Định hướng xây dựng Nghị quyết mới của Trung ương về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới
Tóm tắt: Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, công tác bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên và ứng phó với biến đổi khí hậu ở nước ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, bối cảnh phát triển trong nước và quốc tế đã có nhiều thay đổi sâu sắc. Biến đổi khí hậu tiếp tục diễn biến cực đoan, khó lường; ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học và các rủi ro sinh thái ngày càng gia tăng. Đồng thời, các xu thế chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp, yêu cầu thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 đang đặt ra những yêu cầu mới. Trên cơ sở phân tích bối cảnh phát triển mới, bài viết làm rõ sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; đồng thời đề xuất một số quan điểm, giải pháp lớn phục vụ xây dựng Nghị quyết mới của Trung ương về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

Từ khóa: phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, biến đổi khí hậu, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn

1. Đặt vấn đề

Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), biến đổi khí hậu, suy thoái tài nguyên, ô nhiễm môi trường và suy giảm đa dạng sinh học là những vấn đề lớn, mang tính toàn cầu, đã và đang làm thay đổi các hệ sinh thái tự nhiên, đời sống kinh tế - xã hội trên toàn thế giới, trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 [13]. Bảo vệ môi trường (BVMT), ứng phó với BĐKH có ý nghĩa sống còn, quyết định đến sự phát triển bền vững (PTBV) của mỗi quốc gia, dân tộc [14].

Trên phạm vi toàn cầu, biến đổi khí hậu (BĐKH) tiếp tục gia tăng về cường độ và tần suất, các hiện tượng thời tiết cực đoan diễn ra ngày càng bất thường. Ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học và cạn kiệt tài nguyên là những thách thức lớn. Xu thế quản trị môi trường toàn cầu đang chuyển mạnh từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình quản trị dựa trên khoa học công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi xanh, tăng trưởng theo hướng bền vững. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đã đặt mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, thực hiện chuyển đổi xanh, nhằm đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, từ đó đặt ra yêu cầu phải đổi mới phương thức quản trị [12].

Ở trong nước, bối cảnh phát triển đã có những thay đổi quan trọng. Đất nước bước vào kỷ nguyên mới với mục tiêu tăng trưởng cao, đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô  thị hóa và phát triển hạ tầng, làm gia tăng nhanh áp lực lên môi trường và khí hậu [4].

Tuy nhiên, ô nhiễm môi trường tiếp tục có diễn biến phức tạp, mang tính liên vùng, liên tỉnh. Thiên tai và tác động của BĐKH ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội [5]. Trong khi đó, phương thức quản lý môi trường còn bộc lộ nhiều hạn chế; trách nhiệm của các cấp, các ngành chưa gắn với kết quả chất lượng môi trường. Giữa chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện còn có khoảng cách lớn, một số chính sách thiếu công cụ triển khai hiệu quả [4].

Việt Nam đã tích cực tham gia và cam kết thực hiện nhiều mục tiêu quốc tế quan trọng về BĐKH, đặc biệt là mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, đòi hỏi phải có những thay đổi mạnh mẽ, đồng bộ về thể chế, mô hình phát triển và phương thức quản lý [6].

Trong bối cảnh đó, việc tổng kết thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW, đánh giá đầy đủ những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và những vấn đề mới phát sinh, từ đó nghiên cứu, đề xuất định hướng hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới mà còn là cơ sở để xây dựng tầm nhìn chiến lược dài hạn, nâng cao năng lực chống chịu quốc gia, bảo đảm an ninh môi trường, an ninh sinh thái và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 [4].

