoang đất canh tác tại một số khu vực.
DVHST điều tiết có xu
hướng giảm nhẹ, tương ứng 4,36%, đồng thời biến động không ổn định giữa các
năm. Sự biến động này liên quan đến các tác động của thiên tai như bão, lũ và
xói lở bờ biển, cũng như quá trình đô thị hóa và mở rộng dân cư. Các năm xảy ra
thiên tai lớn (1999, 2006, 2009, 2013, 2017, 2020) thường ghi nhận giá trị tăng
vào năm kế tiếp.
Ngược lại, DVHST văn
hóa có xu hướng tăng. Sự gia tăng này gắn với quá trình phát triển du lịch tại
Hội An, đặc biệt từ sau khi được công nhận là di sản văn hóa thế giới (1999).
Lượng khách du lịch tăng nhanh, từ khoảng 100.000 lượt (1999) lên hơn 7,6 triệu
lượt (2019) [5], kéo theo sự gia tăng cơ sở lưu trú và mở rộng hạ tầng đô thị.
Đồng thời, dân số và diện tích đất đô thị cũng tăng đáng kể, tập trung chủ yếu
tại khu vực ven biển và phố cổ Hội An.
4. Kết luận
Nghiên cứu đã xây dựng
các chỉ thị cho đánh giá giá trị DVHST phù hợp và ứng dụng mô hình Bayesian
Belief Networks. Giá trị DVHST VCS Thu Bồn được mô hình phân tích thông qua mối
tác động tương hỗ giữa các dịch vụ và các nhân tố tự nhiên, xã hội ảnh hưởng tới
khả năng cung cấp các dịch vụ của HST. Dưới tác động của đô thị hóa và tai biến
thiên nhiên trong vòng 30 năm, giá trị DVHST đã có nhiều biến động. Việc phân
phối các loại hình sử dụng đất trong các HST VCS là kết quả rất hữu ích cho các
nhà quản lý, để hiểu giá trị của DVHST khác ở cấp độ khu vực. Qua đó, các nhà
quản lý có thể lựa chọn các chính sách sử dụng đất phù hợp để đạt được sự cân bằng
trong cung cấp DVHST dài hạn.
Tài liệu tham khảo
[1] Allen, J.
S., Lu, K. S., & Potts, T. D. (1999). A GIS-Based analysis and
prediction of Land-Use change in a coastal tourism destination area. World
Congress on Coastal and Marine Tourism., 287–297.
[2] Nguyễn Văn
Long, Tống Phước Hoàng Sơn (2020). Biến động các sinh cư tiêu biểu ở Khu Dự trữ
sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học và
Công nghệ Biển, 21(2), 191-200.
[3] Costanza,
R., D’Arge, R., de Groot, R., Farber, S., Grasso, M., Hannon, B., Limburg, K.,
Naeem, S., O’Neill, R. V., Paruelo, J., Raskin, R. G., Sutton, P., & van
den Belt, M. (1997). The value of the world’s ecosystem services and natural
capital. Nature, 387(6630), 253–260.
[4] Haines-Young,
R. (2011). Exploring ecosystem service issues across diverse knowledge domains
using Bayesian Belief Networks. Progress in Physical Geography, 35(5), 681-699.
[5] Cục
Du lịch quốc gia Việt Nam, 2019. Bản tin: Hơn 4 triệu lượt khách đến Quảng Nam
trong 6 tháng đầu năm 2019, đăng tải ngày 04/7/2019, truy cập ngày 15/4/2026.