Sự thay đổi cán cân lực lượng và phản ứng của chính trường Mỹ với Cuộc tiến công chiến lược năm 1972
1. Mở
đầu
Bước vào năm cuối cùng của nhiệm kỳ tổng
thống đầu tiên, những cam kết về việc đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh Việt
Nam, điều đã giúp Tổng thống Nixon thắng cử, vẫn còn là một vấn đề mơ hồ. Chi
phí cho cuộc chiến tranh ngày càng leo thang mà không đem về một chiến thắng
quyết định nào. Thêm vào đó, thế giằng co kéo dài trên bàn đàm phán đã khiến
cho nước Mỹ mệt mỏi và dần mất kiên nhẫn đối với các hứa hẹn của Tổng thống
Nixon. Đầu năm 1972, Nhà Trắng tiếp tục nhận những tin không vui từ chiến
trường đưa về khi quân đội Mỹ và đồng minh phải ứng phó lại với cuộc tiến công
chiến lược năm 1972 của lực lượng cách mạng Việt Nam. Có thể nói, cuộc tiến
công chiến lược 1972 không chỉ đem về chiến thắng to lớn về mặt quân sự, tạo
chuyển biến căn bản cục diện chiến tranh cho lực lượng cách mạng Việt Nam, mà
còn góp phần phân hoá sâu sắc hơn chính trường nước Mỹ.
2. Cuộc
tiến công chiến lược năm 1972 và sự thay đổi cán cân lực lượng
Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 như cách
gọi của Quân đội nhân dân Việt Nam hay được biết đến rộng rãi trong giới quân
sự và học giả quốc tế với khái niệm “Easter Offensive” là một trong những dấu
mốc quan trọng, đánh dấu bước phát triển quyết định của lực lượng cách mạng
Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).
Những chuyển biến nhanh chóng và có lợi cho
quân đội cách mạng trên chiến trường trong năm 1971 đã đẩy mạnh quyết tâm của
Quân ủy Trung ương trong việc sớm giành thắng lợi quyết định. Nghị quyết của
Quân ủy Trung ương tháng 06/1971 nhấn mạnh: “Tình hình đang chuyển biến mau lẹ,
đòi hỏi ta phải có sự cố gắng cao nhất, tranh thủ thời gian, khắc phục khó
khăn, nhược điểm để xây dựng thế và lực của ta trên chiến trường lên nhanh hơn
nữa, kịp thời nắm lấy thời cơ, hành động bất ngờ, giành lấy thắng lợi cao nhất,
buộc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh, rút hết quân, đánh cho ngụy quân, ngụy quyền
tan rã, sụp đổ một bước quan trọng”[1].
Đầu năm 1972, tình hình quốc tế diễn biến
phức tạp, đặc biệt là sau chuyến công du của Tổng thống Nixon tại Thượng Hải
dẫn đến các thay đổi về chiến lược ngoại giao của Nhà Trắng đối với các nước
Liên Xô và Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị càng quyết tâm hơn về việc
thực hiện một cuộc tiến công chiến lược nhằm đánh bại cơ bản chiến lược “Việt
Nam hoá chiến tranh”.
Sau 9 tháng chuẩn bị (từ tháng 6/1971 đến
tháng 3/1972), miền Bắc đã tăng cường một khối lượng lớn trang bị kỹ thuật bao
gồm cả xe tăng và pháo cơ giới, đặc biệt là tăng viện 5,5 vạn cán bộ vào chiến
trường miền Nam. Đầu tháng 3/1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương căn cứ vào chủ
trương chiến lược của Bộ Chính trị và thực tế chiến trường đã quyết định tiến
hành một cuộc tiến công chiến lược trong năm 1972 trên toàn miền Nam. Hướng
tiến công chủ yếu là chiến trường Trị - Thiên, các chiến trường Đông Nam Bộ,
Tây Nguyên, Khu V là hướng phối hợp để đem về thắng lợi cho toàn chiến dịch.
Trên mặt trận Trị - Thiên, lực lượng cách
mạng xác định rõ mục tiêu phối hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng
nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đánh bại kế hoạch “bình định” của
địch, giải phóng phần lớn địa bàn Trị - Thiên, khi có điều kiện thì giải phóng
toàn bộ hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, giành thắng lợi cho cuộc tiến công
chiến lược năm 1972. Sau 3 tháng chiến đấu (từ ngày 30/3/1972 đến ngày
27/06/1972), mặc dù có sự yểm trợ của không quân và lực lượng thủy quân lục
chiến của Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hoà vẫn phải chịu những tổn thất nặng nề
về người và vũ khí, trong đó 27.000 quân bị chết và bị thương, 340 máy bay bị
phá hủy, hàng nghìn súng bộ binh và khẩu pháo bị tịch thu. Đến ngày 02/5/1972,
toàn bộ tỉnh Quảng Trị và 3 xã thuộc huyện Hướng Điền (tỉnh Thừa Thiên) được
giải phóng[2].