Trên cơ sở đó, bài viết tập trung phân tích bối cảnh phát triển mới của đất nước và những vấn đề đặt ra đối với công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; đánh giá những thành tựu và hạn chế sau hơn một thập kỷ thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW; làm rõ các luận cứ cho việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành một nghị quyết mới của Trung ương về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; đồng thời đề xuất một số định hướng lớn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

2. Biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường ảnh hưởng đến phát triển bền vững của Việt Nam

Tổng kết Nghị quyết 24-NQ/TW cho thấy, mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và suy giảm tài nguyên thiên nhiên. Các nguy cơ này không còn là những dự báo cho tương lai xa mà đã và đang tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, an sinh xã hội, chất lượng cuộc sống của người dân cũng như năng lực phát triển bền vững của đất nước [4]. Trong nhiều trường hợp, các vấn đề môi trường và khí hậu đã trở thành những rủi ro phát triển mang tính hệ thống, đòi hỏi phải được nhìn nhận như một bộ phận cấu thành của chiến lược bảo đảm an ninh quốc gia và an ninh phát triển.

Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là tác động ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu [4]. Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Những năm gần đây, các hiện tượng thời tiết cực đoan có xu hướng gia tăng cả về tần suất, cường độ và mức độ thiệt hại. Nhiều đợt nắng nóng kéo dài, hạn hán nghiêm trọng, mưa lớn cực đoan, lũ quét, sạt lở đất, xâm nhập mặn và bão mạnh liên tiếp xảy ra trên phạm vi cả nước, gây tổn thất lớn về người, tài sản và cơ sở hạ tầng.

Ví dụ, cơn bão Yagi năm 2024 được xem là một trong những thiên tai nghiêm trọng nhất trong nhiều thập kỷ gần đây tại khu vực phía Bắc. Mưa lớn kéo dài trên diện rộng đã gây lũ lụt, lũ quét và sạt lở đất tại nhiều địa phương miền núi và trung du Bắc Bộ, làm hàng trăm người chết và mất tích, gây thiệt hại kinh tế rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, sinh kế và đời sống của người dân. Những thiệt hại từ bão Yagi cho thấy mức độ dễ bị tổn thương của hệ thống kinh tế - xã hội trước các hiện tượng khí hậu cực đoan, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm, thích ứng và tăng cường khả năng chống chịu của các cộng đồng dân cư và hệ thống hạ tầng quốc gia [5].

Bên cạnh tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường tiếp tục là một trong những thách thức nổi cộm đối với quá trình phát triển đất nước. Trong những năm gần đây, chất lượng môi trường không khí tại một số đô thị lớn, đặc biệt là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, thường xuyên ở mức không bảo đảm cho sức khỏe cộng đồng vào những thời điểm nhất định trong năm. Nguồn gây ô nhiễm ngày càng đa dạng, bao gồm giao thông, công nghiệp, xây dựng, đốt sinh khối, đốt phụ phẩm nông nghiệp và các hoạt động dân sinh. Ô nhiễm không khí không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân mà còn làm gia tăng chi phí y tế, giảm năng suất lao động và ảnh hưởng đến chất lượng sống tại các đô thị.

Tình trạng ô nhiễm môi trường nước tại nhiều lưu vực sông, khu vực đô thị và làng nghề vẫn diễn biến phức tạp. Nhiều nguồn nước mặt chịu áp lực lớn từ nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp và hoạt động sản xuất nông nghiệp. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt, sản xuất và phát triển kinh tế ngày càng gia tăng, làm xuất hiện nguy cơ mất cân bằng giữa khai thác và bảo vệ tài nguyên nước. Đối với các lưu vực sông liên quốc gia, đặc biệt là hệ thống sông Mê Công và sông Hồng, các tác động từ hoạt động khai thác, sử dụng nước ở thượng nguồn đang đặt ra những thách thức mới đối với an ninh nguồn nước của Việt Nam.

Suy giảm đa dạng sinh học và suy thoái hệ sinh thái tự nhiên cũng đang trở thành vấn đề đáng quan tâm. Mặc dù Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao trên thế giới, song nhiều hệ sinh thái quan trọng như rừng tự nhiên, đất ngập nước, hệ sinh thái ven biển, rạn san hô và thảm cỏ biển đang chịu áp lực ngày càng lớn từ phát triển kinh tế, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác tài nguyên quá mức và tác động của biến đổi khí hậu. Sự suy giảm đa dạng sinh học không chỉ làm mất đi các giá trị tự nhiên mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến các dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và sinh kế của cộng đồng [5].

Cùng với đó, các vấn đề môi trường mới nổi đang ngày càng xuất hiện với tính chất phức tạp hơn. Chất thải nhựa, rác thải đại dương, chất thải điện tử, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm xuyên biên giới và các nguy cơ môi trường liên quan đến quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đang đặt ra nhiều thách thức đối với công tác quản lý nhà nước. Trong khi đó, mô hình sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế vẫn còn phụ thuộc nhiều vào khai thác tài nguyên, tiêu hao năng lượng và phát sinh chất thải, làm gia tăng áp lực đối với môi trường trong dài hạn.

Đáng chú ý, nhiều thách thức môi trường hiện nay không còn mang tính cục bộ hay đơn ngành mà đã trở thành các rủi ro tổng hợp, có khả năng tác động đồng thời đến kinh tế, xã hội, sức khỏe cộng đồng và an ninh quốc gia [4]. Biến đổi khí hậu có thể làm gia tăng các nguy cơ mất an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và an ninh năng lượng; suy thoái hệ sinh thái có thể làm giảm khả năng chống chịu trước thiên tai; ô nhiễm môi trường kéo dài có thể ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Điều này đòi hỏi cách tiếp cận quản trị môi trường phải được nâng lên tầm chiến lược quốc gia, gắn chặt với các mục tiêu phát triển bền vững và bảo đảm an ninh phát triển.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu không chỉ nhằm giảm thiểu các tác động tiêu cực trước mắt mà còn là điều kiện tiên quyết để duy trì tăng trưởng dài hạn, nâng cao chất lượng phát triển và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 [4]. Đây cũng là một trong những căn cứ thực tiễn quan trọng cho việc tiếp tục hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng, xây dựng một tầm nhìn mới về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phù hợp với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.

3. Bối cảnh phát triển mới cần thiết ban hành Nghị quyết mới cho bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu

Hiện nay, Việt Nam tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn; cơ bản đã thoát khỏi tình trạng đói nghèo; đã trở thành nước có thu nhập trung bình. Quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 514 tỷ USD gấp 2,4 lần năm 2013 (~214 tỷ USD); GDP bình quân đầu người ước đạt 5.026 USD tăng 2,1 lần so với năm 2013 (~2.367 USD) [3].

Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên; quy mô, tiềm lực, sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng cao; tính tự chủ của nền kinh tế được cải thiện. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, chất lượng tăng trưởng kinh tế từng bước được cải thiện, cơ cấu kinh tế bước đầu dịch chuyển sang chiều sâu, hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào cho nền kinh tế được cải thiện đáng kể, tăng độ mở nền kinh tế và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn. Khu vực tư nhân đóng góp ngày càng lớn và trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước [3].

Nghị quyết Đại hội XIII, XIV của Đảng đã nêu rõ cần phải chủ động ứng phó hiệu quả với BĐKH, phát triển kinh tế xanh, kinh tế các-bon thấp, giảm nhẹ phát thải KNK; khẳng định tiếp tục thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững, dựa chủ yếu vào khoa học và công nghệ, chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.

Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XIV đã nâng chuẩn nhận thức và hành động về bảo vệ môi trường ở cả ba cấp độ: (i) Lý luận phát triển - môi trường là trụ cột, điều kiện và động lực tăng trưởng; (ii) Thể chế - công cụ - hoàn thiện khung pháp lý kinh tế xanh, thị trường carbon, định giá vốn tự nhiên, số hóa quản trị; (iii) Tổ chức thực thi - gắn trách nhiệm với nguồn lực, tiến độ, giám sát. Tất cả nhằm hướng tới mục tiêu nhất quán: Môi trường trong lành cho Nhân dân, nền kinh tế xanh - carbon thấp - tuần hoàn, quốc gia an toàn trước rủi ro khí hậu, hiện thực hóa tầm nhìn phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Cách tiếp cận này chuyển từ tư duy “xử lý hậu quả” sang quản trị phát triển dựa trên giới hạn sinh thái, coi môi trường là thước đo chất lượng tăng trưởng, là một cấu phần của năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong đó nhấn mạnh yêu cầu “xanh hóa” mô hình tăng trưởng trên nền tảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại, khẳng định không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng ngắn hạn, phù hợp với xu hướng phát triển bền vững của thời đại số và hội nhập sâu rộng.

4. Quan điểm và định hướng một số giải pháp triển khai Nghị quyết BVMT trong giai đoạn tới

Trên cơ sở nền tảng Nghị quyết Đại hội XIV, kế thừa, phát huy các kết quả đạt được của tổng kết 12 năm triển khai Nghị quyết 24/NQ-TW, một số nội dung, quan điểm, giải pháp cho Nghị quyết mới về BVMT của Trung ương như sau:

Về quan điểm:

Thứ nhất, BVMT và ứng phó với BĐKH là trụ cột của phát triển đất nước trong giai đoạn mới; là điều kiện nền tảng và động lực của tăng trưởng nhanh, bền vững. Đầu tư cho BVMT và ứng phó với BĐKH là đầu tư cho phát triển bền vững.

Thứ hai, kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; phát triển trong giới hạn sinh thái, trong ngưỡng sức chịu tải của môi trường; kiểm soát tổng tải lượng phát thải; chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái môi trường và BĐKH. Thực hiện phân loại dự án đầu tư, cơ sở sản xuất theo mức độ rủi ro gây tác động xấu đến môi trường để áp dụng cơ chế quản lý tương ứng.

Thứ ba, ứng phó với BĐKH là nhiệm vụ chiến lược, cấp bách và lâu dài; là nội dung trọng yếu bảo đảm an ninh phi truyền thống và phát triển bền vững đất nước. Chủ động thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái, lấy con người làm trung tâm, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, sinh kế và bản sắc văn hóa. Kiên định mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Thực hiện chuyển đổi xanh toàn diện; phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế các-bon thấp; thúc đẩy tiêu dùng xanh, lối sống xanh; coi giảm phát thải khí nhà kính là động lực của tăng trưởng.

Thứ tư, đổi mới căn bản phương thức quản lý môi trường, khí hậu thông qua chuyển đổi số, khoa học và công nghệ; đổi mới sáng tạo. Chuyển từ tiền kiểm sang quản lý rủi ro có kiểm soát, lấy mức độ rủi ro môi trường làm cơ sở áp dụng công cụ quản lý. Chuyển từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại, dựa trên dữ liệu số, theo thời gian thực và theo kết quả; kiểm soát tổng thể theo vùng, theo sức chịu tải và tổng tải lượng phát thải.

Thứ năm, BVMT và ứng phó với BĐKH là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, của mỗi người dân và toàn xã hội. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo; doanh nghiệp là động lực; người dân là trung tâm; cộng đồng là chủ thể tham gia thực hiện.

Trên cơ sở quan điểm đó, một số giải pháp thực hiện Nghị quyết mới về bảo vệ môi trường, ứng phó BĐKH cần được ưu tiên thực hiện bao gồm:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của các đoàn thể trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu

Các cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp chính quyền phải quán triệt sâu sắc quan điểm bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ trung tâm và chỉ đạo quyết liệt việc triển khai thực hiện Nghị quyết; tổ chức xây dựng và thực thi hiệu quả chính sách, pháp luật; khắc phục triệt để quan điểm coi trọng tăng trưởng kinh tế trước mắt mà xem nhẹ các lợi ích lâu dài về môi trường.

Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội, hiệp hội nghề nghiệp và cộng đồng trong tham gia xây dựng, phản biện chính sách; giám sát việc thực thi pháp luật; phát hiện, tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện và nhân rộng các mô hình tốt, cách làm hiệu quả. Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị, bảo đảm sự tham gia rộng rãi, thực chất của người dân, doanh nghiệp và xã hội trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Bảo đảm tính bao trùm, công bằng xã hội trong quá trình chuyển đổi xanh; thực hiện nhất quán nguyên tắc “chuyển đổi công bằng”, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn xã hội về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu gắn với xu thế chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp, phục hồi hệ sinh thái, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững, phát thải ròng bằng 0.

Triển khai hiệu quả các phong trào bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, lan tỏa các thực hành sống xanh, tiêu dùng bền vững trong cộng đồng; thay đổi hành vi, chuyển từ nhận thức sang hành động cụ thể, thiết thực. Xây dựng, phổ biến văn hóa môi  trường với các giá trị, chuẩn mực xanh trong sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức quản lý môi trường

Thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về BVMT và ứng phó vớiBĐKH. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu theo hướng luật quy định khung, ổn định, lâu dài; chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" gắn với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật theo hướng tiệm cận với quốc tế, phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam, tạo động lực đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi xanh, thúc đẩy hợp tác công - tư và huy động nguồn lực xã hội cho ứng phó với biến đổi khí hậu.

Đổi mới căn bản tư duy và công cụ quản lý theo hướng hiện đại, tích hợp, đồng bộ, hiệu quả thực chất.

Hoàn thiện hệ thống phân cấp, phân quyền rõ ràng, hợp lý; làm rõ vai trò, trách nhiệm của bộ, ngành, địa phương; xác định trách nhiệm cụ thể của người đứng đầu trong xử lý ô nhiễm, kiểm soát nguồn thải, bảo đảm chất lượng môi trường trên địa bàn.

Lấy công cụ kinh tế làm đòn bẩy chủ đạo trong điều tiết hành vi môi trường. Hoàn thiện các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; đẩy mạnh áp dụng các công cụ kinh tế (thuế, phí môi trường) để điều tiết hành vi và khuyến khích sản xuất, tiêu dùng bền vững…

Thiết lập hệ thống chỉ tiêu, chỉ số (KPI) về môi trường, khí hậu gắn với đánh giá hiệu quả quản trị quốc gia, ngành, địa phương; công khai kết quả thực hiện, bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình. Lấy kết quả cải thiện chất lượng môi trường làm thước đo cao nhất, là căn cứ đánh giá hiệu quả quản lý môi trường

Thứ ba, giải quyết có trọng tâm, trọng điểm các vấn đề môi trường bức xúc, cải thiện chất lượng môi trường sống

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả của đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường, đăng ký môi trường, kiểm tra, thanh tra, giám sát tuân thủ pháp luật về môi trường… Tăng cường năng lực quan trắc, giám sát, dự báo, cảnh báo ô nhiễm môi trường.

Ưu tiên phát triển đồng bộ hạ tầng bảo vệ môi trường, nhất là hạ tầng thu gom, xử lý nước thải đô thị, chất thải rắn sinh hoạt; đẩy mạnh phân loại chất thải tại nguồn, tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng từ chất thải; giảm mạnh tỷ lệ chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt; hình thành các khu liên hợp tái chế, xử lý chất thải quy mô lớn, có tính liên vùng, liên tỉnh. Thúc đẩy mạnh mẽ tuần hoàn, tái sử dụng chất thải làm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu thay thế tài nguyên thiên nhiên. Nghiên cứu, phát triển công nghệ tái chế, xử lý các loại chất thải từ quá trình chuyển đổi xanh.