Mặt trận Tây Nguyên giữ vai trò là hướng
phối hợp nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch và phương tiện chiến tranh
quan trọng, giải phóng tỉnh Kon Tum, bảo vệ tuyến đường vận chuyển chiến lược,
kìm giữ một bộ phận quân chủ lực Việt Nam Cộng hoà tạo điều kiện cho các tỉnh
đồng bằng đẩy mạnh đánh phá “bình định”. Chỉ sau hơn 2 tháng (từ ngày 30/3/1972
đến ngày 5/6/1972), lực lượng cách mạng đã thu được kết quả đáng kể, loại khỏi
vòng chiến đấu 3.800 tên, bắt giữ 3.604 tên, bắn cháy 849 xe quân sự và bắn rơi
hàng trăm máy bay các loại, đồng thời còn giải phóng một vùng đất đai rộng lớn
với hàng vạn đồng bào[3].
Trên mặt trận Đông Nam Bộ, Trung ương Cục,
Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền mở chiến dịch tiến công mang mật danh Nguyễn Huệ
nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch trên hướng bắc Sài Gòn, giải phóng khu
vực Bình Long, Phước Long và một số vùng đệm ở Tây Ninh và Bình Dương, tạo thế
đứng chân đưa chủ lực Miền từ ngoài biên giới về Nam Bộ, phối hợp với các hướng
tiến công chiến lược khác, thu hút và kìm chân quân chủ lực Sài Gòn, tạo điều
kiện cho nhân dân đồng bằng sông Cửu Long nổi dậy đánh phá “bình định”. Chiến
dịch Nguyễn Huệ được diễn ra từ ngày 01/4/1972 đến ngày 19/01/1973. Đây được
xem là chiến dịch tiến công hợp đồng binh chủng có quy mô lớn nhất ở chiến
trường Nam Bộ cho đến thời điểm đầu năm 1973. Mặt trận Đông Nam Bộ cũng thu
được những kết quả to lớn, đánh thiệt hại nặng 16 tiểu đoàn chủ lực, 3 trung
đoàn thiết giáp, 30 đại đội pháo và nhiều đơn vị quân địa phương của địch; bắt
hơn 5.000 tù binh, phá hỏng 897 máy bay các loại, 1.000 xe quân sự, 250 khẩu
pháo, 200 tàu xuồng chiến đấu cùng một số lượng lớn các vũ khí, đạn dược, nhiên
liệu[4].
Những thắng lợi liên tiếp của quân đội cách
mạng trên khắp các mặt trận đã làm thay đổi cán cân lực lượng theo hướng có lợi
cho ta. Chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng
hoà đứng trước nguy cơ hoàn toàn phá sản. Trong thời điểm quyết định, khi cả
hai bên đều tìm kiếm một thắng lợi quân sự nhằm tạo lợi thế đàm phán trên bàn
hội nghị, thì những thiệt hại mà quân đội Việt Nam Cộng hoà và Mỹ phải đối diện
trong cuộc tiến công chiến lược này rõ ràng là một tín hiệu xấu. Những hy vọng
của Mỹ vào khả năng chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng hoà gần như bị sụp đổ.
Đánh giá về năng lực của các lực lượng
trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, Grabriel Kolko đã thẳng thắn nhận
định: “Hoàn toàn rõ ràng là Quân đội nhân dân Việt Nam đã đi được một chặng
đường dài, đã học được nhiều, tuy chưa đủ, trong khi quân đội Việt Nam Cộng hoà
không có tiến bộ nào. Hoạt động của họ ở Lào năm 1971 và cách đối phó còn tồi
hơn năm 1972 là những triệu chứng của một căn bệnh trầm kha của họ”[5].
3. Sự phân hoá trong chính trường Mỹ
Một trong những nguyên nhân dẫn tới thiệt
hại lớn của quân đội Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hoà trong cuộc tiến công
chiến lược năm 1972, như nhiều nhà nghiên cứu phân tích, là do Mỹ tuy biết được
thông tin về cuộc tiến công nhưng không đoán được thời điểm, quy mô và địa điểm
của cuộc tiến công. Hay như một đánh giá của W.R. Baker, cuộc tiến công chiến
lược năm 1972 là một thất bại trong việc sử dụng tình báo của lực lượng Mỹ và
đồng minh[6]. Ngay từ khi cuộc tiến công bắt đầu,
chính giới Mỹ đã thể hiện những khác biệt sâu sắc khi nhận định về chiến lược này.
Trong khi Nhà Trắng cho rằng “cuộc tiến công sẽ không đảo lộn được chiến lược
cơ bản là áp dụng sức ép ngoại giao, Việt Nam hoá, và đe doạ leo thang”, thì
tướng Creighton Abrams đã hiểu chính xác về mục tiêu của cuộc tiến công là thí
nghiệm cơ bản để đo lường sự thành công hay thất bại của chiến lược Việt Nam
hoá[7].
Phân tích về ảnh hưởng của cuộc tiến công
chiến lược năm 1972, nhà nghiên cứu Gabriel Kolko đã chỉ ra, “cuộc tiến công
của Quân đội nhân dân Việt Nam đã dấy lên tại Nhà Trắng vấn đề cơ bản của lòng
tin đối với cả chính sách ngoại giao hoà dịu lẫn sức mạnh toàn cầu của Mỹ”[8]. Thực chất, vấn đề này không mới và nó đã
bắt đầu nhen lên ngay từ khi Mỹ can thiệp vào miền Nam Việt Nam và đặc biệt
tăng cao khi quân đội Mỹ tham chiến trực tiếp trên chiến trường. Cựu quân nhân
Mỹ Karl Marlantes khi viết bài trên New York Times đã khẳng
định cuộc chiến tranh Việt Nam đã “giết chết” niềm tin của người Mỹ giành cho
chính phủ của họ[9].
Thực tế, không phải không có “những cái đầu
tỉnh táo” trong chính giới Mỹ trong những năm 1960-1970. Kết cục xấu cho nước
Mỹ khi ngày càng can thiệp sâu vào cuộc chiến tranh Việt Nam đã được nhìn ra và
dự báo sớm bởi George Ball, Thứ trưởng Ngoại giao trong chính quyền của Tổng
thống Lyndon B. Johnson. Trong văn thư gửi Tổng thống Johnson ngày 01/7/1965,
ông Ball viết: “… Không ai có thể bảo đảm với Tổng thống rằng chúng ta có thể
đánh bại được Việt Cộng hay ngay cả buộc họ đến bàn hội nghị theo điều kiện của
chúng ta, cho dù chúng ta có dàn ra cả trăm ngàn quân da trắng, ngoại quốc”[10].
Tuy nhiên, khát vọng về một cuộc “rút lui
trong danh dự” đã làm cho ông chủ tiếp theo của Nhà Trắng, Richard Nixon, quên
đi các cố vấn và kinh nghiệm trong chính quyền tiền nhiệm của mình. Leo thang
chiến tranh vẫn là chiến thuật mà Tổng thống Nixon theo đuổi trong suốt cuộc
tiến công chiến lược năm 1972. Số tàu hải quân đậu ngoài khơi Việt Nam vào cuối
tháng 5/1972 đã đạt đỉnh cao nhất trong suốt cuộc chiến và số máy bay B.52 cũng
được tăng gấp đôi trong vòng hai tháng.
Trái với Madman Nixon, Bộ
trưởng Quốc phòng Mỹ, Melvin Laird, tỏ ra thận trọng hơn trong các chiến lược
quân sự. Ông phản đối xu hướng leo thang và tiếp tục tìm cách đưa quân đội Mỹ
ra khỏi Việt Nam. Ngay khi đảm nhiệm trọng trách Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thay
cho tướng William Wesmoreland, đề xuất xin tăng quân trước đó của Westmoreland
nhanh chóng bị ông loại bỏ. Chính sách cắt giảm quân Mỹ trên chiến trường được
thực hiện ngay cả trong quá trình diễn ra cuộc tiến công chiến lược. Hơn 27.000
quân Mỹ đã được đưa ra khỏi Việt Nam trong tháng 4/1972[11].