Nâng cao chất lượng môi trường sống của người dân thông qua cung cấp nước sạch, dịch vụ vệ sinh môi trường, không gian xanh, cây xanh, hạ tầng sinh thái, hạ tầng chống chịu khí hậu nhất là đối với các nhóm yếu thế như người khuyết tật, người nghèo, trẻ em, đồng bào dân tộc thiểu số, khu vực biên giới, hải đảo…

Thứ tư, chủ động thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu; giảm thiểu rủi ro thiên tai, nâng cao mức độ an toàn của người dân

Đẩy mạnh quản trị rủi ro dựa trên dự báo và dữ liệu lớn, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Nâng cấp năng lực đánh giá, giám sát khí hậu, dự báo khí tượng thủy văn, cảnh báo sớm thiên tai ngang tầm các nước phát triển khu vực châu Á. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quản lý thông tin dữ liệu và giám sát biến đổi khí hậu.

Chú trọng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng có khả năng chống chịu cao với thiên tai và biến đổi khí hậu; hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật thích ứng với biến đổi khí hậu. Triển khai các giải pháp thích ứng đặc thù theo vùng, dựa vào hệ sinh thái; chủ động di dời dân cư khỏi khu vực có nguy cơ cao; bảo đảm sinh kế bền vững cho người dân. Tập trung giảm thiểu thiệt hại do thiên tai tại trung du, miền núi phía Bắc, duyên hải miền Trung.

Xây dựng hệ thống quốc gia về đánh giá tổn thất và thiệt hại do biến đổi khí hậu. Nghiên cứu cơ chế tài chính hỗ trợ tổn thất và thiệt hại, bảo đảm hỗ trợ kịp thời, hiệu quả cho người dân và địa phương bị ảnh hưởng. Đẩy mạnh xã hội hóa, thương mại hóa dịch vụ khí hậu, thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính, phát triển thị trường các-bon

Tái cấu trúc các ngành kinh tế theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp hướng tới mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Phát triển lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất xanh, trung hòa các-bon.

Thúc đẩy, phát triển mạnh mẽ kinh tế tuần hoàn trong các ngành, lĩnh vực; hình thành và phát triển ngành công nghiệp tái chế. Thực hiện chuyển dịch năng lượng theo hướng công bằng và bền vững; phát triển mạnh năng lượng tái tạo và các công nghệ phát thải thấp, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững, có cơ chế tạo động lực cho các thực hành thân thiện với môi trường trong sản xuất, phân phối, tiêu dùng thực phẩm.

Thúc đẩy đổi mới công nghệ, sản xuất sạch hơn, các mô hình công nghiệp xanh, xây dựng xanh, giao thông xanh, nông nghiệp phát thải thấp, đô thị các-bon thấp; phát triển sản xuất, tiêu dùng bền vững và lối sống xanh trong xã hội.

Triển khai thực hiện đồng bộ, linh hoạt các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính trong các ngành, lĩnh vực phù hợp với tình hình phát triển đất nước và sự hỗ trợ của quốc tế. Kiểm soát chặt chẽ phát thải khí nhà kính ngay từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư dự án; hoàn thiện hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định theo tiêu chuẩn quốc tế.

Quản lý chặt chẽ hoạt động trao đổi tín chỉ các-bon, chủ động hội nhập và tham gia sâu vào mạng lưới các-bon toàn cầu. Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn tín chỉ các-bon nội địa có khả năng liên thông và tương thích với các thị trường quốc tế lớn. Giảm phát thải không chỉ trong sản xuất mà trong toàn bộ vòng đời sản phẩm và hoạt động tiêu dùng của xã hội.

Thứ sáu, áp dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong BVMT, ứng phó BĐKH

Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ chiến lược trong bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, tập trung vào giám sát, đánh giá, phân tích và cảnh báo môi trường; tái chế, xử lý chất thải; cải tạo, phục hồi môi trường và bảo tồn hệ sinh thái; phát triển năng lượng sạch, giảm phát thải khí nhà kính; quan trắc, dự báo, cảnh báo sớm, giám sát phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu, quản lý rủi ro thiên tai. Thúc đẩy phát triển công nghệ thu hồi, lưu giữ và tái sử dụng các-bon. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cácbon thấp và trung hòa các-bon trong các ngành, lĩnh vực phát thải lớn.

Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường, khí hậu quốc gia thống nhất, đồng bộ, liên thông, tích hợp, cập nhật theo thời gian thực; chuẩn hóa dữ liệu, chuẩn hóa quy trình thu thập, lưu trữ, khai thác, chia sẻ, sử dụng dữ liệu; bảo đảm dữ liệu thực sự trở thành hạ tầng phục vụ chỉ đạo, điều hành, giám sát, dự báo, hoạch định chính sách và công khai thông tin cho người dân, doanh nghiệp. Thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và liên thông dữ liệu trong trong quản trị môi trường, khí hậu.

5. Kết luận

Sau hơn một thập kỷ triển khai thực hiện, Nghị quyết số 24-NQ/TW đã khẳng định vai trò là một dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới tư duy của Đảng về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nghị quyết đã tạo nền tảng chính trị quan trọng cho việc hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật; nâng cao nhận thức xã hội; từng bước cải thiện hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường, tài nguyên và khí hậu; góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

Tuy nhiên, bối cảnh phát triển hiện nay đã có những thay đổi sâu sắc so với thời điểm ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW. Những yêu cầu mới về phát triển nhanh và bền vững, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, trung hòa các-bon, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh sinh thái và nâng cao năng lực chống chịu quốc gia đang đặt ra những nhiệm vụ mới cả về nhận thức, thể chế và tổ chức thực hiện. Đồng thời, các cam kết quốc tế về khí hậu, sự hình thành các tiêu chuẩn môi trường thế hệ mới trong thương mại và đầu tư toàn cầu, cùng những tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu đòi hỏi Việt Nam phải có cách tiếp cận toàn diện và hiện đại hơn đối với công tác bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành một Nghị quyết mới của Trung ương về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là yêu cầu khách quan, cấp thiết và có ý nghĩa chiến lược. Nghị quyết mới cần kế thừa những thành quả và giá trị cốt lõi của Nghị quyết số 24-NQ/TW, đồng thời bổ sung những tư duy mới, mục tiêu mới và giải pháp mới phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; coi bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu không chỉ là nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên thiên nhiên mà còn là động lực của tăng trưởng xanh, là nền tảng của phát triển bền vững, là yếu tố bảo đảm an ninh phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.

Đây sẽ là cơ sở chính trị quan trọng để huy động sức mạnh của toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội trong thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, thịnh vượng và hạnh phúc vào giữa thế kỷ XXI.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
4. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026), Báo cáo tổng kết 12 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW.
5. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2024), Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, Hà Nội.
6. Cục Biến đổi khí hậu (2023), Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam (cập nhật 2023), MONRE, Hà Nội.
7. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2020), Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.
8. Thủ tướng Chính phủ (2021), Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
9. Thủ tướng Chính phủ (2022), Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050.
10. Chính phủ (2022), Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn.
11. Chính phủ (2025), Báo cáo quốc gia về khí hậu và tăng trưởng xanh.
12. IPCC (2023), Climate Change 2023: Synthesis Report, Intergovernmental Panel on Climate Change, Geneva.
13. United Nations Environment Programme (UNEP) (2025), Global Environment Outlook, Nairobi.
14. United Nations (2024), The Sustainable Development Goals Report 2024, New York.
15. World Bank (2022), Country Climate and Development Report: Vietnam, Washington D.C.
16. World Economic Forum (2025), The Global Risks Report 2025, Geneva.
17. United Nations Framework Convention on Climate Change (UNFCCC) (2015), Paris Agreement, Bonn.

TS. Nguyễn Song Tùng Viện trưởng Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững
Nguồn bài viết: Trang Thông tin điện tử Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững
Tin xem nhiều
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1