Có quan điểm tương tự như Bộ trưởng Quốc
phòng Melvin Laird, Ngoại trưởng Hoa Kỳ William Rogers cũng đánh giá một cách
thận trọng về cuộc chiến của Mỹ ở miền Nam Việt Nam và năng lực của quân đội
Việt Nam Cộng hoà. Trong cuộc điện đàm với Nhà Trắng ngày 05/4/1972, ông bày tỏ
lo lắng về những biểu hiện trên chiến trường của quân đội Sài Gòn cũng như lo
ngại về vấn đề sẽ có ngày càng nhiều hơn các tù binh quân sự Mỹ khi các máy bay
bị bắn rơi. Tuy nhiên, trước chia sẻ đó, vị Tham mưu trưởng của Nhà Trắng, Harry
Haldeman, người nhận cuộc gọi từ Rogers, ghi chú lại rằng: “đây rõ ràng là một
suy nghĩ tiêu cực và gần như không cần thiết phải đặt ra”[12].
Trong khi đó, tướng Creighton Abrams, Tư
lệnh các lực lượng viễn chinh Mỹ tại miền Nam Việt Nam (12/1968-11/1972), đã tỏ
rõ những băn khoăn về khả năng và tinh thần chiến đấu của quân đội Sài Gòn
trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Nhận xét về lực lượng này, mặc dù
dành sự tin tưởng nhất định cho lực lượng chỉ huy quân sự Việt Nam Cộng hoà,
nhưng ông cũng thể hiện rõ sự thất vọng với phần đông lực lượng quân đội Sài
Gòn. Trong cuộc thảo luận với tướng Cao Văn Viên, ông nói: “Vũ khí trang bị
không phải là cái các ông cần. Điều các ông cần là ý chí chiến đấu… Tôi không
cho rằng các ông đã mất xe tăng do hoả lực của kẻ thù. Tất cả xe tăng đã mất
trong thế kỷ 20 là bởi quân lính, dưới sự dẫn dắt của các chỉ huy, đã từ bỏ
chúng. Hầu hết các pháo đã bị mất do quân lính từ bỏ và không chiến đấu”[13].
Những diễn biến nhanh chóng diễn ra trên
chiến trường miền Nam trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 với nhiều lý do
khác nhau không được cập nhật một cách đầy đủ về Nhà Trắng. Đánh giá thực tế
chiến trường vào tháng 5/1972, mặc dù tướng Abrams thừa nhận rằng: “Tóm tắt
tình hình kể từ ngày 30/3/1972, tôi phải báo cáo rằng, khi áp lực gia tăng và
trận chiến trở nên tàn khốc, giới lãnh đạo quân sự cao cấp bắt đầu trở nên lung
lay, trong một số trường hợp, đã bị phá vỡ. Trong nghịch cảnh, họ đang đánh mất
ý chí và không thể dựa vào việc dùng các phương tiện cần thiết để đứng vững và
chiến đấu”[14]. Tuy nhiên, khi trả lời cho câu hỏi
của Nhà Trắng “Liệu quân đội Việt Nam Cộng hoà có thể cầm cự được không?”,
tướng Abrams đã từ chối gửi bản báo cáo tình hình dài 06 trang mà Thiếu tướng
John Carley chuẩn bị, thay vào đó, chỉ gửi một câu trả lời ngắn gọn: “Với tôi,
có vẻ công việc này sẽ được hoàn thành”[15].
Đáng tiếc, những đánh giá lạc quan của
Abrams hay những người đồng quan điểm với ông tại Nhà Trắng đã không thành hiện
thực. Kể cả những tham vọng cuồng nộ của chính quyền Nixon, muốn đưa miền Bắc
Việt Nam về thời kỳ đồ đá bằng các cuộc ném bom rải thảm với chiến dịch
Linebacker II (18/12/1972 - 29/12/1972), cũng không thể thay đổi được cục diện
sa lầy của quân đội Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam.
Có thể thấy, quan điểm của chính trường Mỹ
về diễn tiến và tác động của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 là rất khác
nhau. Không chỉ phân hoá trong chính giới Mỹ, những khác biệt về quan điểm giữa
“phe diều hâu” và những cái đầu thực tế đã làm cho khoảng cách giữa chính quyền
và dư luận quần chúng ngày càng cách xa. Sự bi quan ngày càng sâu sắc với tình
hình miền Nam Việt Nam là kết quả mà các nhà quân sự và các chuyên gia Mỹ đã
chỉ ra khi phân tích về ảnh hưởng của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 đối
với Mỹ.
Dư luận Mỹ đã trở nên gay gắt hơn trước
hành động leo thang và kéo dài chiến tranh tại Việt Nam của chính quyền Nixon.
Theo kết quả điều tra của Viện Gallup, tỷ lệ những người cho rằng việc Mỹ tham
chiến ở Việt Nam là một hành động sai lầm đã tăng cao. Nếu trong nhiệm kỳ của
Tổng thống Johnson (1965-1968), con số này rơi vào khoảng 40%, thì dưới chính
quyền Nixon, tỷ lệ này đã tăng lên đến 60%[16]. Những kết quả của cuộc tiến công chiến
lược cũng tác động sâu sắc đến Quốc hội Mỹ, thể hiện rõ trong việc Quốc hội
mạnh tay cắt giảm viện trợ cho Việt Nam Cộng hoà trong các năm tài khoá
1973-1974 và 1974-1975.
4. Kết
luận
Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược
1972 cùng với kết quả của Điện Biên Phủ trên không (12/1972) đã thay đổi hoàn
toàn cục diện chiến trường, mang tới những lợi thế lớn cho lực lượng cách mạng
Việt Nam trên bàn đàm phán tại Paris. Cuộc tiến công chiến lược này không những
góp phần làm thất bại các dự định của Mỹ khi muốn dùng Liên Xô và Trung Quốc
tạo sức ép đối với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mà nó còn làm sâu sắc
hơn những chia rẽ trong chính giới Mỹ và hạ thấp chỉ số niềm tin của người dân
nước Mỹ và những người yêu chuộng hoà bình trên thế giới đối với chính quyền
Mỹ. Như Morris Dickstein đã viết: “Ở Việt Nam, chúng ta không chỉ
thua một cuộc chiến tranh và mất đi một tiềm lục địa, chúng ta cũng còn mất đi
lòng tự tin lan tràn khắp xã hội rằng, vũ khí và mục tiêu của Mỹ bằng cách nào
đó nối kết với công lý và đạo đức, không chỉ với sự theo đuổi quyền lực. Mỹ đã
thất bại về quân sự, nhưng ‘ý tưởng quốc gia’ của Mỹ, huyền thoại về nước Mỹ mà
chúng ta ấp ủ, còn bị một cú làm cho tiêu tan hơn… Việt Nam đã tước đi mất một
hình ảnh về quốc gia này mà chúng ta hết sức cần đến” [10].
Chú thích:
[1] Nghị quyết Quân ủyỷ Trung ương,
tháng 06/1971. Trích theo Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
(2013). Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, 1954-1975, Tập VII:
Thắng lợi quyết định năm 1972. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia, tr.29.
[2] Viện
Sử học (2003). Việt Nam những sự kiện lịch sử (1945-1975). Hà Nội:
Nxb. Giáo dục, tr.447.
[3] Tlđd,
tr.447-448.
[4] Bộ
Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013). Lịch sử Kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, 1954-1975, Tập VII: Thắng lợi quyết định năm 1972. Hà
Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia, tr.118-119, 208.
[5] Gabriel
Kolko (Nguyễn Tấn Cưu dịch) (2003). Giải phẫu một cuộc chiến
tranh. Hà Nội: Nxb Quân đội nhân dân, tr.500.
[6] W.R.
Baker (26/01/2016). “The Easter Offensive of 1972: A Failure to Use
Intelligence”, truy cập tại
https://smallwarsjournal.com/jrnl/art/the-easter-offensive-of-1972-a-failure-to-use-intelligence.
[7] Gabriel
Kolko (Nguyễn Tấn Cưu dịch) (2003). Giải phẫu một cuộc chiến
tranh. Hà Nội: Nxb Quân đội nhân dân tr.497.
[8] Tlđd,
tr.501.
[9] Karl
Marlantes (07/01/2017). “Vietnam: The War That Killed Trust”, The New
York Times, truy cập tại
https://www.nytimes.com/2017/01/07/opinion/sunday/vietnam-the-war-that-killed-trust.html.
[10] Memorandum for the President from George Ball
(01/7/1965). “A Compromise Solution in South Vietnam,” truy cập tại
https://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/pentagon4/doc260.htm.
[11] Gabriel Kolko (Nguyễn Tấn Cưu dịch) (2003). Giải
phẫu một cuộc chiến tranh. Hà Nội: Nxb. Quân đội nhân dân,
tr.500.
[12] Jeffrey Kimball (1998). Nixon’s Vietnam
War, University of Kansas, Kansas, tr.303.
[13] Lewis Sorley (1999). “Courage and Blood: South
Vietnam’s Repulse of the 1972 Easter Invasion”, Parameters Summer,
Vol.29, No.2: 38-56.
[14] Tlđd.
[15] Tlđd.
[16] Morris Dickstein (1977). Gates of
Eden: American Culture in the Sixties, New York: Basic Books,
tr. 271.
Avatar: https://special.nhandan.vn/cuoc-tien-cong-chien-luoc-nam-1972/index.html.